Bản án số 746/2026/DS-PT ngày 03/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 746/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 746/2026/DS-PT ngày 03/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 746/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 23 tháng 5 năm 2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Nhựt H1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 746/2026/DS-PT Bản án số 746/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 746/2026/DS-PT Bản án số 746/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 746/2026/DS-PT
Ngày: 03-9-2026
V/v tranh chấp: “Hợp
đồng tín dụng hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán: Ông Trương Vĩnh Hữu
Nguyễn Ái Đoan
- Thư phiên tòa: Mai Gia Khánh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm t nhân dân tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ s404/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng
6 năm 2026 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 69/2026/DS-ST ngày 24 tháng 04 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1185/2026/QĐ-PT
ngày 01 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S).
Địa chỉ: số G T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ngô Thu H chức vụ: Tổng giám
đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Thanh N chức vụ: Phó giám
đốc chi nhánh phụ trách khách hàng nhân chi nhánh S (Theo văn bản ủy
quyền số: 406.1/2023/VBUQ-SHB ngày 19/07/2023).
Ông Trịnh Thanh N ủy quyền tham gia tố tụng (Theo Giấy ủy quyền số:
2
09/2025/UQ-SHB ngày 11/08/2025) cho:
1. Nguyễn Anh T - chức vụ: Chuyên viên XLN - Ngân hàng TMCP S.
2. Và/Hoặc Nguyễn Việt P chức vụ: Chuyên viên XLN Ngân hàng
TMCP S.
3. Và/Hoặc Trần Huỳnh L chức vụ: Chuyên viên XLN Ngân hàng
TMCP S.
4. Và/Hoặc Trần Thanh T1 chức vụ: Chuyên viên XLN Ngân hàng
TMCP S.
Cùng địa chliên hệ: số A N, Phường C, tỉnh Đồng Tháp. (có đơn xin
vắng mặt)
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm: 1967 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp A, A, tỉnh Đồng Tháp (ấp A, P, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp).
2. Bà Nguyễn Thị P2, sinh năm: 1969 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp E, xã T, tỉnh Đồng Tháp (khóm E, TT. T, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm: 2006 (con ông P1, bà P2);
Địa chỉ: ấp E, xã T, tỉnh Đồng Tháp (khóm E, TT. T, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp) (vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Nhựt H1, sinh năm: 1990 (con ông P1, bà P2);
Địa chỉ: ấp A, A, tỉnh Đồng Tháp (ấp A, P, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp) (xin vắng mặt).
3. Ông Phạm Phước G, sinh năm: 1964 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp E, xã T, tỉnh Đồng Tháp (khóm E, TT. T, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp).
- Người kháng cáo: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Nhựt H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (S) có đại diện theo ủy
quyền ông Trần Huỳnh L trình bày: Năm 2023 ông P1, P2 kết hợp
đồng vay với Ngân hàng theo Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số:
87/2023/HĐHM-CN/SHBC.131502 ngày 23/11/2023; Khế ước nhận nợ số:
3
02-87/2023/HĐHM-CN/SHBC.131502 ngày 22/02/2024, lãi suất vay
9,5%/1năm, s tiền vay gốc 1.660.000.000đồng, mục đích vay bổ sung vốn
nuôi cá lóc thịt. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ ông P1, P2 kết hợp đồng thế
chấp quyền s dụng đất số: 109/2021/HĐTC-CN/SHB.131502. Sau khi vay
ông P1, P2 vi phạm thời hạn trả nợ, mặc Ngân hàng nhắc nhở nhiều lần.
Nay Ngân hàng TMCP S (S) yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Buộc ông P1, P2 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến
ngày 23/04/2026 2.116.141.799đồng (trong đó: Nợ gốc: 1.660.000.000đồng;
nợ lãi trong hạn: 76.055.614đồng; nợ lãi qhạn: 380.086.185đồng). Đề nghị
tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từ
ngày 24/04/2026 cho đến ngày ông P1, bà P2 thanh toán toàn bộ khoản vay.
Yêu cầu công nhận các hợp đồng thế chấp sau để đảm bảo thi hành án:
- Hợp đồng thế chấp quyền s dụng đất số 109/2021/HĐTC-
CN/SHB.131502 ngày 03/12/2021, công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đồng
Tháp số công chứng 2437, quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD.
- Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
PL01-109/2021/HĐTC-CN/SHB.131502 ngày 02/03/2023 công chứng tại Văn
phòng C, tỉnh Đồng Tháp số công chứng 446, quyển số 01/2023 TP/CC-
SCC/HĐGD.
- Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
PL02-109/2021/HĐTC-CN/SHB.131502 ngày 23/11/2023 công chứng tại Văn
phòng C, tỉnh Đồng Tháp số công chứng 2877, quyển số 02/2023 TP/CC-
SCC/HĐGD.
Trường hợp ông P1, P2 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ
nợ cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng được quyền yêu cầu
quan thi hành án thẩm quyền biên, phát mại toàn bộ tài sản theo các hợp
đồng thế chấp nêu trên.
Trường hợp xử i sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì
ông P1, P2 phải tiếp tục trả nợ khoản vay cho Ngân hàng cho đến khi thanh
toán xong.
Bị đơn ông Nguyễn Văn P1 trình bày: Ông P1 không thống nhất theo yêu
cầu của Ngân hàng. Ông P1 chỉ thừa nhận số tiền nợ gốc là 1.500.000.000đồng,
còn lại 160.000.000đồng ông P1 không có nhận số tiền này do ông Hoàng A và
ông T2 (nhân viên Ngân hàng S chi nhánh H3 nhận). Ông P1 thừa nhận
tên Hợp đồng tín dụng từ ngày 23/11/2023 khế ước nhận nợ ngày
22/02/2024. Mục đích vay tiền của ông P1 là chăn nuôi lóc. Khi tên vào
4
khế ước nhận nợ ngày 22/02/2024 ông P1 không có đọc lại nội dung.
Ông P1 không thống nhất lãi suất của Ngân hàng đối với nợ lãi trong
hạn, lãi quá hạn đối với số tiền vay gốc 1.500.000.000đồng. Còn lại số tiền vay
160.000.000đồng ông P1 không nhận nên không thống nhất trả gốc lãi.
Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị P2 đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng
vắng mặt tại phiên toà không do đến nay không ý kiến gởi đến Toà
án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Nhựt H1 đơn xin
xét xử vắng mặt, có văn bản ý kiến như sau:
Vào năm 1993 ông P1, bà P2 có nhận chuyển nhượng diện tích 11.600m
2
đất tại T, tỉnh Đồng Tháp, sau khi được cấp giấy CNQSD đất thì ông P1,
P2 thế chấp giấy CNQSD đất vay tiền Ngân hàng, phần đất này cấp cho hộ
P2, trong đó anh H1 nhưng khi ông P1, P2 làm thủ tục thế chấp thì Ngân
hàng không thông báo cho anh biết, anh H1 không tên vào thủ tục vay
tiền tại Ngân hàng, người vào hồ thế chấp chỉ ông P1, P2, anh V.
Nhận thấy, phần đất nêu trên cấp cho hộ P2, anh H1 thành viên hộ nhưng
không có ký tên. Nay anh H1 yêu cầu huỷ hợp đồng thế chấp QSD đất nêu trên
giữa Ngân hàng và ông P1, bà P2. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quốc V đơn xin
xét xử vắng mặt, có văn bản ý kiến như sau:
Vào năm 1993 ông P1, bà P2 có nhận chuyển nhượng diện tích 11.600m
2
đất tại T, tỉnh Đồng Tháp, sau khi được cấp giấy CNQSD đất thì ông P1,
P2 vay tiền và thế chấp giấy CNQSD đất cho Ngân hàng, phần đất này cấp cho
hộ P2, trong đó anh V nhưng khi ông P1, P2 làm thủ tục thế chấp thì
Ngân hàng không thông báo cho anh biết, anh V không tên vào thủ tục
vay tiền tại Ngân hàng. Nay anh V yêu cầu huỷ hợp đồng thế chấp QSD đất nêu
trên giữa Ngân hàng với ông P1, bà P2 do thời điểm đó anh V mới 16 tuổi chưa
hiểu biết về hành vi, năng lực chịu trách nhiệm vmặt pháp trong hợp đồng
thế chấp nêu trên. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Phước G đơn xin
xét xử vắng mặt có văn bản ý kiến:
Ông G hiện đang thuê đất đang tranh chấp giữa các bên, nay các bên
phát sinh tranh chấp ông không ý kiến hay yêu cầu gì, ông đồng ý giao đất
nếu tòa tuyên buộc giao đất. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Tại bản án dân sự thẩm số 69/2026/DS-ST ngày 24 tháng 04 m
5
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 Đồng Tháp áp dụng Khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b
khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 157 của Bộ luật ttụng dân sự năm 2015;
Điều 317, 319 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 98 Luật các tổ chức tín
dụng; Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân snăm 2015; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S) đối với ông
Nguyễn Văn P1, bà Nguyễn Thị P2.
2. Buộc ông Nguyễn Văn P1, Nguyễn Thị P2 trách nhiệm liên đới
trả cho Ngân hàng TMCP S (S) số tiền nợ gốc lãi còn nợ tính đến ngày
23/04/2026 2.116.141.799đ (trong đó: Nợ gốc: 1.660.000.000đ; nợ lãi trong
hạn: 76.055.614đ; nợ lãi quá hạn theo Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số:
87/2023/HĐHM-CN/SHBC.131502 ngày 23/11/2023; Khế ước nhận nợ số:
02-87/2023/HĐHM-CN/SHBC.131502 ngày 22/02/2024. tiếp tục chịu lãi
phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã cho đến khi thanh toán xong toàn bộ s
nợ cho Ngân hàng TMCP S (S).
3. Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 109/2021/HĐTC-
CN/SHB.131502 ngày 03/12/2021, công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đồng
Tháp số công chứng 2437, quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD. Hợp đồng
sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PL01-
109/2021/HĐTC-CN/SHB.131502 ngày 02/03/2023 công chứng tại Văn phòng
C, tỉnh Đồng Tháp số công chứng 446, quyển s01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD.
Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PL02-
109/2021/HĐTC-CN/SHB.131502 ngày 23/11/2023 công chứng tại Văn phòng
C, tỉnh Đồng Tháp số công chứng 2877, quyển số 02/2023 TP/CC-SCC/HĐGD
giữa Ngân hàng ông Nguyễn Văn P1, Nguyễn Thị P2, anh Nguyễn Quốc
V. Trường hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Nguyễn Văn P1, bà
Nguyễn Thị P2 không thực hiện trả số tiền cho Ngân hàng TMCP S (S).
quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đã thế chấp trong hợp đồng nói trên để thi
hành theo quy định pháp luật.
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Nhựt H1, anh
Nguyễn Quốc V về việc yêu cầu huỷ hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số
109/2021/HĐTC-CN/SHB.131502 ngày 03/12/2021, công chứng tại Văn
phòng C, tỉnh Đồng Tháp số công chứng 2437, quyển số 02/2021 TP/CC-
6
SCC/HĐGD giữa Ngân hàng TMCP S (S) với ông Nguyễn Văn P1, Nguyễn
Thị P2, anh Nguyễn Quốc V.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 23 tháng 5 năm 2026, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Nhựt H1 đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cp phúc thm gii quyết
bao gm: Ông Nguyễn Nhựt H1 yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xem
xét huỷ ¼ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ,tổng diện tích 11.600m
2
, ông
H1 xin huỷ là 2.900m
2
trong số đất vì đây là đất hộ gia đình.
oTại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
đơn xin vắng mặt, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Nhựt H1
vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đơn xin vắng mặt. Các đương s
không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuân
thủ theo đúng quy định của pháp luật. Các đương sự cũng chấp hành theo đúng
quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Ngân hàng, anh H1, ông G có đơn xin
vắng mặt, các đương sự còn lại vắng mặt nhiều lần không rõ lý do.
- Về nội dung vụ án yêu cầu kháng cáo: Căn cứ tài liệu thu thập
trong hồ thì nguồn gốc hình thành tài sản thế chế chấp, do ông P1 P2
nhận chuyển nhượng (mua), thời điểm này anh H1 mới 4 tuổi nên không
công sức đóng góp trong việc hình thành khối tài sản này. Tại hồ sơ vay vốn và
thế chấp với Ngân hàng thì bà P2 cũng có đơn xin xác nhận thành viên trong hộ
thời điểm thế chấp, P2 không ghi tên anh H1. P2, ông P1 cũng không
thông báo cho ngân hàng biết anh H1 người cùng hộ. Do đó, xét nội dung
bản án sơ thẩm đã xét xử là căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử
phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồvụ án được
thẩm tra tại phiên tòa, nội dung yêu cầu kháng cáo của người quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan Nguyễn Nhựt H1, lời trình bày của các đương sự kết quả
tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ “tranh chấp dân
sự về hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sảncăn cứ,
đúng pháp luật. Sau khi xét xử thẩm thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên
7
quan Nguyễn Nhựt H1 kháng cáo bản án trong thời hạn luật định nộp tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.1] Đối với nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đơn xin vắng mặt,
anh H1 (có kháng cáo bản án) cũng đơn xin xét xử vắng mặt, ông G đơn
xin xét xử vắng mặt. Các đương sn lại ông P1, P2 anh V đã được
tống đạt hợp lệ nhiều lần giấy triệu tập dự phiên tòa phúc thẩm nhưng vẫn cố
tình vắng mặt không rõ do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt
các đương sự theo khoản 2, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Tài liệu thu thập trong hồ sơ và lời trình bày của các
đương sự trong quá trình giải quyết v án thể hiện: Ngày 23/11/2023 Ngân
hàng TMCP S (S) cho ông P1, P2 vay tiền theo Hợp đồng cấp hạn mức
vay vốn số: 87/2023/HĐHM-CN/SHBC.131502 ngày 23/11/2023; Khế ước
nhận nợ số: 02-87/2023/HĐHM-CN/SHBC.131502 ngày 22/02/2024, lãi suất
vay 9,5%/1 năm, số tiền vay gốc 1.660.000.000đồng, mục đích vay bổ sung
vốn nuôi lóc thịt. Sau khi vay ông P1, P2 vi phạm thời hạn trả nợ. Nay
Ngân hàng yêu cầu ông P1, P2 phải trả cho Ngân hàng tổng stiền nợ gốc:
1.660.000.000đồng lãi phát sinh, đồng thời xử tài sản thế chấp để thu hồi
nợ. Ông P1, P2 thừa nhận tên hợp đồng vay tiền khế ước nhận nợ với
số tiền vay 1.660.000.000đồng nhưng thực tế chỉ nhận số tiền
1.500.000.000đồng, còn lại 160.000.000đồng do ông Hoàng A và ông T2 (nhân
viên Ngân hàng S chi nhánh H3 nhận).
Sau khi Tòa án thẩm xét xử thì anh Nguyễn Nhựt H1 kháng cáo bản
án thẩm. Anh H1 yêu cầu tòa án tuyên bố hiệu một phần hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 11.600m
2
ông H1 xin huỷ
2.900m
2
trong số đất vì đây là đất hộ gia đình.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Nhựt H1, tài liệu thu thập
trong hồ sơ, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[3.1] Căn cứ hồ vay vốn thế chấp tài sản giữa vợ chồng ông P1,
P2 với Ngân hàng S thì P2 nộp 01 giấy xác nhận các thành viên trong hộ
gia đình về việc thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất được
P2 lập và ký tên ngày 02/12/2021 (bút lục số 72) thì thể hiện Nguyễn Thị P2
chủ hộ và ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 2006 là con đẻ, được xác nhận của
Công an Thị trấn T.
[3.2] Ngoài ra, vào năm 2018 thì P2 cũng thế chấp tài sản quyền
sử dụng đất của hộ gia đình cho ngân hàng B. Anh H1 cung cấp chứng cứ cho
rằng, thời điểm năm 2018 thì anh là người cùng hộ với bà P2, anh cũng có tham
8
gia thế chấp tài sản của hộ gia đình cho ngân hàng B để vay vốn ngân hàng.
Anh H1 trình bày, năm 2021 thì hộ bà P2 thế chấp quyền sử dụng đất cho ngân
hàng S để vay tiền mà không có chữ ký của anh H1 là không đúng.
[3.3] Căn cứ hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ bà
Nguyễn Thị P2 thể hiện: Ngày 27/8/1994 Nguyễn Thị P2 đại diện hộ đứng
tên quyền sử dụng đất số 00523/A3, số bìa I850638, thửa đất số 298, tờ bản đồ
số 01, diện tích 10.794m
2
. Năm 2014 do mất giấy nên bà P2 xin cấp lại giấy
theo bản đồ địa chính chính quy gồm có 05 thửa đất: thửa 38, thửa 54, thửa 40,
thửa 70 và thửa 100.
[3.4] Kết quả xác minh của Công an xã T thể hiện “... Thời điểm
21/4/2015, Đ/s Nguyễn Thị P2, sinh ngày 19/9/1969 02 thành viên gồm :
01.Nguyễn Thị P2,19/9/1969, định danh 087169010770 (chủ hộ);02.Nguyễn
Quốc V, 26/9/2006, định danh 087206016473 (con đẻ)..”
[3.5] Tài liệu trong hồ sơ thể hiện ngày 13/8/2018 anh Nguyễn Nhựt
H1 hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị P2 được quyền thay mặt anh H1
đến quan có thẩm quyền, được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cho thuê
quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 05 thửa đất:
thửa 38, thửa 40, thửa 54, thửa 70 và thửa 100. Thời hạn ủy quyền là 05 năm kể
từ ngày ký công chứng hợp đồng.
[3.6] Theo văn bản trình bày ý kiến của anh Nguyễn Nhựt H1 anh
Nguyễn Quốc V cùng trình bày “...Vào năm 1993 ông P1, P2 nhận
chuyển nhượng diện tích 11.600m
2
đất tại T, tỉnh Đồng Tháp..”. Xét thấy,
thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì anh H1 chỉ mới 03 tuổi,
anh H1 cũng không chứng cứ chứng minh công sức đóng góp trong
khối tài sản là quyền sử dụng đất 11.600m
2
nêu trên.
[4] Từ những căn cứ như đã nêu như trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm
nhận thấy, nguồn gốc các thửa đất P2 đang thế chấp cho ngân hàng S từ
trước năm 1994. Trong khi đó anh H1 sinh năm 1990 thì anh H1 không có công
sức trong quá trình tạo lập các phần đất này. Khi làm hồ thế chấp cho
ngân hàng chính P2 người đơn đề nghị Công an Thị Trấn T xác nhận
hộ bà P2 chỉ có 02 người là bà P2 và anh V. Căn cứ hợp đồng ủy quyền của anh
H1 đồng ý y quyền cho P2 được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cho
thuê quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 05
thửa đất: thửa 38, thửa 40, thửa 54, thửa 70 thửa 100 trong thời hạn 05 năm
tính từ ngày 13/8/2018. Ngày 03/12/2021, P2 đã hợp đồng thế chấp 05
thửa đất nêu trên cho ngân hàng S tvẫn còn trong thời hạn 05 năm ủy quyền
9
của anh H1. Tại thời điểm từ ngày 13/8/2018 đến 03/12/2021 mãi cho đến
nay các bên vẫn chưa văn bản hay tài liệu chứng cứ nào hủy bỏ việc y
quyền của anh H1 với bà P2.
[5] Xét kháng cáo của anh H1 không sở, không được Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa căn
cứ phợp với nhận định của Hội đồng xét xử, chấp nhận ý kiến đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát.
[7] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo của anh H1, nên anh H1
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ
luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 317, 319 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 98
Luật các tổ chức n dụng; Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm
2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án .
Xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Nhựt H1, giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm số 69/2026/DS-ST ngày 24 tháng 04 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 11 – Đồng Tháp.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S) đối với ông
Nguyễn Văn P1, bà Nguyễn Thị P2.
3. Buộc ông Nguyễn Văn P1, Nguyễn Thị P2 trách nhiệm liên đới
trả cho Ngân hàng TMCP S (S) số tiền nợ gốc lãi còn nợ tính đến ngày
23/04/2026 2.116.141.799đồng (trong đó: Nợ gốc: 1.660.000.000đồng; nợ
lãi trong hạn: 76.055.614đồng; nlãi quá hạn theo Hợp đồng cấp hạn mức vay
vốn số: 87/2023/HĐHM-CN/SHBC.131502 ngày 23/11/2023; và Khế ước nhận
nợ số: 02-87/2023/HĐHM-CN/SHBC.131502 ngày 22/02/2024. Và tiếp tục
chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã cho đến khi thanh toán xong
toàn bộ số nợ cho Ngân hàng TMCP S (S).
4. Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 109/2021/HĐTC-
CN/SHB.131502 ngày 03/12/2021, công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đồng
10
Tháp số công chứng 2437, quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD. Hợp đồng
sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PL01-
109/2021/HĐTC-CN/SHB.131502 ngày 02/03/2023 công chứng tại Văn phòng
C, tỉnh Đồng Tháp số công chứng 446, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD.
Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền s dụng đất số PL02-
109/2021/HĐTC-CN/SHB.131502 ngày 23/11/2023 công chứng tại Văn phòng
C, tỉnh Đồng Tháp số công chứng 2877, quyển số 02/2023 TP/CC-SCC/HĐGD
giữa Ngân hàng ông Nguyễn Văn P1, Nguyễn Thị P2, anh Nguyễn Quốc
V. Trường hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Nguyễn Văn P1, bà
Nguyễn Thị P2 không thực hiện trả số tiền cho Ngân hàng TMCP S (S).
quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đã thế chấp trong hợp đồng nói trên để thi
hành theo quy định pháp luật.
5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Nhựt H1, anh
Nguyễn Quốc V về việc yêu cầu huỷ hợp đồng thế chấp Quyền sdụng đất số
109/2021/HĐTC-CN/SHB.131502 ngày 03/12/2021, công chứng tại Văn
phòng C, tỉnh Đồng Tháp số công chứng 2437, quyển số 02/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD giữa Ngân hàng TMCP S (S) với ông Nguyễn Văn P1, Nguyễn
Thị P2, anh Nguyễn Quốc V.
6. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: Buộc ông Nguyễn Văn P1,
Nguyễn Thị P2 trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP S (S) số tiền chi
phí xem xét thẩm định là 1.000.000đồng (Một triệu đồng).
7. Về án phí:
- Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Nhựt H1 phải chịu
300.000đồng án phí dân sphúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng
tạm ứng án phí do anh H1 nộp theo biên lai thu số 0009018 ngày 01/6/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng tháp xem như thi hành xong án phí dân sự phúc
thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Ông Nguyễn Văn P1, Nguyễn Thị P2 phải nộp án phí dân sự
thẩm s tiền 74.622.000đồng (Bảy mươi bốn triệu sáu trăm hai mươi hai
nghìn đồng).
+ Anh Nguyễn Nhựt H1 phải nộp án phí dân sự thẩm số tiền
300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005315 ngày 20 tháng
10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
+ Anh Nguyễn Quốc V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là
11
300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0010679 ngày 16 tháng
12 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
+ H2 lại cho Ngân hàng TMCP S (S) toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 33.918.000đồng (Ba mươi ba triệu chín trăm mười tám nghìn đồng)
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000618 ngày 12 tháng 03
năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
yêu cầu thi hành án, quyền thỏa thuận thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo điều 6,7 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhn:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 11 Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương s;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Trần Văn Đạt
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 746/2026/DS-PT Bản án số 746/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 746/2026/DS-PT Bản án số 746/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất