Bản án số 1594/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1594/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1594/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1594/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc L. 2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 06/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 -Thành phố Hồ Chí Minh.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1594/2026/DS-PT Bản án số 1594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1594/2026/DS-PT Bản án số 1594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1594/2026/DS-PT
Ngày: 21/8/2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên a:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Ông Đào Minh Đa
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
1018/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng 6 năm 2026 về Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4252/2026/QĐXXPT-DS ngày 06
tháng 7 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 12409/2026/QĐ-PT
ngày 06 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đỗ Thị K, sinh năm 1960; số CCCD: ************; địa
chỉ: tổ E, khu phố U, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975; số CCCD:
************; địa chỉ: số B, Trần Quang K1, khu phố Đ, phường Đ, Thành phố Hồ
Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 30/5/2025); có
mặt.
- Bị đơn: Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1970; số CCCD: ************; địa
chỉ: tổ A, khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu K2, sinh năm 1998; số CCCD:
************; địa chỉ: tổ G, thôn N, xã H, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ liên hệ: số
A 1054, tờ bản đồ số 47, đường số E, tổ A, khu phố U, phường T, Thành phố Hồ
2
Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 30/5/2025); có
đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Ngọc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/01/2022, Đỗ Thị K cho Nguyễn Ngọc L vay số tiền
2.500.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là
1,5%/tháng. Hai bên có lập giấy vay tiền.
Đến ngày 26/01/2022, bà L tiếp tục vay thêm của K 1.000.000.000 đồng;
thời hạn vay L cam kết strả cùng thời hạn của khoản vay 2.500.000.000 đồng
(tức ngày 06/01/2023); lãi suất của khoản vay thêm 1.000.000.000 đồng L cũng
hứa trả là 1,5%/tháng. Đối với khoản vay này, K cho rằng có lập giấy vay nhưng
đến ngày 26/01/2023, L trả 200.000.000 đồng L đề nghị K giao trả
giấy vay tiền 1.000.000.000 đồng để viết lại giấy khác xác nhận còn nợ 800.000.000
đồng. Bà K đã giao lại giấy vay cho L, nhưng sau đó bà L không ghi lại giấy vay
xác nhận số tiền còn nợ lại là 800.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền L vay 3.500.000.000 đồng; bà L trả được
200.000.000 đồng tiền gốc. Về lãi, L trả lãi được khoảng 10 (mười) tháng, mỗi
tháng là 50.000.000 đồng, tổng cộng là 500.000.000 đồng nhưng không trả trực tiếp
bằng tiền mặt L trả cho bà K bằng hình thức chơi hụi. Cụ thể, L nói có mở
các dây hụi (do bà L làm chủ) và kêu bà K tham gia, nếu chơi thì bà L sẽ dùng tiền
lãi để đóng vào những dây hụi cho bà K. Bà K đồng ý và tham gia chơi một số dây
hụi do L làm chủ. Quá trình chơi hụi, L giao cho K số
tiền 40.000.000 đồng, nhưng K không nhớ thời gian giao giao nhận trực
tiếp không nhận. Sau đó, không thấy L giao trả tiếp thì K hỏi và L trả
lời tiền lãi đã đóng vào chơi hụi, do hụi chưa kết thúc nên chưa lấy tiền về được.
Một thời gian sau thì L báo hụi bị bể từ đó không thanh toán thêm bất kỳ khoản
tiền nào cho bà K.
Theo thỏa thuận, tháng 4/2023 thời điểm đến hạn trả gốc số
tiền 3.300.000.000 đồng. K nhiều lần yêu cầu thanh toán thì L tiếp tục hứa
hẹn mà không thực hiện.
Đỗ Thị K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, cụ thể:
1. Buộc bà Nguyễn Ngọc L phải trả nợ gốc là 3.300.000.000 đồng;
2. Buộc L phải thanh toán tiền lãi, mức lãi suất 1,5%/tháng cho từng giai
đoạn của tổng số tiền cho vay 3.500.000.000 đồng, thời gian tính từ ngày
26/01/2022, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm, cụ thể:
- Số tiền 3.500.000.000 đồng, từ ngày 26/01/2022 đến ngày 26/01/2023 là 365
ngày = 3.500.000.000 đồng x 15%/năm thành tiền 532.291.000 đồng - 40.000.000
đồng, còn lại số tiền lãi là 492.291.000 đồng.
3
- Ngày 26/01/2023 đã trả 200.000.000 đồng, tiền gốc còn lại 3.300.000.000
đồng; tiền lãi phải thanh toán tngày 26/01/2023 tạm tính đến ngày 12/10/2025
1.060 ngày x 15%/ năm x 1060 ngày = 1.457.500.000 đồng.
Tổng số tiền gốc và lãi bà L phải trả là 5.249.791.000 đồng.
Bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:
Yêu cầu Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do chưa đủ điều kiện khởi kiện.
Nguyên đơn dựa vào giấy vay tiền ghi ngày 06/01/2022 để khởi kiện, nhưng bị đơn
xác định đây giao dịch vay không xác định thời hạn thanh toán không lãi
suất. Theo quy định tại Điều 469 Bộ luật Dân sự, đối với hợp đồng vay không kỳ
hạn, bên cho vay phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp trước khi khởi
kiện đòi nợ.
Về chứng cứ thông báo đòi nợ, vận đơn bưu điện số EH 825929694VN
ngày 15/5/2025 thể hiện người gửi là Đỗ Thị K, người nhận là Nguyễn Ngọc
L. Tuy nhiên, bà L khẳng định chưa nhận được thư và chưa ký nhận trên bất kỳ báo
phát nào. Qua tra cứu trên hệ thống E, địa chỉ phát thư được ghi nhận tại “Đường T,
Cụm K”, trong khi địa chỉ thường trú nơi trú thực tế của L “Tổ A, khu
phố Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương”. Do đó, nguyên đơn chưa thực
hiện nghĩa vụ báo trước theo quy định.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi nội
dung thừa nhận: Bị đơn đã thanh toán được số tiền lãi 52.500.000 đồng và 01 năm
tiền lãi với số tiền 630.000.000 đồng. Do đó, nguyên đơn điều chỉnh yêu cầu khởi
kiện, buộc bị đơn tr số nợ gốc là 3.300.000.000 đồng tiền lãi còn lại là
1.380.000.000 đồng.
Đối với các nội dung khác, người đại diện của bị đơn đã đơn đề nghị giải
quyết vắng mặt và văn bản nêu ý kiến như sau:
Về tố tụng: Đnghị đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn chưa đđiều kiện
khởi kiện. Về nội dung: Bị đơn chỉ thừa nhận chứng cứ giấy vay tiền ngày
06/01/2022 xác định đây khoản vay không thời hạn, không lãi suất. Đối với
khoản vay thêm 1.000.000.000 đồng, bị đơn hoàn toàn không thừa nhận không
đồng ý trả.
Tại Bản án dân sự thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 06/5/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị K đối với bị đơn
Nguyễn Ngọc L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Buộc Nguyễn Ngọc L thanh toán cho Đỗ Thị K số tiền ngốc lãi
tính đến hết ngày 06/5/2026 là 4.680.000.000 đồng (Bốn tỷ sáu trăm tám mươi triệu
đồng), trong đó:
- Gốc là 3.300.000.000 đồng (Ba tỷ ba trăm triệu đồng);
- Tiền lãi là 1.380.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm tám mươi triệu đồng).
4
Ngoài ra, Nguyễn Ngọc L còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày
07/5/2026 trên số nợ gốc, mức lãi suất đã thỏa thuận 15%/năm cho đến khi thanh
toán xong toàn khoản nợ cho bà Đỗ Thị K.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ
thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ yêu
cầu khởi kiện. Người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng
mặt và kèm theo là văn bản giải trình nội dung kháng cáo.
Đại din Vin Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng cáo của bị
đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương
sự và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Ngọc L ông Nguyễn Hữu
K2 đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt ông K2 theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn yêu cầu áp dụng Điều 469 của Bộ luật Dân sự để đình chỉ giải quyết
vụ án do nguyên đơn chưa đủ điều kiện khởi kiện. Xét, nguyên đơn đơn khởi kiện
bị đơn ngày 02/10/2025 Tòa án cấp thẩm đã thụ vào ngày 04/11/2025. Theo
K, hợp đồng vay giữa nguyên đơn bị đơn khoản vay lãi nguyên đơn
chứng minh bằng các tin nhắn được ghi nhận tại Vi bằng số 142 ngày 16/3/2026 thể
hiện nguyên đơn nhiều lần yêu cầu bị đơn trả nợ vay cho mình. L vi phạm nghĩa
vụ trả lãi cho nguyên đơn, nên nguyên đơn quyền khởi kiện yêu cầu L thực
hiện nghĩa vụ trả lại số tiền đã vay bất cứ lúc nào do quyền và lợi ích của bà K đã bị
xâm phạm theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, bị đơn yêu cầu
đình chỉ giải quyết vụ án là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà L người đại diện hợp pháp
của bà L yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn chưa
đủ điều kiện khởi kiện (chưa thông báo cho bị đơn theo quy định tại Điều 469 của
Bộ luật Dân sự) và cho rằng khoản vay 2.500.000.000 đồng là khoản vay không có
lãi, không kỳ hạn; không thừa nhận khoản vay 1.000.000.000 đồng và chỉ cung cấp
chứng cứ vận đơn bưu điện EH 825929694VN ngày 15/5/2025 để chứng
minh bị đơn không nhận được thông báo từ nguyên đơn. Ngoài chứng cứ trên, bị
đơn không ý kiến hay phản bác đối với các chứng cứ còn lại do nguyên đơn
xuất trình vắng mặt tại phiên tòa thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn
5
người kháng cáo và người đại diện hợp pháp của bị đơn xin vắng mặt, cung cấp văn
bản trình bày nội dung như đã trình bày tại Tòa án cấp thẩm, không cung cấp
chứng cứ nào khác. Như vậy, bị đơn xin vắng mặt quyền của bị đơn, tuy nhiên v
nghĩa vụ chứng minh của đương sự; những vấn đề Hội đồng xét xử phúc thẩm cần
làm cho nội dung kháng cáo nhưng bị đơn không mặt để trình bày, chứng minh
cho kháng cáo của mình. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào chứng cứ tại hồ
sơ để xem xét nội dung kháng cáo của bị đơn.
[4] Chứng cứ nguyên đơn khởi kiện bị đơn “giấy vay tiền” ngày 06/01/2022,
số tiền vay 2.500.000.000 đồng các tin nhắn được nguyên đơn lập vi bằng theo
Vi bằng số 142 ngày 23/6/2023 để chứng minh khoản vay 1.000.000.000 đồng; tổng
số tiền vay còn lại là 3.300.000.000 đồng và mức lãi suất là 1,5%/tháng.
[5] Bị đơn thừa nhận chứng cứ là “giấy vay tiền” ngày 06/01/2022, số tiền vay
2.500.000.000 đồng nhưng cho rằng việc vay mượn không kỳ hạn không thỏa
thuận lãi suất, đồng thời không thừa nhận số tiền vay 1.000.000.000 đồng.
[6] Xét, bị đơn cho rằng khoản vay 2.500.000.000 đồng không thỏa thuận
lãi suất 1,5% không thừa nhận khoản vay 1.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo
chứng cứ tin nhắn được ghi nhận tại trang 15 (hình 30 và 31) của Vi bằng, nội dung
tin nhắn bị đơn thừa nhận có nhận số tiền vay 3.500.000.000 đồng và bị đơn trả lãi
cho nguyên đơn 52.500.000 đồng (tương ứng lãi suất 1,5%), sau đó bị đơn đã thanh
toán số tiền gốc 200.000.000 đồng. Như vậy, lời trình bày của nguyên đơn phù hợp
với nguồn chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Bị đơn không thừa nhận nhưng không
đưa ra được chứng cứ chứng minh hoặc phủ nhận nguồn chứng cứ do nguyên đơn
xuất trình.
[7] Như vậy, khoản vay giữa nguyên đơn bị đơn là khoản vay không có kỳ
hạn lãi. Bị đơn vay của nguyên đơn tổng số tiền 3.500.000.000 đồng, trả nợ
gốc được 200.000.000 đồng, còn nợ lại nguyên đơn số tiền nợ gốc 3.300.000.000
đồng. Do đó, Tòa án cấp thẩm tuyên buộc bđơn trả stiền ngốc 3.300.000.000
đồng là có căn cứ.
[8] Về lãi suất: Mức lãi suất các bên thỏa thuận 1,5%/tháng (tức 18%/năm) là
phù hợp theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ
yêu cầu mức lãi suất 15%/năm là có lợi cho bị đơn nên Tòa án cấp thẩm ghi nhận
mức lãi suất trên để làm căn cứ tính lãi là sở. Theo đó, Tòa án cấp thẩm xác
định tổng số tiền lãi đến ngày xét xử thẩm 2.010.000.000 đồng, khấu trừ số tiền
lãi bị đơn đã thanh toán là 630.000.000 đồng, buộc bị đơn thanh toán số tiền lãi còn
lại là 1.380.000.000 đồng là có căn cứ.
[9] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp
nhận.
[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại
phiên tòa là phù hợp.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, Điều 296, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng
dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc L.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 06/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 17 -Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về án phí phúc thẩm: Nguyễn Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng), được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0035485
ngày 04 tháng 6 năm 2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 17 – Thành phố
Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 17 – Thành phố Hồ C
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (11), 72.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Mộng Tuyết
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1594/2026/DS-PT Bản án số 1594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1594/2026/DS-PT Bản án số 1594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất