Bản án số 642/2026/DS-PT ngày 15/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 642/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 642/2026/DS-PT ngày 15/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 642/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 642/2026/DS-PT Bản án số 642/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 642/2026/DS-PT Bản án số 642/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 642/2026/DS-PT
Ngày: 15-7-2026
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
về sức khỏe
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạt
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thu Hương
Ông Lê Văn Phận
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Xa Riêng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét x
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 302/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng 5 năm
2026 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2026/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 551/2026/QĐXXPT-DS
ngày 04 tháng 6 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 711/2026/QĐ-PT
ngày 24 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phan Thị T, sinh năm 1979. Địa chỉ: khóm K, phường T,
tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Trầm Thị Thanh T1, sinh
năm 1985. Địa chỉ: ấp B, S, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản y quyền ngày
04/5/2026). Địa chỉ liên hệ: khóm L, phường D, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn yêu cầu
xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp C, L, tỉnh Vĩnh
Long. Địa chỉ liên hệ: ấp K, phường T, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt)
2
- Người kháng cáo:Nguyễn Thị T2, là Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm;
* Theo đơn khởi kiện ngày 04/8/2025, bản tự khai tại phiên tòa thẩm,
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thị T thể hiện:
Do mâu thuẫn cá nhân, ngày 29/4/2025 giữa bà Phan Thị T và bà Nguyễn Thị
T2 xảy ra xô xát. Trong quá trình xảy ra sự việc, bà T2 đã có hành vi tấn công, gây
thương tích cho T tại vùng chân mày trên mắt phải, làm T phải nhập viện
điều trị 13 ngày. Sau điều trị, bà T để lại sẹo vùng trán, chân mày, ảnh hưởng đến
thẩm mỹ giao tiếp hằng ngày. T cho rằng hành vi của T2 đã xâm phạm
trực tiếp đến sức khỏe của bà, gây thiệt hại về vật chất tinh thần nên khởi kiện
yêu cầu Tòa án buộc T2 bồi thường các khoản gồm: Chi phí điều trị 13 ngày:
16.994.201 đồng; tiền xe đi lại: 4.600.000 đồng; tiền mất thu nhập ăn uống
trong thời gian nằm viện (13 ngày): 5.200.000 đồng; chi phí đi lại để làm thẩm mỹ
vết thương: 10.000.000 đồng; tiền xóa sẹo, làm lại chân mày: 3.500.000 đồng; tiền
bồi thường tổn thất tinh thần bằng 10 tháng lương sở 24.500.000 đồng. Tổng
cộng số tiền yêu cầu bồi thường là 64.794.201 đồng.
* Tại buổi hòa giải ngày 09/01/2026 tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Thị
T2 trình bày:
không đồng ý bồi thường theo yêu cầu khởi kiện của T. T2 thừa
nhận hành vi tát cắn vào mặt T trong lúc xảy ra xô xát. Tuy nhiên T2
cho rằng T cũng có lỗi trong sự việc này T thường xuyên xúc phạm danh
dự và nhân phẩm của T2 bằng việc đăng ảnh thông tin không đúng sự thật
lên mạng xã hội Facebook. Do đó các bên không thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi
kiện cụ thể như sau: Tiền xe đi lại do cộng nhầm nên nay chỉ yêu cầu 4.400.000
đồng; chi phí đi lại để làm thẩm mỹ vết thương 10.000.000 đồng thay đổi thành
khoản tiền điều trsẹo 5.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần vẫn giữ nguyên
yêu cầu 10 tháng lương cơ sở với số tiền đúng theo quy định là 23.400.000 đồng.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Toàn bộ yêu
cầu bồi thường của nguyên đơn bà Phan Thị T là không có căn cứ cả về pháp lý lẫn
thực tế. Cụ thể, đối với chi phí điều trị và thu nhập bị mất, việc nguyên đơn điều trị
tại Bệnh viện C không hợp vết thương nhẹ, hoàn toàn thể điều trị tại
tuyến tỉnh; đồng thời không có giấy chuyển viện để chứng minh sự cần thiết. Hồ sơ
bệnh án còn cho thấy khả năng tồn tại thêm tổn thương khác, không hoàn toàn do
3
bị đơn gây ra. Bên cạnh đó, yêu cầu bồi thường thu nhập 400.000 đồng/ngày
không sở, do công việc mang tính thời vụ thu nhập thực tế thấp hơn, lại
không có tài liệu chứng minh. Đối với các khoản chi phí đi lại thẩm mỹ, các
chứng từ do nguyên đơn cung cấp đều không hợp lệ, thiếu thông tin, không được
xác nhận và còn mâu thuẫn với lời khai, nên không đủ giá trị chứng minh theo quy
định pháp luật. Mặt khác, yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần với mức 10 tháng
lương sở không phù hợp với mức đthương tật chỉ 7%, vốn không gây ảnh
hưởng đáng kể đến sinh hoạt hay giao tiếp của nguyên đơn. Thực tế cho thấy
nguyên đơn vẫn sinh hoạt, giao tiếp bình thường, không có biểu hiện bị ảnh hưởng
tâm nghiêm trọng. Ngoài ra, khoản chi plàm lại chân mày cũng không
sở chưa được thực hiện trên thực tế. Từ những phân tích nêu trên, luật đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân Khu vực 14 Vĩnh Long đã đưa
vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2026/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Vĩnh Long đã tuyên:
Căn cứ vào:
- Các Điều 26, 35, 39, 147 và 273 của Bộ luật Ttụng dân sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2025);
- Các Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự;
- Nghquyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ
luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T.
Buộc Nguyễn Thị T2 phải bồi thường cho Phan Thị T số tiền
46.472.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí,
thi hành bản án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 14/4/2026, bị đơn Nguyễn Thị T2 kháng cáo yêu cầu sửa bản án
thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người đại diện theo y quyền của nguyên đơn trình bày không đồng ý kháng
4
cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định
của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa
vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Xét thấy kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ, đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận
kháng o của bị đơn Nguyễn Thị T2, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
23/2026/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 14
Vĩnh Long.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ đã được thẩm tra công khai
tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét
kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T2; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bđơn Nguyễn Thị T2 kháng cáo thực hiện c thủ tục kháng o hợp
lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự pc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T2, Hội đồng xét xử xét thấy:
2.1. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường các khoản gồm:
- Chi phí điều trị 13 ngày với số tiền là 16.994.201 đồng, qua xem xét các hóa
đơn, chứng từ nguyên đơn giao nộp sở xác định số tiền 16.789.000 đồng
chi phí thực tế phát sinh đ điều trị thương tích của T. Tiền xe đi lại
4.400.000 đồng (gồm chuyến xe chở đi cấp cứu t T H đến Bệnh viện Đ;
chuyến xe từ Bệnh viện Đ đến Bệnh viện C và chuyến về từ Bệnh viện C về huyện
C), xét thấy các yêu cầu này phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị
quyết s02/2022 ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân n tối
cao nên được chấp nhận.
- Tiền mất thu nhập: T cho rằng làm thuê theo ngày, ng việc không ổn
định, mỗi ngày khoảng 250.000 đồng, nhưng không chứng minh được mức thu
nhập thực tế. Tuy nhiên, theo ý kiến của luật bảo vệ quyền lợi của T2 tại
phiên tòa thẩm thì thu nhập thực tế tại địa phương khoảng từ 170.000 đồng đến
200.000 đồng. Do đó n cứ chấp nhận một phần yêu cầu của T, buộc T2
bồi thường tiền mất thu nhập trong 13 ngày điều trị, mỗi ngày 200.000 đồng,
tương ứng với 2.600.000 đồng.
5
- Tiền ăn uống: Tiền ăn uống nêu trong đơn khởi kiện của nguyên đơn được
xác định là “Chi phí bồi dưỡng sức khỏe” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7
Nghị quyết số 02/2022 ngày 06/9/2022 nên được chấp nhận 13 ngày lương tối
thiểu vùng tại skhám bệnh, chữa bệnh. Bệnh viện C thuộc vùng 1, lương tối
thiểu 4.960.000 đồng/tháng, n mỗi ngày 191.000 đồng (4.960.000 đồng/26
ngày). Buộc bà T2 phải bồi thường cho T 13 ngày x 191.000 đồng = 2.483.000
đồng.
- Tiền bồi thường chi phí làm lại chân mày 3.500.000 đồng và chi phí điều trị
sẹo 5.000.000 đồng, căn cứ hóa đơn dịch vụ ngày 03/8/2025, biên bản xác minh
ngày 01/4/2026 tại Thẩm mỹ viện T4 ở Khóm A, phường D, tỉnh Vĩnh Long05
phiếu thu tiền của Phòng khám bệnh ngoại bỏng - Phẫu thuật tạo hình Dr.Phước
T3, cùng với tình trạng thương tích trên vùng trán, chân mày của bà T (02 hình ảnh
thực tế thương tích của T), căn cứ để chấp nhận đây là khoản chi phí cần
thiết nhằm khắc phục hậu quả do thương tích gây ra nên buộc T2 phải bồi
thường cho bà T khoản tiền này là phù hợp.
- Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần: Thấy rằng vùng mặt bộ
phận ý nghĩa đặc biệt về thẩm mỹ, nhân diện giao tiếp hội. Việc T bị
T2 cắn trên vùng mặt không chỉ phải chịu đau đớn thể xác còn để lại sẹo
trên vùng trán, chân mày, ảnh hưởng đến ngoại hình, tác động trực tiếp đến tâm lý,
sự tự tin sinh hoạt hằng ngày, nhất đối với phụ nữ. Tổn thương này không
phải tổn thương kín đáo thương tích lộ rõ, khó che giấu, gây mặc cảm, tự
ti trong quan hệ xã hội. Theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự, người
bị xâm phạm sức khỏe được bồi thường một khoản tiền để đắp tổn thất về tinh
thần, mức bồi thường do c bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì tối đa
không quá 50 lần mức lương sở. Với tính chất, mức độ của vviệc, Hội đồng
xét xử chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần với mức 05 tháng
lương cơ sở, tương ứng với số tiền 11.700.000 đồng.
Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn
phải bồi thường cho nguyên đơn tổng số tiền là 46.472.000 đồng.
2.2. Về việc c định lỗi trong vụ việc: Đối với ý kiến của bị đơn T2 cho
rằng T cũng lỗi T xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà. Theo Điều
585 Bluật Dân sự quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì Khi bên bị
thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do
lỗi của mình gây ra”. Tuy nhiên, T2 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ đ
chứng minh hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của T. Mặt khác, T2
người chủ động đi đến nhà tìm bà T, trong lúc cãi nhau vì bức xúc nên bà T2 đã tát
T trước, sau đó tiếp tục cắn vào mặt T. Hành vi này là nguyên nhân trực tiếp
6
gây ra thiệt hại, thể hiện lỗi cố ý của bà T2. Do đó, có đủ cơ sở xác định bà T2 phải
chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh như đã nêu ở trên.
2.3. T2 trình bày T liên tục xúc phạm trong thời gian dài nên
đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống, tinh thần tình cảm vchồng của bà, do
đó T2 quyền khởi kiện một vụ kiện khác yêu cầu T bồi thường thiệt hại
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm theo quy định của pháp luật.
[3] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của bđơn Nguyễn Thị T2
cũng như những lời trình bày, tranh luận tại phiên tòa xét thấy yêu cầu kháng o
của bị đơn không sở nên không được chấp nhận. vậy, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn Nguyễn Thị T2
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị T2, giữ nguyên Bản
án dân sự thẩm số: 23/2026/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 14 – Vĩnh Long.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Áp dụng các Điều 584, 585 và 590 của Bộ luật Dân sự;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định
của bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T.
Buộc Nguyễn Thị T2 phải bồi thường cho Phan Thị T số tiền
46.472.000 (bốn mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
7
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T2 phải nộp 2.324.000 đồng.
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyễn Thị T2 phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc
thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng
theo biên lai số 0007010 ngày 14/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
T2 đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi nh án quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36, 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND Khu vực 14 – Vĩnh Long;
- Phòng THADS Khu vực 14 – Vĩnh Long;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND tỉnh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Minh Đạt
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 642/2026/DS-PT Bản án số 642/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 642/2026/DS-PT Bản án số 642/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất