Bản án số 629/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 629/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 629/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 629/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vợ chồng bà N trước đây có quen biết và làm ăn qua lại với vợ chồng K, V. Trong quá trình làm ăn, K, V còn nợ tiền công cày đất trồng khoai lang. Tính đến ngày 04/9/2019, số tiền công cày đất còn nợ là 93.700.000 đồng, các bên thỏa thuận lãi suất 1%/tháng. Ngoài ra, ngày 19/8/2019, vợ chồng bà N cho K, V vay 65.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng để mua máy cày, nhưng K, V chưa thanh toán cả gốc và lãi.Ban đầu, vợ chồng bà N xác định tổng tiền gốc còn nợ là 158.700.000 đồng, tiền lãi của hai khoản là 114.914.000 đồng, tổng cộng 273.614.000 đồng. Sau khi tính toán, đối chiếu lại, vợ chồng bà N xác định tiền công cày đất còn 84.700.000 đồng và tiền vay gốc 65.000.000 đồng, đồng thời rút yêu cầu đối với 9.000.000 đồng tiền công cày và 67.464.000 đồng tiền lãi tiền công cày.Nay vợ chồng bà N yêu cầu K, V thanh toán 84.700.000 đồng tiền công cày đất trồng khoai lang; đồng thời liên đới thanh toán 65.000.000 đồng tiền vay và 47.450.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 197.150.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu khoản lãi nào khác.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 629/2026/DS-PT Bản án số 629/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 629/2026/DS-PT Bản án số 629/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 629/2026/DS-PT
Ngày: 21-8-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản và kiện đòi tiền công cày đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu
Ông Lê Văn An
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lâm Đông Đông - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phĐồng Nai tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai
xét xử phúc thẩm công khai trực tiếp vụ án dân sự thụ số 326/2026/DS-PT ngày
02/6/2026 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản kiện đòi tiền công cày
đất”. Do Bản án dân sự thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 08 – Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 611/2026/QĐ-PT ngày 22/7/2026
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đặng Thị N, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn Q, C, tỉnh
Lâm Đồng có mặt.
- Bị đơn: Trần Thị K, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp D, Đ, Thành phố
Đồng Nai – có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp D, Đ, Thành phố
Đồng Nai – vắng mặt.
+ Ông Phan Công M, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn Q, xã C, tỉnh Lâm Đồng
vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông M: Đặng Thị N, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Thôn Q, xã C, tỉnh Lâm Đồng có mặt.
Do có kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị K.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng của nguyên đơn trình bày:
Trước đây vợ chồng bà có quen biết vợ chồng bà Trần Thị K và làm ăn qua lại.
Vợ chồng Trần Thị K thiếu tiền cày đất để trồng khoai lang nhưng cho đến
nay vợ chồng K vẫn chưa thanh toán cho vợ chồng bà, cụ thể: Tính đến ngày
04/09/2019, vợ chồng bà K thiếu vợ chồng bà tiền công cày đất trồng khoai lang số
tiền: 93.700.000 đồng (Chín mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng) với lãi suất phải
trả: 1%/tháng. Tính lãi từ ngày 04/09/2019 đến 04/09/2025 72 tháng. Quy ra số
tiền lãi là: 67.464.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu bốn trăm sáu mươi bốn ngàn
đồng)
Tiếp theo, vào ngày 19/08/2019, vợ chồng cho vợ chồng K mượn
thêm 65.000.000 đồng (Sáu mươi năm triệu đồng) với lãi suất 1%/ 1 tháng để bà K
mua máy cày về sử dụng. Nhưng đến nay bà K cũng không hoàn trả số tiền này cả
gốc lẫn lãi. Tính từ ngày 19/08/2019 cho đến nay 73 tháng. Số tiền lãi 73 tháng,
tính ra là: 47.450.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
Tổng số tiền vay gốc tiền công cày khoai vợ chồng K còn nợ vợ chồng
bà là: 158.700.000 đồng (Một trăm năm mươi tám triệu bảy trăm ngàn đồng). Tổng
tiền lãi 2 đợt là: 114.914.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu, chín trăm mười bốn
nghìn đồng).
Như vậy, tổng 2 đợt K còn nợ vợ chồng cả gốc lẫn lãi là: 273.614.000
đồng (Hai trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng).
Hiện nay, sau khi tính toàn lại vợ chồng xác định vợ chồng K còn nvợ
chồng bà số tiền công cày đất trồng khoai lang 84.700.000 đồng, tiền vay gốc
65.000.000 đồng. vậy, vchồng xin t một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể
xin rút tiền ng cày đất trồng khoai 9.000.000 đồng tiền lãi của tiền công
cày đất là 67.464.000 đồng.
Nay vợ chồng bà yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc K, ông V trách nhiệm thanh toán cho vchồng bà số tiền cày đất
trồng khoai là 84.700.000 đồng.
- Buộc bà K, ông V phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho vợ chồng bà số
tiền vay còn nợ 65.000.000 đồng tiền lãi 47.450.000 đồng, ngoài ra
không yêu cầu khoản tiền lãi nào khác. Tổng cộng là 197.150.000 đồng.
* Bị đơn bà Trần Thị K trình bày:
Vào khoảng năm 2019 thì và ông Nguyễn Văn V thuê máy y của gia
đình N và ông M. Sau khi cấn trừ các khoảng tiền máy cày qua lại thì vợ chồng
bà có n nợ gia đình bà N và ông M. Ngày 04/9/2019, bà có ký giấy xác nhận còn
nợ N số tiền 84.700.000 đồng (tám mươi bốn triệu bảy trăm nghìn đồng)
N kêu ký, sau khi bà ký xong thì ông Vũ C lại giấy thì nói bà là sai với số tiền tính
3
không đúng (đúng thì khoảng năm mươi mấy triệu thôi) rồi kêu N tính lại từ
đầu nhưng N không chịu. Sau đó, cùng ông V qua nhà của N kêu
hủy giấy ngày 04/9/2019 tính lại nhưng N không chịu. giấy xác
nhận nợ tiền 84.700.000 đồng, vậy chữ ghi rõ họ tên trong giấy nhận nợ
N cung cấp của bà, mặc chữ của nhưng thực tế khoản nợ
của hai vợ chồng ông V chứ không phải của một mình bà, ông V đó
nhưng ông không ký vì cho rằng sai số tiền thực tế.
Căn cứ theo giấy nhận nợ ngày 19/8/2019 với số tiền 65.000.000 đồng là khoản
vay của ông V trong thời kỳ hôn nhân, đây khoản vay ông V đi mượn để
dùng số tiền vào cuộc sống gia đình, thực tế ông V đi mượn nhưng bắt bà xác nhận
cùng, biết số tiền này số tiền này dùng vào mục đích gia đình. ông
V có ký giấy xác nhận nợ giấy tiền 65.000.000 đồng, đây là chữ ký và ghi rõ họ tên
trong giấy nhận nợ mà bà N cung cấp là của bà và ông V.
Nay N khởi kiện với hai khoản nợ trên thì không đồng ý, đây là
trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng chứ không phải của mình bà, mặt khác
thì ông V trình bày đã tính sai khoảng nợ 84.700.000 đồng nhưng N không
chịu hủy giấy nợ tính lại nên không đồng ý. Nếu N khởi kiện một mình bà,
thì chỉ đồng ý trả cho N số tiền khoảng 120.000.000 đồng (65.000.000 đồng
+ 55.000.000 đồng) còn số tiền hơn thì yêu cầu liên đới với ông V phải b
sung thêm ông M tham gia để tính toán lại số tiền từ đầu.
Tại phiên tòa bà xác nhận còn nợ tiền công cày đất và tiền vay của vợ chồng bà
N và bà chỉ đồng ý trả cho vợ chồng bà N số tiền 70.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 8 - Đồng Nai đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản kiện đòi
tiền công cày đất” của bà Đặng Thị N đối với bà Trần Thị K, ông Nguyễn Văn V.
Buộc Trần Thị K, ông Nguyễn Văn V phải trách nhiệm liên đới thanh
toán cho bà Đặng Thị N, ông Phan Công M số tiền vay tính đến thời điểm xét xử là
112.450.000 đồng (trong đó: tiền vay gốc 65.000.000 đồng và tiền lãi
47.450.000 đồng) tiền công cày đất 84.700.000 đồng, tổng cộng
197.150.000 đồng.
2. Đình chỉ xét xử đối với số tiền khởi kiện về số tiền công cày đất trồng khoai
9.000.000 đồng và tiền lãi của tiền công cày đất 67.464.000 đồng. Đương sự
có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án
quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 14 tháng 4 năm 2026, bị đơn Trần Thị K kháng cáo một phần nội
dung Bản án dân sự thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 30 tháng 03 năm 2026 của
4
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Nai. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa một phần bản
án thẩm theo hướng: Buộc K, ông V thanh toán số tiền vay 65.000.000 (Sáu
mươi lăm triệu) đồng tiền công cày 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng.
Tổng cộng là 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu) đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn bà K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ vụ án đến thời điểm xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn bà K giữ nguyên bản án thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 30
tháng 03 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Đồng Nai.
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Trần Thị K làm trong thời hạn
luật định, hình thức, nội dung phạm vi kháng o phù hợp với quy định tại
các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện
được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà K, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ “Giấy mượn tiền” đề ngày 19/8/2019 chữ ghi họ tên của
Trần Thị K ông Nguyễn Văn V nội dung thể hiện Trần Thị K và ông
Nguyễn Văn V có mượn của bà N số tiền 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng.
Căn cứ vào giấy có nội dung xác nhận số tiền còn thiếu đề ngày 04/9/2019, cụ
thể: Trần Thị K ông Nguyễn Văn V xác nhận “Thiếu tiền cày của Tám N
Quảng Ngãi là số tiền 84.700.000 đồng” chữ ghi htên của Trần
Thị K.
Tại biên bản ghi nhận sự việc ngày 04/02/2026 K cũng thừa nhận còn nợ
số tiền nêu trên và cho rằng đây là nợ chung của bà và ông V nên yêu cầu ông V có
trách nhiệm trả cho N số tiền này. Bà K cũng thừa nhận còn nợ tiền vay và tiền
công cày đất của vợ chồng bà N và hiện nay chưa thanh toán số tiền còn nợ.
5
Như vậy, giữa bà N và bà K, ông V sự xác lập giao dịch vay mượn tiền với
nhau ngoài ra K, ông V còn nợ vợ chồng N số tiền công cày đất hoàn
toàn thật. Khi đến hạn thanh toán vợ chồng K, ông V không trả tiền cho
vợ chồng bà N mặc dù đã được yêu cầu nhiều lần là vi phạm về nghĩa vụ dân sự đã
cam kết nên Toà án cấp thẩm chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn N buộc
K, ông V phải trả lại số tiền vay gốc còn nợ 65.000.000 đồng tiền công
cày đất 84.700.000 đồng, tổng cộng 149.700.000 đồng căn cứ phù
hợp theo quy định pháp luật.
Vlãi suất: Căn cứ theo Giấy mượn tiền” ngày 19/8/2019 thể hiện các n
không thoả thuận lãi suất. Tuy nhiên, N1 chỉ yêu cầu lãi suất quá hạn
01%/tháng, thời điểm tính từ ngày vay 19/8/2019 tính đến thời điểm xét xử 06
năm 07 tháng (tương đương với 79 tháng, tuy nhiên N1 chyêu cầu 73 tháng)
ngoài ra không yêu cầu khoản tiền lãi nào khác, đây là sự tự nguyện của N1
nhưng lợi cho phía bị đơn phù hợp theo quy định tại Điều 468 của Bluật
Dân sự và điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019
của Hội đồng Thẩm phán TANDTC nên Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu
tính lãi của nguyên đơn đối với số tiền vay 65.000.000 đồng × 01%/tháng × 73
tháng = 47.450.000 đồng.
Từ những nhận định nêu trên Toà án cấp thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của N1 buộc bà K và ông V phải có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng
N1 số tiền vay gốc lãi suất với số tiền 112.450.000 đồng (trong đó: tiền vay
gốc 65.000.000 đồng tiền lãi 47.450.000 đồng) tiền công cày đất
84.700.000 đồng, tổng cộng là 197.150.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp
luật.
Như vậy, K kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào
mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của
K không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng
Nai.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của K không được chấp nhận
nên bà K phải chịu án phí theo quy định.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tại
phiên tòa được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị K.
6
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Nai.
- Căn cứ Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35 điểm a, khoản 1, Điều 39, 95,
147, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, 235, 266, 267,
Điều 217, Điều 244 và 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị N đối với bị đơn
Trần Thị K, ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
kiện đòi tiền công cày đất”
Buộc Trần Thị K, ông Nguyễn Văn V phải trách nhiệm liên đới thanh
toán cho bà Đặng Thị N, ông Phan Công M số tiền vay tính đến thời điểm xét xử là
112.450.000 đồng (trong đó: tiền vay gốc 65.000.000 tiền lãi 47.450.000
đồng) tiền công cày đất 84.700.000 (Tám mươi bốn triệu bảy trăm nghìn)
đồng, tổng cộng là 197.150.000 (Một trăm chín mươi bảy triệu một trăm năm mươi
nghìn) đồng.
Kể tngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi nh án, nếu chưa thi
hành xong khoản tiền nêu trên thì còn phải trả lãi chậm thi hành án đối với số tiền
chưa thanh toán, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a
Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật
Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
2. Đình chỉ xét xử đối với số tiền khởi kiện về số tiền công cày đất trồng khoai
9.000.000 (chín triệu) đồng tiền lãi của tiền công cày đất 67.464.000 (Sáu
mươi bảy triệu bốn trăm sáu mươi bốn ngàn) đồng. Đương sự quyền khởi kiện
lại theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Trần Thị K ông Nguyễn Văn V phải liên đới chịu số tiền án phí dân sự
sơ thẩm là 9.857. 500 (Chín triệu tám trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm) đồng.
7
Nguyên đơn Đặng Thị N không phải chịu. Hoàn trả lại cho N 6.829.000
(Sáu triệu tám trăm hai mươi chín ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên
lai số 0004909 ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đ (nay Thành phố
Đồng Nai).
4. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn bà Trần Thị K phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ
vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu
tiền số 0011606 ngày 18/5/2026 tại Thi hành án dân sự Thành phố Đồng Nai.
Các phn khác ca bn án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiu lc
thi hành k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân TP Đồng Nai;
- TAND KV 8 - Đồng Nai;
- VKSND KV 8 Đồng Nai;
- PTHADS KV 8 -Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Nga
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 629/2026/DS-PT Bản án số 629/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 629/2026/DS-PT Bản án số 629/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất