Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 70/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Yên Thế (TAND tỉnh Bắc Giang)
Số hiệu: 70/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện ông Vũ Xuân A về hợp đồng mua bán tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN TH
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 70/2024/DS-ST
Ngày 28/9/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Ngô Phiên
2. Ông Thân Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Quang Hưng- Thư ký Toà án nhân dân huyện
Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà: Ông
Nguyễn Văn Hải- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân
huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
81/2024/TLST- DS ngày 10/7/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản”.
Theo quyết định đưa ván ra xét xử số: 86/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 8
năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm
2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn C, Đ, huyện
Y, tỉnh Bắc Giang- Có mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Xuân A, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn T, Đ, huyện Y,
tỉnh Bắc Giang- Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Hồng T1, sinh năm 1975. Địa
chỉ: Thôn C, Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Ông Phạm Hồng Thành y q cho
Nguyễn Thị T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn C, Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
(Giấy ủy quyền ngày 25/6/2024)- Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tkhai các tài liệu trong hồ vụ án cũng
như tại phiên tòa nguyên đơn (bà Nguyễn Thị T) trình bày:
T làm nghề buôn bán thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm. Khoảng năm
2011 bà T bán cám cho anh Xuân A theo hình thức trả chậm, anh A lấy cám
của bà T nợ tới khi nào bán gà xong thì trả bà T tiền tương đương với số cám đã
lấy. Sau bốn tháng anh A đã bán hết gà, tuy nhiên vẫn chưa thanh toán tiền cám cho
T, vì thế hai bên chốt sổ ngày 21/11/2011 (âm lịch) tức ngày 15/12/2011 (dương
lịch) lập giấy biên nhận nợ đề ngày 25/4/2012 (âm lịch) tức ngày 15/5/2012
(dương lịch) với tổng số tiền còn nợ 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng),
anh A nhận nợ tại văn bản giấy biên nhận vay tiền (đã giao nộp cho Tòa án
kèm đơn khởi kiện). Giữa hai bên thỏa thuận về lãi suất, anh A phải trả theo mức
lãi ngân hàng.
Kể từ khi lập giấy nợ tới 02/6/2012 anh A trả cho bà T được 2.000.000đồng
(bà T đã trừ vào tiền gốc còn 22.000.000 đồng). Sau đó bà T có làm đơn khởi kiện
ra Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tđến ngày 16/01/2021 anh A trả T thêm
được 5.000.000đồng nữa và xin bà T rút đơn cho anh A trả dần trong vòng 3 tháng,
T đồng ý, vậy anh A còn nợ T 17.000.000 đồng (Mười bẩy triệu đồng) tiền
nợ gốc. Kể từ đó đến nay anh A không trả bà T thêm khoản tiền nào nữa. Việc nợ
này chỉ một mình anh A nợ bà T, khi bà T mua bán cám với anh A thì chỉ thấy một
mình anh A sinh sống nhà bà T cũng không mua bán với người nào khác
trong gia đình anh A. Vì thế bà T chỉ yêu cầu một mình anh Vũ Xuân A trả tiền nợ
cho bà T.
Nay T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu: Buộc anh Xuân
A, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang phải trả bà T số
tiền nợ gốc là: 17.000.000 đồng (Mười bẩy triệu đồng) tiền lãi chậm trả theo
mức lãi 9%/năm tạm tính đến ngày 20/6/2024 như sau: Tiền lãi suất chậm trả trên
nợ gốc 22.000.000 đồng Hai mươi hai triệu đồng) tính từ ngày 15/12/2011 đến
16/01/2021 là 109 tháng 01 ngày; và tiền lãi suất chậm trả trên nợ gốc 17.000.000
đồng (Mười bẩy triệu đồng) tính từ ngày 17/01/2021 đến ngày 20/6/2024 41
tháng.
Tại phiên tòa bà T yêu cầu anh A phải thanh toán tiền lãi chậm trảtrên số tiền
nợ gốc 22 triệu đồng tính từ ngày 15/12/2011 đến 16/01/2021 và thanh toán tiền lãi
chậm trtrên số tiền nợ gốc 17 triệu đồng tính từ ngày 17/01/2021 đến ngày xét xử
thẩm theo mức lãi suất 9%/năm lãi suất chậm trả theo quy định của pháp
luật kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi anh A trả hết số tiền còn nợ.
Bị đơn (anh Xuân A): Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và
cũng không gửi ý kiến, văn bản đến Tòa án, vậy không có lời khai trong hồ sơ.
Tòa án đã trực tiếp cùng với địa phương về làm việc tại gia đình nhưng anh A vắng
mặt. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, giấy triệu tập để anh A biết
thực hiện quyền nghĩa vụ ttụng của mình, tuy nhiên anh A vẫn vắng mặt tại Tòa
án theo thông báo, quyết định của Tòa án.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Phạm Hồng T1): Ủy quyền cho
Nguyễn Thị T, đồng ý với ý kiến của bà Nguyễn Thị T- vợ ông.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế phát biểu ý
kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng theo quy định; Việc chấp hành pháp luật
của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án cơ bản đúng quy định của pháp luật, đối với bị đơn là anh
Vũ Xuân A chưa chấp hành theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn
cứ các Điều: 275; 430, 431, 433, 440; 444; khoản 2 Điều 357; khoản 2 Điều 468;
Điều 688 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều
271; Điều 273; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Buộc anh Xuân A phải nghĩa vụ thanh toán trả Nguyễn Thị T số tiền
còn nợ là: 40.647.200đ (Bốn mươi triệu sáu trăm bốn mươi bẩy nghìn hai trăm đồng),
gồm tiền nợ gốc 17.000.000 đồng (Mười bẩy triệu đồng) tiền lãi chậm trả là
23.647.200đ (Hai mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi bẩy nghìn hai trăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong,
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Anh
Xuân A phải chịu 2.032.400đ (Hai triệu không trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm
đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm; Bà Nguyễn Thị T không phải chịu tiền án phí dân
sự thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Nguyễn Thị T số tiền 1.167.125đồng
(Một triệu một trăm sáu mươi bẩy nghìn một trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005025 ngày 10/7/2024 của Chi cục thi hành
án dân sự huyện Yên Thế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Anh Xuân A là bị đơn đã được Toà án triệu tập, thông báo thụ lý vụ án,
thông báo hoà giải hợp lệ đến lần thứ hai đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến
phiên toà xét xử lần thứ 2 nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều
227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng
mặt đương sự có tên nêu trên.
Căn cứ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đây xác định quan hệ tranh chấp
hợp đồng mua bán tài sản, quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ tranh chấp:
[2].1. Bà Nguyễn Thị T và anh Xuân A tự nguyện thỏa thuận vhợp đồng
mua bán cám chăn nuôi thỏa thuận chốt nợ vào ngày 25/4/2012 (âm lịch) tức ngày
15/5/2012 (dương lịch), được xác nhận hợp đồng hợp pháp được pháp luật bảo
vệ.
[2].2. Xét yêu cầu của Nguyễn Thị T yêu cầu anh Xuân A phải
trả stiền mua cám chăn nuôi còn nợ gốc 17.000.000 đồng (Mười bẩy triệu đồng),
thấy rằng: T xác định sau khi thỏa thuận về hợp đồng mua bán cám chăn nuôi,
T đã giao đủ cho anh Xuân A số cám chăn nuôi theo thỏa thuận, anh A đã
nhận đủ số cám chăn nuôi. Đến hạn trả tiền anh A chỉ trả được một số tiền còn
nợ lại. Sau đó do anh A chưa thanh toán được số tiền còn nợ nên hai bên chốt sổ
ngày 21/11/2011 (âm lịch) tức ngày 15/12/2011 (dương lịch) và lập giấy biên nhận
nợ đngày 25/4/2012 (âm lịch) tức ngày 15/5/2012 (dương lịch) với tổng số tiền
còn nợ là 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng). Sau đó anh A trả tiếp cho bà
T được tổng số tiền 7.000.000đ (Bẩy triệu đồng), còn nợ số tiền gốc là 17.000.000
đồng (Mười bẩy triệu đồng).
Đối với anh A đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án để
làm việc cũng như không văn bản, ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là tự tước bỏ đi quyền và nghĩa
vụ mà pháp luật quy định cho anh A được thực hiện, vì vậy hậu quả của việc anh A
không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, anh A phải gánh chịu.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân s quy định về
những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh thì tình tiết “một bên đương sự thừa
nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của
quan chuyên môn bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải
chứng minh”. vậy, xác định việc anh A còn nợ của T số tiền mua cám chăn
nuôi 17.000.000 đồng (Mười bẩy triệu đồng) là có căn cứ, cần buộc anh A phải
trách nhiệm thanh toán trả T số tiền này.
[2].3. Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị T yêu cầu anh Xuân A phải trả số
tiền lãi chậm trả trên số tiền mua cám chăn nuôi còn nợ gốc 22.000.000 đồng (Hai
mươi hai triệu đồng) tính từ ngày 15/12/2011 đến 16/01/2021; tiền lãi suất chậm
trả trên nợ gốc 17.000.000đ (Mười bẩy triệu đồng) tính từ ngày 17/01/2021 đến
ngày đến ngày Tòa án tuyên bản án thẩm theo mức lãi suất là 9%/năm lãi suất
chậm trả theo quy định của pháp luật kể từ sau ngày xét xử thẩm cho đến khi
anh A trả hết số tiền còn nợ, thấy rằng: Đối với số tiền anh A còn nợ của T
hợp đồng mua bán cám chăn nuôi, đến hạn trả nợ theo thỏa thuận giữa hai bên
ngày hai bên chốt nợ lần đầu 15/12/2011, đến ngày 02/6/2012 anh A trả cho bà T
được 2.000.000đồng, đến ngày 16/01/2021 anh A trả T tiếp số tiền
5.000.000đồng được trừ vào gốc nên T yêu cầu anh A thanh toán lãi chậm trả
tính từ ngày 15/12/2011 đến ngày 16/01/2021 trên số nợ gốc 22 triệu đồng lãi từ
ngày 17/01/2021 đến ngày 20/6/2024 trên số nợ gốc 17 triệu đồng sở. Trong
quá trình giải quyết vụ án đến ngày mở phiên tòa sơ thẩm các đương sự không
yêu cầu áp dụng các quy định về thời hiệu, vậy anh A phải thanh toán tiền lãi
chậm trả cho T theo yêu cầu của T 9%/năm phù hợp với quy định tại
khoản 5 Điều 474 và khoản 2 Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005. Vì vậy, anh
A phải thanh toán số tiền lãi chậm trả trên số nợ gốc 22 triệu đồng 17 triệu đồng
tính từ 15/12/2011 đến 16/01/2021 và từ 17/01/2021 đến 20/6/2024. Số tiền lãi của
hợp đồng vay được xác định cụ thể là:
+ Số tiền gốc 22.000.000đ, lãi tính từ ngày 15/12/2011 đến ngày 16/01/2021
109 tháng 01 ngày, số tiền lãi là: {(22.000.000đ x 9% x 109 tháng : 12 =
17.985.000đ)+ (22.000.000đ x 9% : 12 x 01 ngày : 30 = 5.500đ)= 17.990.500đ.
+ Số tiền gốc 17.000.000đ, lãi tính từ ngày 17/01/2021 đến ngày xét xử
thẩm: 28/9/2024 là 44 tháng 11 ngày, số tiền lãi là: {(17.000.000đ x 9% x 44 tháng
: 12 = 5.610.000đ)+ (17.000.000đ x 9% : 12 x 11 ngày : 30 = 46.750đ)= 5.656.750đ
(làm tròn thành 5.656.700đ).
Tổng số tiền lãi đến ngày xét xử thẩm anh A phải thanh toán trả T là:
17.990.500đ + 5.656.700đ = 23.647.200đ (Hai mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi bẩy
nghìn hai trăm đồng).
Như vậy, số tiền anh A còn nợ của T tiền mua cám chăn nuôi, tiền lãi chậm
trả được xác định là: 17.000.000đ + 23.647.200đ = 40.647.200đ (Bốn mươi triệu
sáu trăm bốn mươi bẩy nghìn hai trăm đồng). vậy, cần buộc anh Xuân A phải
có nghĩa vụ thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị T.
[3]. Ván phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu
phí dân sự sơ thẩm theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội.
[4]. Vquyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại các Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều: 275; 430, 431, 433, 440; 444; khoản 2 Điều 357; khoản 2
Điều 468; Điều 688 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều
147; Điều 271; Điều 273; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Buộc anh Xn A phải nghĩa vụ thanh toán trả Nguyễn Thị T số tiền
còn nợ là: 40.647.200đ (Bốn mươi triệu sáu trăm bốn mươi bẩy nghìn hai trăm đồng),
gồm tiền nợ gốc 17.000.000 đồng (Mười bẩy triệu đồng) tiền lãi chậm trả là
23.647.200đ (Hai mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi bẩy nghìn hai trăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong,
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Anh
Xuân A phải chịu 2.032.400đ (Hai triệu không trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm
đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm; Bà Nguyễn Thị T không phải chịu tiền án phí dân
sự thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Nguyễn Thị T số tiền 1.167.125đồng
(Một triệu một trăm sáu mươi bẩy nghìn một trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005025 ngày 10/7/2024 của Chi cục thi hành
án dân sự huyện Yên Thế.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Báo cho đương sự mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể tngày
được tống đạt bản án vắng mặt hợp lệ.
Nơi nhận:
- Tòa án ND tỉnh Bắc Giang
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- VKSND huyện Yên Thế;
- Các đương sự;
- Chi cục thi hành án;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Toàn
Tải về
Bản án số 70/2024/DS-ST Bản án số 70/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 70/2024/DS-ST Bản án số 70/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất