Bản án số 554/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 554/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 554/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 554/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu buộc bà Nguyễn Việt L1 và ông 2 Nguyễn Hoàng T1 trả số tiền là 1.004.200.000 đồng (Số tiền bằng chữ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 554/2026/DS-PT Bản án số 554/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 554/2026/DS-PT Bản án số 554/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 554/2026/DS-PT
Ngày: 19 - 08 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh;
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế;
Bà Tiêu Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Trần Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 411/TB-TLVA ngày 24 tháng 7 năm 2026 về
tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự thẩm số 179/2026/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 577/2026/QĐ-PT ngày
04 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Văn T, sinh ngày: 20/11/1982; Căn cước công dân số:
************; cấp ngày: 07/07/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự xã hội (có mặt).
2. Trần Thị L, sinh ngày: 01/01/1983; Căn cước công dân số:
************; cấp ngày: 07/07/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự xã hội (có mặt).
Cùng trú tại: Nhà không số, khóm C, phường T, tỉnh Mau (Nay
khóm G, phường T, tỉnh Cà Mau).
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Việt L1, sinh ngày: 24/04/1981; Căn cước công dân số:
************; cấp ngày: 23/03/2023; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự xã hội (có mặt).
trú tại: Đường D, Khóm A, phường T, tỉnh Mau (N Khóm F,
2
phường T, tỉnh Cà Mau).
2. Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày: 15/10/1982; Căn cước công dân số:
************; cấp ngày: 19/12/2024; nơi cấp: Bộ C (có mặt).
trú tại: Đường D, Khóm A, phường T, tỉnh Mau (N Khóm F,
phường T, tỉnh Cà Mau).
Địa chỉ hiện tại: Khóm B, phường H, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo:
Nguyễn Việt L1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Nguyễn Văn T Trần Thị L là nguyên đơn trình bày trong quá
trình giải quyết và tại phiên tòa như sau:
Vào đầu năm 2024 vợ, chồng ông T và L làm thuê tại vựa thu mua phế
liệu Ngọc P, đường D, khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau do bà Nguyễn Việt L1 làm
chủ doanh nghiệp. Vào thời gian trên, hàng ngày vựa thu mua phế liệu của L1
thu mua rất nhiều phế liệu và cần số tiền lớn để chi trả, nên bà L1 hỏi mượn tiền vợ
chồng ông, bà để đủ vốn thu mua hàng ngày nhưng vợ, chồng ông T và bà L không
có tiền để cho bà L1 mượn nên nhờ vợ, chồng ông T và bà L đứng ra vay vốn ngân
hàng cho L1 mượn để đủ vốn làm ăn. Vợ, chồng ông T L đem 03
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là: Số CX 913777 số vào sổ cấp GCN:
CS01591 cấp ngày 27/01/2021 với diện tích 3.971m
2
. Số DB 217715 số vào số cấp
GCN: CS01709 cấp ngày 12/3/2021 với diện tích 6.421,2m
2
. Số DD768831 số vào
sổ cấp GCN: CS02150 cấp ngày 11/11/2021 với diện tích 1.191,5m
2
đứng ra
vay vốn tại ngân hàng A - Chi nhánh A1 Mau cho Nguyễn Việt L1 vay với
số tiền 1.000.000.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Một tỷ đồng), L1 trách
nhiệm phải đóng lãi hàng tháng, trả tiền nợ gốc theo định kỳ. Định kỳ hạn trả nợ là
05 năm mỗi năm trả nợ gốc 200.000.000 đồng. Ngày 06/03/2025 phải trả số
tiền nợ gốc 200.000.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Hai trăm triệu đồng) nhưng
L1 vẫn không trả để nợ gốc giảm dần nên vợ, chồng ông, phải đáo hạn làm
hồ vay lại với số tiền 1.000.000.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Một tỷ đồng).
Tháng 6 năm 2025, vợ, chồng ông T L thông báo cho bà L1 biết đến
ngày 16/01/2026 bà L1 phải trả lại số tiền trên nhưng bà L1 không trả.
Ngày 06/3/2026 đến định kỳ hạn trả nợ gốc 200.000.000 đồng tiền lãi
hàng tháng L1 không đóng đã nợ ngân hàng đến nay là 60.000.000 đồng. Từ
tháng 02 năm 2026 đến nay vợ, chồng ông T bà L nhiều lần đến nhà nhưng nhà
khóa cửa ngoài, gọi điện cho bà L1 rất nhiều lần để hỏi về vấn đề trên nhưng bà L1
không nghe máy, đến ngày 05/3/2026 vợ, chồng ông T và bà L hẹn được với bà L1
đến nhà nói chuyện kêu bà L1 viết bản cam kết về thời gian trả nợ cho vợ,
chồng ông T và bà L và đóng lãi ngân hàng nhưng L1 hẹn thêm 03 ngày nữa về
viết bản cam kết vợ chồng ông, đồng ý, đến 03 ngày sau ngày 09/3/2026
vợ, chồng ông T và bà L đến nhà gặp bà L1 để bà L1 viết bản cam kết nhưng bà L1
lại không chịu viết bản cam kết trả nợ.
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu buộc Nguyễn Việt L1 ông
3
Nguyễn Hoàng T1 trả số tiền 1.004.200.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Một tỷ
không trăm lẻ bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn yêu cầu tiền lãi đến ngày xét xử bằng
26.500.000 đồng vốn 1.000.000.000 đồng, buộc L1 phải thanh toán, không
yêu cầu ông T1 trả nợ.
Nguyễn Việt L1 là bị đơn trình bày tại văn bản trình bày ý kiến nsau:
L1 thừa nhận vợ, chồng nợ số tiền 1.004.200.000 đồng của nguyên
đơn, bởi khoảng tháng 03/2024 do thiếu tiền làm vốn kinh doanh vựa thu mua
phế liệu nên L1 bàn với chồng ông Nguyễn Hoàng T1 hỏi mượn tiền
ông T (ông T là bạn của ông T1), ông Thông đồng Ý nên vợ, chồng bà đến gặp ông
T để hỏi mượn tiền. Khi đến gặp thì ông T trả lời không có tiền mặt nhưng cần tiền
thì ông sẽ thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông đvay tiền ngân
hàng cho vợ, chồng mượn lãi suất thì phải đóng. Vợ, chồng đồng ý
nhờ ông T vay 1.000.000.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Một tỷ đồng) cho vợ, chồng
mượn. Sau khi hợp đồng tín dụng với Ngân hàng A - Chi nhánh thành phố
Mau, khi ông T được giải ngân thì ông T đã đưa cho số tiền 1.000.000.000
đồng tiền mặt. Sau đó vợ, chồng dùng số tiền này đlàm vốn kinh doanh vựa
thu mua phế liệu.
Nay xác định ông Nguyễn Hoàng T1 thiếu ông Nguyễn Văn T
và bà Trần Thị L số tiền 1.004.200.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Một tỷ không trăm
lẻ bốn triệu hai trăm nghìn đồng), trong đó tiền vốn 1.000.000.000 đồng tiền
lãi 4.200.000 đồng đồng ý cùng ông T1 trả số tiền theo yêu cầu của nguyên
đơn.
Ông Nguyễn Hoàng T1 trình bày: Ông thừa nhận ông L1 vợ chồng
đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án. Việc vay nợ đối với L1 ông đã cung cấp
chứng cứ cho Tòa án, L1 chủ doanh nghiệp thu mua phế liệu, vợ chồng ông
vay nợ nhiều người cụ thể vay nợ chữ của ông cùng với L1 thì ông
thống nhất trả. Đối với khoản nợ của bà L1 nợ ông T bà L, ông xác định không vay
số nợ trên không sdụng món nợ này cùng với L1, nên ông không trách
nhiệm phải thanh toán cùng với L1. Đây nợ riêng của L1 L1 phải
trách nhiệm trả.
Tại Bản án dân sthẩm số 179/2026/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, đã quyết định (tóm tắt):
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T Trần
Thị L.
Buộc Nguyễn Việt L1 thanh toán cho ông Nguyễn Văn T Trần Thị L
số tiền 1.026.750.000 đồng.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án pquyền kháng
cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 06/7/2026 Nguyễn Việt L1 bị đơn kháng cáo (đơn ghi ngày
4
03/7/2026), yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc L1 trả toàn bộ số nợ
1.026.750.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyễn Việt L1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông T1 u cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền nghĩa v
theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Việt L1, giữ bản án dân
sự thẩm số 179/2026/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 1 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của Nguyễn Việt L1 là bị đơn nộp trong thời hạn
quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan htranh chấp, thời hiệu khởi kiện
thẩm quyền giải quyết đã được cấp thẩm xác định và thực hiện đúng theo quy
định pháp luật.
[2] t kháng cáo của bà Nguyễn Việt L1 yêu cầu xác định khoản nợ
1.000.000.000 đồng nghĩa vụ chung của vợ chồng và buộc ông Nguyễn Hoàng
T1 cùng liên đới thanh toán, thấy rằng: L1 trình bày việc vay tiền sự n
bạc, thống nhất với ông T1; số tiền vay được sử dụng làm vốn kinh doanh vựa thu
mua phế liệu, phục vụ sinh hoạt gia đình và trả lãi các khoản vay kinh doanh trước
đó. Ông T1 không thừa nhận cùng vay, cho rằng đây là nghĩa vụ riêng của bà L1.
[3] Tại cấp phúc thẩm, L1 cung cấp Hợp đồng thuê đất ngày 01/9/2023,
thể hiện ông T1 cùng thuê đất để sản xuất, kinh doanh đều tên trong
hợp đồng; Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá ngày 12/3/2024, Giấy nộp tiền ngày
14/3/2024, Biên bản thanh hợp đồng cùng bảng nợ ghi khoản nợ ông T
1.000.000.000 đồng. Các tài liệu này phù hợp với lời trình bày của bà L1 vviệc
vợ chồng cùng kinh doanh vựa thu mua phế liệu, khoản tiền vay được sử dụng vào
hoạt động kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T xác định ông ông T1 bạn, quen biết
trước khi ông cho L1 vay tiền. Khoản vay giá trị 1.000.000.000 đồng, phát
sinh trong thời gian vợ chồng bà L1, ông T1 cùng tổ chức kinh doanh vựa thu mua
phế liệu và cũng trong thời gian ông T làm công cho ông T1L1.
L1 trình bày vợ chồng đã bàn bạc, thống nhất vay tiền; bảng kê nợ có ghi
khoản nợ ông T 1.000.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T1 thừa nhận
ông viết bảng kê nợ nhưng ông viết dựa tn sổ nợ do L1 ghi; hợp đồng thuê đất
5
thể hiện bà L1 và ông T1 cùng thuê mặt bằng để sản xuất, kinh doanh. Liên kết với
các chứng cứ này, quan hệ bạn giữa ông T ông T1 tình tiết cũng cố lời
trình bày của L1 về việc ông T1 biết khoản vay. vậy, việc ông T1 cho rằng
không biết, không tham gia khoản vay hoàn toàn nghĩa vụ riêng của L1
chưa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.
vậy, căn cứ xác định khoản vay nghĩa vụ chung của vợ chồng theo
Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ tài khoản của
L1 không thể hiện số tiền 1.000.000.000 đồng để cho rằng không chứng
minh được mục đích sử dụng tiền vay chưa đánh giá đầy đủ chứng cứ, bởi các
bên đều xác định ông T giao tiền mặt cho bà L1.
[4] Tuy nhiên, khi khởi kiện, ông Nguyễn Văn T Trần Thị L yêu cầu
L1 và ông T1 cùng trả nợ; tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xác định chỉ yêu
cầu L1 thanh toán, không yêu cầu ông T1 trả nợ. Đây là việc nguyên đơn t
nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện nên cấp thẩm phải đình chỉ giải quyết
đối với yêu cầu buộc ông T1 trả nợ theo khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Cấp thẩm không tuyên đình chỉ đối với phần yêu cầu này thiếu sót, cần sửa
lại cho phù hợp.
[5] Theo khoản 1 Điều 288 Bộ luật Dân sự, đối với nghĩa vụ liên đới, bên có
quyền có thể yêu cầu bất kỳ người nào trong số những người có nghĩa vụ thực hiện
toàn bộ nghĩa vụ. Do nguyên đơn đã rút yêu cầu đối với ông T1 chỉ yêu cầu
L1 thanh toán nên kháng cáo của L1 yêu cầu buộc ông T1 cùng trả nợ cho
nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận. Sau khi thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, bà L1
quyền yêu cầu ông T1 thực hiện phần nghĩa vụ của ông theo khoản 2 Điều 288
Bộ luật Dân sự hoặc yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn xem xét, giải
quyết khoản nợ chung theo quy định pháp luật.
[6] Về số tiền phải thanh toán, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu bà
L1 trả 1.000.000.000 đồng tiền vốn 26.500.000 đồng tiền lãi, tổng cộng
1.026.500.000 đồng.
Mặc dù L1 không kháng cáo về số tiền lãi nhưng nội dung kháng cáo yêu
cầu xác định lại người có nghĩa vụ thanh toán liên quan trực tiếp đến toàn bộ khoản
nợ cấp thẩm buộc phải thực hiện. Do đó, theo Điều 293 Bộ luật Tố tụng
dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền xem xét phần nghĩa vụ này. Tại phiên
tòa thẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu L1 trả 1.000.000.000 đồng tiền vốn
26.500.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 1.026.500.000 đồng. Cấp thẩm buộc L1
trả 26.750.000 đồng tiền lãi, vượt yêu cầu của nguyên đơn 250.000 đồng. Do đó,
cần sửa bản án sơ thẩm, buộc bà L1 thanh toán 1.026.500.000 đồng.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của L1 về việc buộc ông T1 liên đới trả ncho nguyên đơn; sửa một phần bản
án thẩm về số tiền phải thanh toán đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của
nguyên đơn buộc ông T1 trả nợ.
6
[8] Do sửa bản án sơ thẩm nên án phí dân sự thẩm được điều chỉnh theo
số tiền L1 phải thanh toán. L1 phải chịu 42.795.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm; không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 5, Điều 143, khoản 2 Điều 244, Điều 293, khoản 2
Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng khoản 1 Điều 288 và các Điều 357, 463; 466; 468 Bộ luật Dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Việt L1 về việc buộc ông T1
liên đới trả nợ cho nguyên đơn.
Sửa một phần bản án thẩm số 179/2026/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Mau về số tiền phải thanh toán đình
chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc ông T1 trả nợ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T Trần
Thị L.
Buộc Nguyễn Việt L1 thanh toán cho ông Nguyễn Văn T Trần Thị L
số tiền 1.026.500.000 đồng (Một tỷ không trăm hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn
đồng).
Kể từ ngày đương sự có quyền đơn yêu cầu thi hành án, nếu đương sự
nghĩa vụ không tự nguyện thi hành xong khoản tiền trên, thàng tháng phải chịu
thêm lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm có giá ngạch.
Ông Nguyễn Văn T Trần Thị L không phải nộp án phí, vào ngày 06/4/2026
đã dự nộp án phí 2.510.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Hai triệu năm trăm mười
nghìn đồng), tại lai thu số 0003757, được nhận lại.
Nguyễn Việt L1 phải nộp số tiền 42.795.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Bốn mươi
hai triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Việt L1 không phải nộp. Ngày 06/7/2026 bà L1 đã
nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Ba trăm ngàn đồng), theo
biên lai số 0000286 của Thi hành án Dân sự tỉnh Cà Mau, được nhận lại.
Các quyết định khác của bản ánthẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Ninh Quang Thế Tiêu Hồng Phượng
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
9
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 554/2026/DS-PT Bản án số 554/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 554/2026/DS-PT Bản án số 554/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất