Bản án số 93/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 93/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 93/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 93/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 93/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
Số hiệu: | 93/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 04/03/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Phạm văn T Phan Hữu N |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG THÁP Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 93/2025/DS-PT
Ngày: 04 - 3 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.
- Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm;
Ông Nguyễn Chí Dững.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Lê Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Được – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 461/2024/TLPT-DS ngày
28/10/2024 về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2025/QĐ-PT ngày
13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Văn T, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Khóm An Tài, phường An Lộc, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng
Tháp.
- Bị đơn:
1. Phan Hữu N (Nhơn), sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp Phú Hòa A, xã Phú Thuận A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng
Tháp.

2
Người đại diện theo ủy quyền của anh Phan Hữu Nhân là: Ông Nguyễn
Công Định, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số 159/1/26, đường Trần Văn Đang, Phường
11, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày 28/02/2025).
2. Trịnh Thị Hồng Di, sinh năm 1980 (Chết 15/4/2024);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của chị Trịnh Thị Hồng Diệu là:
2.1. Phan Hữu N, sinh năm 1980;
2.2. Trần Ngọc L, sinh năm 1951 (Vắng mặt);
2.3. Phan Thị Ngọc Nh, sinh năm 2005 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp Phú Hòa A, xã Phú Thuận A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng
Tháp.
- Người kháng cáo: Anh Phan Hữu N là Bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Phạm Văn Tài trình bày:
Khoảng năm 2017 (Không nhớ ngày, tháng), ông có cho anh Phan Hữu
Nhân vay tiền nhiều lần, tổng cộng là 7.920.000.000đ, mục đích vay tiền là để anh
Nhân cho người khác vay lại. Trong số nợ 7.920.000.000đ, thì anh Nhân có gạt nợ
sang cho ông Trương Tấn Bửu 2.100.000.000đ. Số tiền này ông đã khởi kiện ông
Bửu và Tòa án đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa ông và ông Bửu.
Như vậy, anh Nhân còn nợ ông số tiền 5.820.000.000đ, anh Nhân có hứa chuyển
trả cho ông 220.000.000đ nên vào ngày 11/01/2018 anh Nhân có viết biên nhận
còn nợ ông số tiền gốc 5.600.000.000đ, lãi suất 1,5%/tháng, thỏa thuận là 3 đến 4
ngày trả nợ. Việc anh Nhân vay tiền không có thế chấp tài sản. Sau khi làm biên
nhận nợ thì anh Nhân không có trả vốn và đóng lãi cho ông. Ông nhiều lần đến
nhà yêu cầu anh Nhân trả số tiền vay còn nợ thì anh Nhân nói khi nào người ta trả
tiền cho anh Nhân thì anh Nhân mới trả lại tiền cho ông.
Ông có làm đơn tố giác anh Nhân về hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền của
ông tại Công an thành phố Hồng Ngự nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
thành phố Hồng Ngự trả lời cho ông là không có dấu hiệu tội phạm nên không
khởi tố hình sự. Ông có khiếu nại đến Công an Tỉnh nhưng đến nay không có trả
lời, không có kết quả và ông cũng không có làm đơn khiếu nại tiếp, chỉ khởi kiện
tại Tòa án yêu cầu anh Nhân trả tiền vay và không yêu cầu xử lý hình sự nữa.

3
Ông cho anh Nhân vay tiền chứ không có nhờ hoặc thuê anh Nhân làm
“cò”, trung gian lấy tiền của ông để cho vay lại. Số tiền hiện ông đang khởi kiện
vợ chồng anh Nhân tại Tòa là không bao gồm số tiền 220.000.000đ anh Nhân
hứa chuyển trả cho ông, lý do ông không yêu cầu, không kiện là do không có làm
biên nhận nợ, cũng không có người làm chứng.
Trong quá trình ông khởi kiện tại Tòa thì chị Trịnh Thị Hồng Diệu là vợ
anh Nhân đã chết nên ông có yêu cầu Tòa án đưa mẹ ruột chị Diệu là bà Trần
Ngọc Lệ, con ruột chị Diệu là Phan Thị Ngọc Nhiên vào tham gia tố tụng. Việc
anh Nhân trình bày ông đe dọa, uy hiếp anh Nhân viết biên nhận nợ là không
đúng. Biên nhận thứ hai có nội dung “ông cùng anh Nhân cùng có trách nhiệm
cùng thưa người ta” là do anh Nhân khai lấy tiền của ông cho người khác vay lại.
Khi ông đến gặp những người vay tiền của anh Nhân thì họ nói chỉ biết anh
Nhân, làm biên nhận nợ cho anh Nhân, không biết ông và có trả tiền thì trả cho
anh Nhân. Chị Loan còn lớn tiếng nói với ông như vậy nên ông muốn anh Nhân
phải có trách nhiệm đi đòi tiền họ để trả lại tiền cho ông, chứ không phải là nội
dung biên nhận là anh Nhân chỉ là người trung gian, đưa tiền vay dùm ông, ông
đưa tiền cho anh Nhân thì chỉ biết anh Nhân.
Vì vậy, ông yêu cầu anh Phan Hữu Nhân và người kế thừa quyền, nghĩa vụ
của chị Trịnh Thị Hồng Diệu là bà Trần Ngọc Lệ, chị Phan Thị Ngọc Nhiên có
trách nhiệm liên đới trả cho ông tiền vay gốc còn nợ 5.600.000.000đ, tiền lãi
5.600.000.000đ x 1,5%/tháng x 70 tháng (Tính từ ngày 11/01/2018 đến ngày
11/11/2023) = 5.880.000.000đ, tổng cộng gốc lãi 11.480.000.000đ.
- Bị đơn anh Phan Hữu Nhân trình bày:
Anh có quen biết với anh Trọng là con ruột của ông Phan Văn Tài. Anh
chưa từng vay tiền của ông Tài, không có nhận tiền gì của ông Tài để đem cho vay
lại. Không biết lý do ông Tài khởi kiện anh, yêu cầu trả số tiền 11.480.000.000đ.
Vào năm 2019 ông Tài có tố giác anh về hành vi mượn của ông Tài
5.600.000.000đ không trả. Tại Cơ quan điều tra thị xã Hồng Ngự (Nay là thành
phố Hồng Ngự) đã ra quyết định không khởi tố vụ án, xác định anh không có vay
tiền gì của ông Tài.
Vào ngày 11/01/2018 ông Tài có ép anh viết 02 biên nhận tại trại cá ông
Bửu thuộc huyện Tân Hồng với nội dung anh có nhận tiền của ông Tài để đưa cho
người khác vay lại với số tiền gốc 5.600.000.000đ, lãi suất 1,5%, không rõ lãi suất

4
1,5% là trên tháng hay trên năm và anh cùng ông Tài cùng có trách nhiệm thưa
người ta. Nội dung 02 biên nhận là ông Tài đọc cho anh ghi, do ông Tài đi cùng
nhiều người đứng bao quanh anh, ép anh viết biên nhận. Anh chỉ biết người đi
cùng ông Tài tên Tánh, cùng 4 người khác, không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, có
người làm chứng là ông Nguyễn Văn Sơn ở xã Tân Thành B, huyện Tân Hồng là
cháu bà con với ông Tài và ông Trương Tấn Bửu chứng kiến. Sau khi viết biên
nhận nợ cho ông Tài, anh có đến Công an huyện Tân Hồng trình báo, kết quả
Công an huyện Tân Hồng đã ra Quyết định không khởi tố hình sự đối với ông Tài
về tội bắt giữ người trái pháp luật, chứ không phải về hành vi đe dọa, ép anh ghi
biên nhận nợ tiền ông Tài. Anh không có khiếu nại về việc Công an huyện Tân
Hồng không xử lý hình sự ông Tài, cũng không có khởi kiện yêu cầu ông Tài trả
lại tờ biên nhận nợ ngày 11/01/2018, vì ông Tài đe dọa và nói gặp anh đâu giết đó
nên anh không dám đi kiện.
Tại Cơ quan điều tra, anh chỉ trình bày có đưa tiền dùm cho ông Tài, do ông
Tài và anh Trọng là cán bộ Nhà nước, không cho người khác vay tiền trực tiếp
được nên ông Tài đưa tiền cho anh, nhờ anh đứng ra cho vay dùm. Khi ông Tài
đưa tiền cho anh thì anh không có làm biên nhận nhận tiền của ông Tài. Sau khi
anh nhận tiền từ ông Tài nhiều lần, tổng cộng 5.600.000.000đ thì nhiều lần anh đã
đưa cho vợ chồng chị Phan Thị Loan, anh Nguyễn Trí Thông vay, với mức lãi suất
1,5%, không biết là lãi suất của ngày hay tháng hay năm. Anh Thông, chị Loan
làm biên nhận nợ tiền của anh, không có làm biên nhận cho ông Tài. Vì ông Tài,
anh Trọng không thể trực tiếp cho vay tiền. Anh Thông, chị Loan đưa tiền lãi cho
anh, rồi anh đưa lại cho vợ chồng ông Tài. Khi đưa tiền lãi cho vợ chồng ông Tài,
cũng như vợ chồng chị Loan đưa tiền lãi cho anh thì không có làm biên nhận,
không ai chứng kiến. Anh cũng không nhớ chị Loan, anh Thông đưa bao nhiêu
tiền lãi. Anh có yêu cầu chị Loan, anh Thông làm biên nhận nợ tiền cho ông Tài,
vì tiền vợ chồng chị Loan vay là của ông Tài nhờ anh cho vay dùm nhưng ông Tài
không đồng ý.
Anh khẳng định 02 biên nhận cùng ngày 11/01/2018 là do anh viết. Biên
nhận thứ nhất có nội dung anh nợ tiền ông Tài 5.600.000.000đ là không hợp pháp,
không có giá trị pháp lý. Biên nhận thứ hai có nội dung “tôi cùng ông Phạm Văn
Tài cùng chịu trách nhiệm cùng thưa người ta” là hợp pháp, có giá trị pháp lý, vì
biên nhận này chứng minh anh chỉ là trung gian đưa tiền dùm cho ông Tài chứ
không có vay tiền của ông Tài. Ông Tài nhờ anh cho vay dùm, không phải là anh

5
có trách nhiệm đòi tiền chị Loan, anh Thông dùm ông Tài hay anh có nghĩa vụ trả
tiền cho ông Tài nếu không đòi được tiền từ chị Loan, anh Thông. Anh chỉ là
người trung gian, “cò” đứng ra thay mặt ông Tài cho vay tiền chứ không phải vay
tiền từ ông Tài để cho người khác vay lại với mức lãi suất cao hơn để lấy tiền lời
chênh lệch.
Khi anh khởi kiện anh Trường trả lại số tiền vay 500.000.000đ, thì anh
không biết việc ông Tài trình bày có cho anh vay 7.920.000.000đ hay anh còn nợ
ông Tài 5.820.000.000đ. Anh có nhận được bản án sơ thẩm, phúc thẩm về việc
kiện anh Trường, anh có đọc bản án nhưng không có đọc lại lời khai của ông Tài.
Mỗi lần anh đứng ra cho vay tiền dùm thì ông Tài cho anh tiền uống cà phê
từ 500.000đ đến 1.000.000đ. Anh dùng tiền này để đổ xăng làm ruộng với anh
Trọng, không có đem tiền về cho gia đình, không có mua sắm tài sản. Lúc đó vợ
chồng anh sống thuận thảo, chị Diệu không biết việc anh hỗ trợ, giúp ông Tài
đứng ra cho vay tiền dùm.
Do đó, anh không đồng ý trả trả cho ông Tài tiền vay gốc còn nợ
5.600.000.000đ, tiền lãi 5.600.000.000đ x 1,5%/tháng x 70 tháng (tính từ ngày
11/01/2018 đến ngày 11/11/2023) = 5.880.000.000đ, tổng cộng gốc lãi
11.480.000.000đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của
chị Trịnh Thị Hồng Diệu gồm bà Trần Ngọc Lệ, chị Phan Thị Ngọc Nhiên đã
được Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng
bà Lệ, chị Nhiên vẫn không có mặt và không gửi văn bản ghi ý kiến của mình
cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của ông Tài.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án
nhân dân huyện Hồng Ngự đã xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Phạm Văn Tài. Buộc anh Phan Hữu
Nhân có trách nhiệm trả cho ông Phạm Văn Tài số tiền vay còn nợ
11.480.000.000đ (mười một tỷ bốn trăm tám mươi triệu đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn Tài, về việc buộc bà Trần
Ngọc Lệ, chị Phan Thị Ngọc Nhiên là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của chị
Trịnh Thị Hồng Diệu cùng anh Phan Hữu Nhân liên đới trả nợ.

6
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền,
nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/7/2024 anh Phan Hữu Nhân làm đơn kháng
cáo Bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét lại toàn bộ vụ án, sửa Bản
án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Tài.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
kháng cáo của mình, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến Viện
kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư
ký và các đương sự có mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
anh Phan Hữu Nhân, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Phạm Văn Tài yêu cầu anh Phan Hữu Nhân và những người kế thừa
quyền, nghĩa vụ chị Trịnh Thị Hồng Diệu là bà Trần Ngọc Lệ, chị Phan Thị Ngọc
Nhiên, anh Phan Hữu Nhân trả tiền vay còn nợ gốc là 5.600.000.000đ, tiền lãi
5.880.000.000đ, tổng cộng 11.480.000.000đ là có căn cứ. Bởi vì, căn cứ vào
“Biên nhận” ngày 11/01/2018 được anh Nhân thừa nhận do anh viết và ký tên có
nội dung:
“Tôi tên: Phan Hữu Nhân: sn 1980. ấp Phú Hòa xã Phú Thuận A – Hồng
Ngự - Đồng Tháp. SCMND 340971239. Có nhận số tiền của ông Phạm Văn Tài:
sn 1963 ngụ Khóm 4 phường An Thạnh TX Hồng Ngự - Đồng Tháp. Số tiền là
5.600.000.000 (Năm tỷ sáu trăm triệu đồng). Lãi suất 1,5 để đưa cho người ta vay
với mượn để đi lúa. Nếu tôi sai tôi chịu trách nhiệm với pháp luật”. Đồng thời, tại
Bản án số 32/2020/DS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự
và Bản án số 141/2021/DS-PT ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp đã có hiệu lực pháp luật thể hiện ông Tài đã trình bày anh Nhân còn nợ ông
Tài số tiền 5.600.000.000đ nhưng anh Nhân cũng không có ý kiến phản đối gì với

7
lời trình bày của ông Tài. Tại các biên bản ghi lời khai của anh Phan Hữu Nhân tại
Công an thành phố Hồng Ngự mà Tòa án thu thập được thì anh Nhân thừa nhận
biên nhận nợ ngày 11/01/2018 là do anh Nhân viết và ký tên nhưng do ông Tài đe
dọa, ép buộc anh Nhân ghi và thừa nhận có nhận tổng số tiền 5.600.000.000đ của
ông Tài là đưa tiền dùm. Cụ thể, là cho chị Phan Thị Loan (Phan Thị Kim Loan),
anh Nguyễn Trí Thông vay, không phải anh Nhân vay tiền của ông Tài với mức lãi
suất thấp để cho chị Loan, anh Thông vay lại với mức lãi suất cao hơn. Tuy nhiên,
anh Nhân thừa nhận anh Nhân là người trực tiếp giao tiền cho chị Loan, anh
Thông và vợ chồng chị Loan làm biên nhận nợ tiền của anh Nhân, không phải là
của ông Tài cũng như đến tháng trả tiền lãi thì chị Loan, anh Thông trực tiếp giao
cho anh Nhân. Đồng thời, anh Nhân không có chứng cứ chứng minh việc anh
Nhân cho vay tiền dùm ông Tài.
[2] Ngoài ra, anh Nhân thừa nhận cùng ngày 11/01/2018 anh có viết cho ông
Tài “Biên nhận” thứ hai thể hiện nội dung:
“Tôi tên: Phan Hữu Nhân: sn 1980. ấp Phú Hòa xã Phú Thuận A – Hồng
Ngự - Đồng Tháp. SCMND 340971239. Có nhận số tiền của ông Phạm Văn Tài sn
1963 ngụ Khóm 4 phường An Thạnh TX Hồng Ngự - ĐT. Số tiền là 5.600.000.000
(Năm tỷ sáu trăm triệu đồng). Lãi suất 1,5 để đưa cho người ta là Nguyễn Trí
Thông và Phan Thị Kim Loan với số tiền tôi cùng ông Phạm Văn Tài cùng chiệu
trách nhiệm cùng thưa người ta. Nay tôi làm giấy này cùng ông Phạm Văn Tài
thống nhất cho người ta vay mượn để đi lúa hoàn toàn là sự thật. Nếu không có
tôi hoàn toàn chịu pháp luật. Nếu ông Phạm Văn Tài có gì tôi nhờ pháp luật giải
quyết”.
Anh Nhân cho rằng ông Tài đe dọa, ép buộc anh viết và ký tên vào 02 biên
nhận nêu trên và biên nhận có nội dung “tôi cùng ông Phạm Văn Tài cùng chịu
trách nhiệm cùng thưa người ta” là có giá trị pháp lý. Biên nhận còn lại thì không
có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, cả 02 biên nhận đều không thể hiện nội dung anh
Nhân chỉ là người đứng ra cho vay dùm ông Tài.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 16/7/2018 của chị Phan Thị Kim Loan tại Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp trình bày “Tôi
không trực tiếp nhận tiền từ ông Bảy Tài, tôi đóng lãi cho anh Nhơn” và tại biên
bản ghi lời khai ngày 08/3/2019 anh Nguyễn Văn Sơn tại Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp trình bày là “có quen biết với ông

8
Nhân và ông Tài, không có thân thiết, nội dung chính của giấy biên nhận nói trên
là ông Tài có đưa cho Nhân 5.600.000.000đ để đưa cho người ta (không biết đưa
cho ai, hình thức đưa như thế nào), trong biên nhận này tôi làm chứng cho việc
ông Nhân có trách nhiệm thu hồi số tiền 5.600.000.000đ để trả lại cho ông Tài,
nếu ông Nhân không thực hiện được, ông Tài thưa ra pháp luật thì tôi sẽ làm
chứng nội dung vừa nêu, tôi nhớ giấy biên nhận này được ghi tại hầm cá của ông
Bửu vào buổi sáng sớm ngày 11/01/2018 ông Nhân điện thoại rủ tôi lên hầm cá
ông Bửu để làm giấy tiền, giao cho ông Bảy Tài, khi lên tới thì tôi thấy giữa Nhân,
Bửu và Tài có làm biên nhận gì đó. Xong rồi ông Tài nói với Nhân là của ông Bửu
xong rồi, tới tiền của Nhân mượn ông Tài, kêu Nhân làm biên nhận nợ, Nhân nói
tiền đã đưa cho người ta có làm biên nhận rồi, cần gì làm biên nhận nữa nên lúc
này Nhân chưa chịu làm biên nhận, lúc này tôi thấy tình hình cũng bình thường,
không căng thẳng, hai bên nói chuyện trao đổi như mọi khi (bình thường), tôi đi
dạo ra ngoài một chút quay vào thì thấy Nhân đã ghi xong biên nhận với ông Tài
nội dung đã nêu ở trên, rồi kêu tôi ký làm chứng ký tên vào biên nhận. Tình hình
lúc Nhân ghi biên nhận thì tôi không nghe cự cãi hay ai ép buộc Nhân ghi gì hết,
lúc đó tôi thấy có Tài, Nhân và 02 đứa cháu ông Tài đứng gần đó, không có thái
độ gì ép buộc Nhân ghi biên nhận với ông Tài”. Anh Nhân cũng không có chứng
cứ nào khác để chứng minh việc anh Nhân làm Biên nhận ngày 11/01/2018 là bị
đe dọa, ép buộc. Từ những cơ sở nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử buộc anh
Phan Hữu Nhân có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn Tài số tiền vay nợ gốc là
5.600.000.000đ, tiền lãi 5.880.000.000đ, tổng cộng 11.480.000.000đ là có căn cứ.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm anh Nhân cũng không cung cấp được chứng cứ
nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và phù hợp pháp
luật.
[3] Xét ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng
Tháp là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
anh Nhân, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Do giữ nguyên Bản án sơ thẩm nên anh Nhân phải chịu 300.000đ án phí dân
sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

9
Phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử
không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148, Điều 91, Điều 227, Điều 228
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều
27 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Phan Hữu Nhân.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 19/7/2024
của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Phạm Văn Tài.
+ Buộc anh Phan Hữu Nhân có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn Tài số tiền
vay còn nợ tổng cộng vốn, lãi là 11.480.000.000 đồng (Mười một tỷ bốn trăm tám
mươi triệu đồng).
+ Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn Tài về việc buộc bà Trần
Ngọc Lệ, chị Phan Thị Ngọc Nhiên là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của chị Trịnh
Thị Hồng Diệu cùng anh Phan Hữu Nhân liên đới trả nợ.
4. Về án phí:
Anh Phan Hữu Nhân phải chịu 119.480.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm,
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng
án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0006263 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi
hành án Dân sự huyện Hồng Ngự, số còn lại anh Nhân phải nộp tiếp là
119.480.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.

10
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN CHỦ TỌA
Đinh Chí Tâm – Nguyễn Chí Dững
Sỹ Danh Đạt
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 24/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 15/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm