Bản án số 222/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 222/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 222/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 222/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 222/2026/DS-PT
Ngày 17-8-2026
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trường
Ông Nguyễn Minh Tân
- Thư phiên tòa: Phạm Thuỷ Anh - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia
phiên tòa: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 17 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
44/2026/TLPT-DS ngày 01 tháng 04 năm 2026 về việc “Tranh chấp Hợp đồng
tín dụng”. Do Bản án dân sự thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 27, 29 tháng 9
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng bị kháng cáo; theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 147/2026/QĐ-PT ngày 26 tháng 5 năm
2026 Quyết định tạm ngừng phiên toà số 29/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 7
năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ Phần V1; địa chỉ trụ sở: Số H
L, phường Đ, thành phố Nội; do ông Đào Tuấn V Nhân viên xử nợ đại
diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 144/2025/UQ-VPBANK ngày 03
tháng 4 năm 2025); vắng mặt;
- Người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Công ty Cổ
phần M2; địa chỉ trụ sở: Tầng A Tòa nhà V, số I D, phường C, thành phố
Nội; do ông Nguyễn Mạnh C ông Trương Quang M Nhân viên xử lý nợ đại
diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 97/2026/UQ-MARS ngày 09
tháng 7 năm 2026); có mặt.
2
2. Bị đơn: Ông Đặng Đình C1, sinh năm 1983 Đinh Thị K, sinh
năm 1985; cùng địa chỉ: Số F T, tổ B, phường A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Công ty Cổ phần K1; địa chỉ: Số F N, phường S, thành phố Hồ Chí
Minh; do ông Ngô Tiến D, sinh năm 1981; địa chỉ: Trung tâm Đ, số 194ª đường
L, phường T, tỉnh Lâm Đồng ông Phan Hoàng S, sinh năm 2002; địa chỉ: Số
F N, phường S, thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo uỷ quyền (giấy ủy quyền
số 42/2025/UQ.Đ-NVH ngày 15 tháng 8 năm 2025); vắng mặt;
3.2. Công ty Cổ phần Đ1; địa chỉ: Số B tầng B, Khu T - dịch vụ, Dự án
Khu Thương mại, dịch vụ văn phòng, officetel và căn hộ tại số H H, phường Đ,
thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 10 năm 2024 trong quá trình
giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ Phần V1 (V2) trình
bày:
V2 Hợp đồng cho vay số LN2105053692036 ngày 22/5/2021 cho ông
Đặng Đình C1, Đinh Thị K vay số tiền 3.060.395.556 đồng (Ba tỷ không
trăm sáu mươi triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm năm mươi sáu
đồng); mục đích vay: thanh toán tiền theo thỏa thuận tại văn bản thỏa thuận để
được mua BĐS căn nhà mặt phố TH5-03.16, thuộc một phần Dự án Khu đô
thị dịch vụ thương mại cao cấp lao P (Khu E) tại phường T, thành phố B,
tỉnh Đồng Nai (tên thương mại: Đảo P (P)-Khu 5); thời gian vay: 36 tháng; trả
nợ gốc vào cuối kỳ; trả nợ lãi theo định kỳ 01 tháng/lần, vào ngày 15 (kỳ trả nợ
lãi), kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 15/7/2021; lãi suất cho vay trong thời hạn cố
định trong suốt thời hạn cho vay 9,9%/ năm; lãi quá hạn: 150% lãi suất cho
vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất áp dụng đối với
tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm
chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số lãi chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả (áp dụng kể từ thời điểm khoản tiền lãi của bên vay
bị chuyển quá hạn đến khi thanh toán hết khoản tiền quá hạn).
Tài sản bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng trên là: Tất cả các quyền tài sản
thuộc sở hữu của ông Đặng Đình C1 Đinh Thị K phát sinh từ văn bản thỏa
thuận số TH5-03.16/2021/VBTT/NVH-DDC ngày 12/5/2021 giữa ông Đặng
Đình C1, Đinh Thị K Công ty cổ phần K1 để thể mua được bất động
sản có thông tin sau:
+ Nhà phố liền kề số TH5-03.16;
+ Diện tích đất: 110m
2
;
3
+ Diện tích sử dụng (thông thủy): 200m
2
;
+ Địa chỉ dự án: Dự án khu đô thị D tại Phường T, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai, khu E.
(Theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số LN2105053692036 ngày
22/5/2021 bên thế chấp ông Đặng Đình C1 Đinh Thị K bên nhận thế
chấp Ngân hàng TMCP V1).
Thực hiện Hợp đồng tín dụng, ngày 03/6/2021 V2 đã giải ngân toàn bộ số
tiền vay vốn theo Giấy đề nghị giải ngân ngày 22/5/2021 của ông Đặng Đình C1
và bà Đinh Thị K.
Ông Đặng Đình C1 Đinh Thị K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với
V2 từ ngày 15/5/2024 phải chịu lãi suất quá hạn theo thoả thuận trong Hợp
đồng tín dụng.
Ngày 24/12/2024, V2 Công ty cổ phần M2 kết hợp đồng mua bán
nợ số 16/2024/VPB-MARS, theo đó V2 đồng ý bán Công ty M2 đồng ý mua
90% khoản nợ phát sinh theo cho vay số LN2105053692036 ngày
22/5/2021.
Tính đến ngày 29/9/2025, ông C1, K đã trả được V2 903.771.352
đồng; trong đó: 44.000.000đ nợ gốc; 858.689.682 đồng lãi trong hạn; 1.081.670
đồng lãi quá hạn.
Số tiền ông C1 K còn nợ Công ty M2 (là người kế thừa một phần
quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn) là: 3.371.751.307 đồng (trong đó: Nợ gốc
2.714.756.000 đồng; nợ lãi trong hạn 25.288.268; lãi quá hạn 554.588.296
đồng và lãi chậm trả là 77.118.742 đồng); còn nợ V2 là 374.639.034 đồng (trong
đó: Nợ gốc là 301.639.556 đồng; nợ lãi trong hạn là 2.809.808 đồng; lãi quá hạn
là 61.620.922 đồng và lãi chậm trả là 8.568.749 đồng).
Nay nguyên đơn V2 Công ty Cổ phần M2 khởi kiện, đề nghị Toà án
giải quyết các yêu cầu cụ thể như sau:
1. Buộc ông Đặng Đình C1 Đinh Thị K phải thực hiện toàn bộ các
nghĩa vụ đối với V2 Công ty M2, trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi chậm
trả các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, số tiền
tính đến 29/9/2025 là:
+ Số nợ của Công ty M2 là: 3.371.751.307 đồng; trong đó: Nợ gốc
2.714.756.000 đồng; nợ lãi trong hạn 25.288.268; lãi quá hạn 554.588.296
đồng và lãi chậm trả là 77.118.742 đồng.
4
+ Số nợ của V2 là: 374.639.034 đồng; trong đó: Nợ gốc 301.639.556
đồng; nợ lãi trong hạn 2.809.808 đồng; lãi quá hạn 61.620.922 đồng lãi
chậm trả là 8.568.749 đồng.
2. Ông Đặng Đình C1 Đinh Thị K tiếp tục phải trả lãi theo đúng
thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến ngày Ông Đặng Đình C1
và bà Đinh Thị K thực tế thanh toán hết nợ cho V2 Công ty M2.
3. Trường hợp ông Đặng Đình C1 và bà Đinh Thị K không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V2 M1 thì V2 M1 quyền
yêu cầu quan Thi hành án thẩm quyền biên, phát mại tài sản bảo đảm
để thu hồi khoản nợ cho V2 M1.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đặng Đình C1 Đinh Thị K
xác nhận có ký hợp đồng tín dụng vay của V2 số tiền, đồng thời thế chấp tài sản
hình thành trong tương lai để bảo đảm khoản vay như phía nguyên đơn đã khai,
đồng thời trình bày thêm:
Qua tìm hiểu thông tin quảng cáo, bị đơn đã liên hệ với Công ty Cổ phần
K1 (Công ty K1) để thỏa thuận hợp đồng mua căn nhà phố TH5-03.16, thuộc
một phần dự án Khu đô thị D cao cấp lao P (Khu E) tại phường T, thành phố
B, tỉnh Đồng Nai. Theo thông tin do Công ty K1 cung cấp thì Dự án này đã
được quan Nhà nước thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu cho Công
ty Cổ phần Đ1 Công ty K1 đối tác độc quyền cung cấp các dịch vụ môi
giới, vấn thị trường. Quá trình đàm phán hợp đồng mua bán nhà, Công ty K1
yêu cầu bị đơn phải vay tiền từ ngân hàng liên kết V2 (40% tiền đặt cọc),
ngoài ra phải tự bỏ vốn đối ứng (60% tiền đặt cọc); thanh toán làm nhiều đợt.
Theo chỉ định của Công ty K1, ngày 22/5/2021 ông C1, bà K hợp đồng
tín dụng vay của V2 số tiền 3.060.395.556 đồng để thanh toán tiền mua bất
động sản căn nhà phố T, thuộc một phần dán khu đô thị dịch vụ thương mại
cao cấp lao P (Khu E) tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (sau đây gọi
tắt căn nhà phố TH5-03.16). Theo thỏa thuận, thời hạn để Công ty K1 thông
báo hợp đồng mua bán nhà ngày 15/7/2022 tối đa không vượt quá 06
tháng. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử thẩm, ông C1 K chưa nhận
được bất kỳ thông báo gì từ Công ty K1 về việc ký hợp đồng mua bán. Do Công
ty K1 đã vi phạm thỏa thuận về thời hạn ký hợp đồng nên bị đơn đề nghị công ty
K1 phải trả lại toàn bộ tiền đặt cọc, tiền gốc vay, tiền lãi vay cho ông C1 và bà K
theo đúng cam kết ba bên đã ký kết với nhau.
Đối với việc V2 giải ngân cho Công ty K1 trên hồ mua bán nhà chưa
đủ sở pháp trái quy định pháp luật do phía công ty K1 vi phạm thỏa
thuận ba bên nên việc bị đơn dừng thanh toán gốc, lãi cho Ngân hàng
sở. Quá trình cho vay, Ngân hàng không kiểm tra, giám sát vốn giải ngân, chưa
5
một thông báo nào về các pháp dự án tiến độ dự án; thẩm định tài sản
hình thành trong tương lai một cách hời hợt, không căn cứ để định giá; V2
cho vợ chồng ông C1 vào danh sách nợ xấu không sở, vi phạm nghiêm
trọng đến quyền và lợi ích của bị đơn.
Quan điểm của bị đơn đề nghị Tòa án xem xét, yêu cầu V2 m thủ tục
rút bị đơn ra khỏi danh sách nợ xấu, bồi thường thiệt hại liên quan đến tổn thất
tài chính, uy tín, danh dự của bị đơn trong thời gian qua. Phía bị đơn cam kết sau
khi nhận được “tiền cọc, gốc vay, lãi vay” từ Công ty K1 thì ông sẽ thanh
toán lại cho V2 theo đúng quy định.
- Tòa án nhiều lần tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ cho những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công
ty Cổ phần K1 Công ty Cổ phần Đ1 nhưng đều vắng mặt nên không lấy được
lời khai.
Ngày 21/8/2025, Toà án nhận được đơn của Công ty K1 với nội dung:
Theo quy định tại Điều 6.5 Văn bản thỏa thuận số TH5-
03.16/2021/VBTT/NVH-DDC ngày 12/5/2021 giữa Công ty K1 ông C1 đã
thống nhất “Bất kỳ tranh chấp nào phát sinh từ và/hoặc liên quan đến V Thỏa
Thuận này ("Tranh Chấp”) sẽ được Các Bên thiện chí ưu tiên giải quyết bằng
đàm phán, thương lượng. Trường hợp không giải quyết được thì Các Bên thống
nhất Tranh Chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm T (V3) theo
Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”. Ngày 22/5/2021 Công ty K1, V2
và ông C1, K đã cùng nhau cam kết ba bên; tại khoản 7.7 Điều 7 của Cam
Kết Ba Bên quy định: “Bất kỳ tranh chấp nào phát sinh từ và/hoặc liên quan
đến Cam Kết này ("Tranh Chấp") sẽ được Các Bên thiện chí ưu tiên giải quyết
bằng đàm phán, thương lượng. Trường hợp không giải quyết được thì Các Bên
thống nhất tranh chấp sđược giải quyết bằng Trọng tài tại Trung tâm T, bên
cạnh Phòng T1 (V3) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”. Do các
đương sự thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp tại trọng tài, nên việc Tòa án
nhân dân, Khu vực 5 - Hải Phòng thụ giải quyết tranh chấp không đúng
thẩm quyền, đề nghị Toà án đình chỉ giải quyết vụ án.
- Kết quả thẩm định tại chỗ hiện trạng Dự án Khu đô thị D (Khu E), tại
phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vẫn bãi đất trống, mới chỉ san lấp mặt
bằng, chưa xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa có đường đi lại.
- Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự thẩm số 17/2025/DS-ST
ngày 27, 29 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5, thành phố Hải
Phòng đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng
TMCP V1 Công ty Cổ phần M2; buộc ông Đặng Đình C1 Đinh Thị K
6
phải trả cho V2 Công ty Cổ phần M2 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi chậm
trả tính đến ngày 29/9/2025 là 3.746.390.341 đồng…
2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định
của pháp luật.
3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm tại Hợp đồng thế
chấp quyền tài sản số LN2105053692036 ngày 22/5/2021 giữa Ngân hàng
TMCP V1 ông Đặng Đình C1 Đinh Thị K. Các bên quyền khởi kiện
vụ án liên quan đến xử tài sản bảo đảm tại Hợp đồng này tại Trung tâm T
(V3) theo thoả thuận.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi chậm thi hành án, án phí, quyền kháng
cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Sau khi xét xử thẩm, ngày 03 tháng 10 năm 2025 Công ty Cổ phần
M2 đơn kháng cáo đề nghị hủy phần quyết định đình chỉ của Bản án dân sự
thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29-9-2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 -
Hải Phòng; chấp nhận yêu cầu V2 Công ty M2 quyền yêu cầu quan thi
hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Ngày 07 tháng 10 năm 2025, ông C1 K kháng cáo đề nghị huỷ bản
án thẩm xác định ông C1, K không phải trả số tiền vay lãi theo Hợp
đồng cho vay số LN2105053692036, do: V2 cho vay và nhận thế chấp tài sản
bảo đảm hình thành từ Dán Khu đô thị D chưa được quan Nhà nước
thẩm quyền cấp phép nên hợp đồng cho vay vô hiệu.
- Tại phiên tòa phúc thẩm,
+ Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
+ Bị đơn giữ nguyên quan điểm trình bày trong quá trình giải quyết vụ án
và yêu cầu kháng cáo.
+ Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Về tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của
pháp luật từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm nghị án; nguyên đơn, bị
đơn về bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng;
việc kháng cáo của các đương sự đảm bảo đúng thời hạn theo quy định của pháp
luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Công ty
Cổ phần M2 và một phần kháng cáo của ông Đặng Đình C1, bà Đinh Thị K; hủy
Bản án dân sự thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 27, 29/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 5 - Hải Phòng; chuyển hồ cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại
theo thủ tục sơ thẩm.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Vquan hệ tranh chấp, thm quyn: Đây là vụ án dân sự tranh chấp về
hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại
khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ván bị đơn hiện đang trú
tại phường A, thành phố Hải Phòng nên Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng
thụ lý, giải quyết thẩm vụ án đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Ngày 29 tháng 9 năm 2025, Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng
ban hành bản án thẩm; ngày 03 07 tháng 10 năm 2025, Công ty cổ phần
M2 ông Đặng Đình C1, Đinh Thị K đơn kháng cáo trong thời hạn quy
định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nội dung hình thức đơn kháng
cáo phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận xem
xét.
[3] Về sự vắng mặt của đại diện V2 các người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan tại phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa đã được mở lại nhiều lần các
đương sự đều được triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự;
Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Về nội dung kháng o của Công ty Cổ phần M2 ông Đặng Đình C1,
Đinh Thị K:
[4] Ngày 12/5/2021, giữa Công ty K1 ông C1 đã Văn bản thỏa
thuận số TH5-03.16/2021/VBTT/NVH-DDC về việc hợp đồng chuyển
nhượng căn nhà phố T, cùng 3 phụ lục kèm theo nội dung ông C1 sẽ phải tự
ứng một phần tiền sẽ được vay phần tiền tại Ngân hàng Liên kết do Công ty
K1 chđịnh; các bên còn thỏa thuận về đặt cọc, thời hạn hợp đồng mua nhà
(thông báo hợp đồng chậm nhất ngày 15/7/2022 + 6 tháng gia hạn), giá
bán…; thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Trung tâm T (V3). Căn cứ các thỏa
thuận trên, ngày 22/5/2021, V2 đã Hợp đồng cho vay số LN2105053692036,
hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp quyền tài sản (quyền mua) căn nhà phố
TH5-03.16 (tài sản hình thành trong tương lai) với ông C1, bà K; thỏa thuận giải
quyết tranh chấp tại Tòa án. Cùng ngày 22/5/2021, Công ty K1 - ông C1, bà K -
V2 thỏa thuận 3 bên, theo đó: Ông C1, K dùng tiền từ nguồn vốn tự
765.098.889 đồng nguồn vốn vay từ V2 3.060.395.556 đồng để đặt cọc
mua căn nhà phố TH5-03.16, ngoài ra còn thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ từng
bên (điều 2,3,4), phối hợp xử tài sản bảo đảm (điều 5), phối hợp khi nhận
thông báo hợp đồng mua bán nhà (điều 6) điều khoản chung (điều 7),
trong đó thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Trung tâm T (V3). Xét các Hợp
đồng (văn bản thỏa thuận) trên được các bên giao kết trên sở hoàn toàn tự
8
nguyện, các chủ thể tham gia giao dịch đầy đủ năng lực pháp luật dân sự
năng lực hành vi dân sự, nội dung hình thức của hợp đồng không vi phạm
điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực.
[5] Sau khi ký kết hợp đồng, V2 đã căn cứ vào ủy nhiệm chi của ông C1,
K, chuyển đủ số tiền vay 3.060.395.556 đồng vào tài khoản Công ty K1 theo
đúng thỏa thuận, sau đó phát sinh tranh chấp do V2 cho rằng ông C1, K vi
phạm nghĩa vụ thanh toán nên đã khởi kiện bị đơn yêu cầu thanh toán toàn bộ nợ
gốc, nợ lãi, trường hợp ông C1, bà K không trả được sẽ phát mại quyền tài sản
để thu hồi nợ. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
buộc bị đơn thanh toán trả V2 Công ty M2 toàn bộ nợ gốc, nợ lãi đã thỏa
thuận theo Hợp đồng cho vay số LN2105053692036 đã với V2, không
xem xét đến trách nhiệm của Công ty K1.
[6] Xét V2 cho ông C1, K vay số tiền 3.060.395.556 đồng để mua căn
nhà phố TH5-03.16 của Công ty K1 được thực hiện trong khuôn khổ thỏa
thuận ba bên giữa NOVA, ông C1, K V2. Theo thỏa thuận này, việc giải
ngân, sử dụng khoản vay, ký kết hợp đồng mua bán nhà và xử lý tài sản bảo đảm
mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hồ vụ án thể hiện đến thời điểm xét xử
thẩm, Công ty K1 chưa thông báo cho ông C1, bà K hợp đồng mua bán nhà;
dự án trên thực tế vẫn là bãi đất trống, mới san lấp mặt bằng, chưa hoàn thành hạ
tầng. Như vậy, mục đích vay vốn của ông C1, K chưa được thực hiện theo
thỏa thuận ban đầu, trong khi số tiền vay đã được giải ngân cho Công ty K1. Tại
khoản 5.1 Điều 5 của Cam kết ba bên, các bên đã thỏa thuận về việc xử số
tiền vay trong trường hợp hết thời hạn cho vay NOVA chưa ký hợp đồng
mua bán với khách hàng; quy định trách nhiệm của Công ty K1 khi không thực
hiện cam kết về giao kết hợp đồng mua bán nhà; trách nhiệm của V2 trực tiếp
tham gia vào chế giải ngân xử khoản tiền vay khi giao dịch mua bán
nhà không được thực hiện. Tòa án cấp thẩm chỉ xem xét quan hệ tín dụng
giữa V2 với ông C1, K chưa làm trách nhiệm của Công ty K1 V2
trong việc không thực hiện được giao dịch mua bán nhà, dẫn đến mục đích vay
vốn không đạt được, chưa đánh giá đầy đủ bản chất của quan hệ tranh chấp và
chưa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn. Ngoài ra, theo Điều 56 Luật
Kinh doanh bất động sản 2014... V2 không chỉ tham gia với tư cách bên cho vay
nhận thế chấp còn thể tham gia với cách bên bảo lãnh..., nhưng vấn
đề này cũng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ. Vì vậy, chưa có đủ căn cứ để
buộc ông C1, K phải chịu toàn bộ nợ gốc lãi phát sinh từ khoản vay
không xem xét trách nhiệm của các chủ thể có liên quan.
[7] Về yêu cầu của ông C1, K đưa khoản vay ra khỏi nhóm nợ 5. Như
đã phân tích trên, Công ty K1 chưa thực hiện việc hợp đồng mua bán nhà,
dự án chưa hoàn thành, trong khi số tiền vay đã được V2 giải ngân cho Công ty
9
K1. Do đó, việc khoản vay phát sinh quá hạn không thể xác định chỉ do lỗi của
ông C1, K, còn liên quan đến việc Công ty K1 không thực hiện cam kết
trách nhiệm của V2 theo Cam kết ba bên. Cấp thẩm chưa làm các vấn
đề này mà đã xác định toàn bộ trách nhiệm trả nợ thuộc về ông C1, K là chưa
đầy đủ. Vì vậy, yêu cầu của ông C1, K về việc điều chỉnh thông tin tín dụng,
buộc V2 soát, cập nhật thông tin khoản vay; không tiếp tục ghi nhận khoản
vay theo hướng bất lợi cho ông C1, bà K là có cơ sở.
[8] Đối với việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ thỏa thuận Văn bản thỏa thuận
số TH5-03.16/2021/VBTT/NVH-DDC ngày 12/5/2021 để đình chỉ yêu cầu xử
tài sản bảo đảm. Hội đồng xét xử thấy rằng ông C1, K vay vốn của V2
nhằm mục đích mua nhà ở; tài sản bảo đảm quyền tài sản phát sinh từ giao
dịch mua bán nhà giữa ông với Công ty K1; đây quan hệ yếu tố tiêu
dùng chịu sự điều chỉnh của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo
Điều 38 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Điều 67 Văn bản
hợp nhất số 47/VBHN-VPQH ngày 17/3/2026 quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ phải thông báo về điều khoản trọng tài trước khi giao
kết hợp đồng và được người tiêu dùng chấp thuận. Trường hợp điều khoản trọng
tài do tổ chức, nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đưa vào hợp đồng theo
mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung thì khi xảy ra thanh chấp, người tiêu dùng
nhân quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khác…”; Điều
17 Luật Trọng tài thương mại 2010 Điều 17 Văn bản hợp nhất số 60/VBHN-
VPQH ngày 15/8/2025 quy định: Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp
hàng hóa, dịch vụ người tiêu dùng, mặc điều khoản trọng tài đã được ghi
nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp
soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn
Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch
vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp
thuận”. Như vậy, trong trường hợp điều khoản trọng tài được đưa vào hợp đồng
do bên kinh doanh soạn sẵn thì người tiêu dùng vẫn quyền lựa chọn Tòa án
giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền yêu cầu
giải quyết bằng Trọng tài khi được người tiêu dùng chấp thuận. Trong vụ án
này, ông C1, bà K không phản đối việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết tranh chấp
đối với tài sản bảo đảm trên, hồ vụ án không ý kiến của bị đơn về việc
đồng ý áp dụng thỏa thuận trọng tài cũng không tài liệu nào thể hiện các
bên liên quan đã khởi kiện tại Trung tâm T (V3). Mặt khác, Điều 17 Luật Trọng
tài thương mại chỉ quy định điều kiện để Trọng tài thẩm quyền giải quyết
tranh chấp liên quan đến người tiêu dùng, không phải n cứ loại trừ thẩm
quyền của Tòa án. Theo tinh thần của Án lệ số 42/2021/AL cũng xác định thẩm
quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp điều khoản trọng tài nhưng
người tiêu dùng lựa chọn hoặc không phản đối việc giải quyết tại Tòa án. Ngoài
10
ra, yêu cầu xử tài sản bảo đảm hệ quả pháp trực tiếp của việc thực hiện
nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng. Việc tách phần xử lý tài sản bảo đảm để
giải quyết bằng một vụ việc khác không bảo đảm giải quyết toàn diện quan hệ
tranh chấp, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của các đương sự. Tòa án cấp thẩm đình chỉ phần yêu cầu này
chưa đúng quy định pháp luật, ảnh ởng đến quyền lợi ích hợp pháp của
các đương sự, nên kháng cáo của Công ty M2 về vấn đề này căn cứ chấp
nhận.
[9] Ngoài ra, cũng cần xem xét lại số tiền lãi chậm trả đối với khoản lãi
trong hạn mà bị đơn phải thanh toán 28.098.076 đồng. Theo quy định tại
khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị
quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, trường hợp bên vay chậm trả tiền lãi trong hạn thì chỉ phải
chịu lãi chậm trả đối với khoản lãi trong hạn chưa thanh toán, theo mức lãi suất
các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá giới hạn pháp luật cho phép. Đối
chiếu các quy định nêu trên, khoản lãi trong hạn còn nợ là 28.098.076 đồng, thời
gian chậm trả từ ngày 15/5/2024 đến ngày 29/9/2025 503 ngày, ông C1
K phải chịu khoản lãi chậm trả là: 10%/365 x 28.098.076đồng x 503 =
3.872.146 đồng. Đối với số tiền lãi chậm trả cấp thẩm xác định bị đơn
phải thanh toán là 85.687.491 đồng được tính trên cả phần lãi quá hạn phát sinh,
trong khi lãi quá hạn đã được áp dụng mức lãi suất bằng 150% lãi suất trong
hạn. Việc tiếp tục tính lãi chậm trả trên khoản lãi quá hạn thực chất tính lãi
chồng lãi, không phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự
năm 2015 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn.
[10] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án
cấp thẩm đã thu thập chứng cứ không đầy đủ để làm các tình tiết của vụ
án; việc xem xét, đánh giá chứng cứ chưa khách quan, toàn diện; xác định thẩm
quyền giải quyết tranh chấp không đúng; ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của
bị đơn. Những thiếu sót này không thể khắc phục đầy đủ tại cấp phúc thẩm, nên
cần phải hủy toàn bộ bản án thẩm để giải quyết lại để bảo đảm quyền lợi
ích hợp pháp của các đương sự. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của
Công ty Cổ phần M2 một phần kháng cáo của bị đơn; hủy Bản án dân sự
thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 27 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 5 - Hải Phòng để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[11] Do hủy toàn bộ bản án thẩm để giải quyết lại, n án phí thẩm
sẽ được xem xét, quyết định lại trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục
thẩm. Do yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần M2 được chấp nhận và kháng
11
cáo của ông C1, K được chấp nhận một phần nên họ không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm.
[12] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần M2 một phần kháng cáo
của ông Đặng Đình C1, Đinh Thị K; huỷ toàn bộ Bản án dân sự thẩm số
17/2025/DS-ST ngày 27, 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 -
Hải Phòng; giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: Bản án thẩm bị hủy để giải quyết lại nên án phí dân sự
thẩm được xác định khi giải quyết vụ án theo thủ tục thẩm. Công ty Cổ phần
M2 ông Đặng Đình C1, Đinh Thị K không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Trả lại Công ty Cổ phần M2 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
theo Biên lai số 0004895 ngày 23/10/2025; trả lại cho ông Đặng Đình C1
Đinh Thị K số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai số
0005048 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành
theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4,
6, 7 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Phòng THADS KV 5 Hải Phòng;
- TAND khu vực 5 Hải Phòng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Minh Hạnh
12
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Minh Tân Nguyễn Xuân Trường
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Minh Hạnh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất