Bản án số 51/2026/DS-PT ngày 09/07/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 51/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 51/2026/DS-PT ngày 09/07/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 51/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH X- Công ty Cổ phần P - Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 51/2026/DS-PT Bản án số 51/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 51/2026/DS-PT Bản án số 51/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 51/2026/DS-PT
Ngày: 09-7-2026
V/v tranh chấp bồi thường
thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương.
Các Thẩm phán: Ông Dương Viết Hải; bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
- Thư phiên tòa: Hoàng Thị Minh Nguyệt - Thư k Ta án nhân dân
tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tố Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Ta án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét
xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ l số: 35/2026/TLPT-DS ngày 18 tháng 5 năm
2026 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”.
Do bản án dân sự thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026
của Ta án nhân dân khu vực 3 Quảng Trị bị nguyên đơn Công ty TNHH X
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 39/2026/QĐ-PT ngày
10 tháng 6 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà số 74/2026/QĐPT-DS ngày
24/6/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH X; địa chỉ: Số F Đ, phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh (trước đây là phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Duy Đ - Giám đốc Công ty. Vắng
mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Xuân S - Phó Giám đốc ng ty;
địa chỉ: Số F Đ, phường T, Thành phố H Chí Minh. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn H -
Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH MTV Lê Văn Đoàn Luật sư Thành phố H; địa
chỉ: 2 Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần P; địa chỉ: thôn M, xã P, tỉnh Quảng Trị (trước
đây là xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Long Phi Như Ý - Giám đốc Công ty.
Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Doãn Thị Thu C; địa chỉ: Tổ dân phố Đ,
phường Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo c tài liệu trong hồ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như
sau:
Nguyên đơn trình bày: ng ty TNHH X Công ty Cổ phần P k Hợp
đồng kinh tế số 07/2014/HĐKT/PVC IMICO QB - THANH NAM ngày
01/4/2014 về việc khai thác đất phủmỏ đá của Công ty P, thời gian 36 tháng,
khối lượng khai thác 1.300.000 m
3
. Nội dung hợp đồng Công ty P giao cho
Công ty X thi công bốc đất tầng phủ và khai thác chế biến đá mỏ đá Khe Lau tại
Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo thiết kế mỏ đã được phê duyệt. Công ty X
đã chuẩn bị nhân sự, tập kết vật tư, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, đặc biệt là dàn
máy xay nghiền đá, xây dựng 100m
2
nhà xưởng bằng khung sắt lợp tôn. Đã tiến
hành sản xuất ra sản phẩm đá theo yêu cầu của Hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, do Công ty P vi phạm nghĩa vụ nên
Công ty X đã khởi kiện yêu cầu Công ty P bồi thường thiệt hại đối với những
khoản chi phí phía Công ty X đã bỏ ra để thi công mỏ đá Khe Lau nhưng
không bao gồm gtrị dàn máy xay đá 100m
2
nhà xưởng khung sắt, mái lợp
tôn. Vì khi đó dàn máy vẫn thuộc quyền sỡ hữu của Công ty X đang trong quá
trình giải quyết vụ án. Đối với nhà xưởng, Công ty X bảo quản vật tư, thiết bị và
dự kiến tháo dỡ khi vụ kiện được giải quyết bằng bản án, quyết định hiệu lực
pháp luật.
Khoảng đầu năm 2022, Công ty X phát hiện dàn máy xay đá đã bị cắt vụn,
nhà xưởng đã bị phá dỡ nên đã đơn gửi Công an huyện Q đề nghị xử l những
người cắt dàn máy, nhà ởng này về hành vi cố làm hỏng hoặc hủy hoại
tài sản của người khác”. Ngày 10 tháng 3 năm 2022, Công an huyện Q Văn
bản số 606/CAQT trả lời đơn. Theo đó, Công an huyện Q cho rằng “vào ngày 16
tháng 02 năm 2022, Công ty P đã tiến hành mời đại diện Ban cán sự thôn M,
Q, nơi mỏ đá hoạt động người chứng kiến tiến hành kiểm tài sản, hiện
trường tháo gỡ trạm máy nghiền, xay đá của Công ty X”.
Không đồng  với nội dung trả lời trên, Công ty X tiếp tục có đơn yêu cầu
Công an huyện Q xử l hình sự đối với những người đã cắt nát dàn máy xay đá
tháo dỡ toàn bộ nhà xưởng 100m
2
làm bằng khung sắt, mái lợp tôn. Sau đó,
Công an huyện Q ban hành các văn bản giải quyết, trả lời Công ty X. Nội dung
các văn bản này Công an huyện Q đều xác định Công ty P tháo dàn máy xay
nghiền đá của Công ty X và 100m
2
nhà xưởng là quan hệ dân sự nên không khởi
tố vụ án. Như vậy, dàn máy xay đá và 100m
2
nhà xưởng thuộc quyền sở hữu của
Công ty X nhưng đã bị Công ty P cắt nát là trái pháp luật, xâm hại đến quyền, lợi
ích gây thiệt hại về tài sản đối với Công ty X. Trước khi bị cắt rời, hệ thống
máy móc của Công ty X vẫn hoạt động bình thường, bằng chứng Công ty X đã
sản xuất ra 3000m
3
đá học và 5000m
3
đá dăm loại 2. Các hóa đơn, chứng từ, hợp
đồng mua bán tài sản Công ty X đã nộp cho Ta án.
Ngày 05/01/2022, Công ty Cổ phần P văn bản số 05.01/2022/CV-
IMICO gửi Công ty X trong đó đã thừa nhận trên hiện trường mỏ đá Khe L tồn
tại hai tài sản là: 01 Nhà kho diện tích khoảng 100m
2
và 01 giàn máy xay nghiền
đá. Đồng thời yêu cầu công ty X di dời tài sản ra khỏi công trường. Ngày
14/01/2022, Công ty X có công văn số 06/2022/CV trả lời Công ty P yêu cầu giữ
nguyên hiện trạng tài sản thuộc sở hữu của Công ty X bao gồm thiết bị máy móc,
3
dây chuyển sản xuất đá, nhà xưởng, kho bãi khai trình của mỏ đá. Hiện tại
Công ty X cũng không rõ dàn máy xay, 100m
2
nhà xưởng nằm ở đâu.
Ngày 23/8/2023, Công ty X đã tiến hành lập Vi Bằng ghi nhận hiện trạng
những thiệt hại do hành vi hủy hoại tài sản của Công ty P đối với các tài sản của
Công ty X. Theo ghi nhận tại hiện trường thì ngoài giàn máy xay nghiền đá
100m
2
nhà xưởng bị Công ty P cắt vụn ra thì tài sản của Công ty X cn bị hỏng
bao gồm: 01 gầu máy đào (Bao gồm cả răng gầu); 01 máy nén khí. Công ty X
khởi kiện bổ sung, đnghị Ta án xem xét buộc Công ty P bồi thường thêm g
trị tài sản bị thiệt hại. Tổng gtrị khởi kiện của Công ty X yêu cầu Công ty P bồi
thường là 4.470.167.616 đồng, bao gồm:
- 01 dàn máy xay: 2.144.726.793 đồng; 100m
2
nhà xưởng: 200.000.000
đồng; 01 gầu máy đào (Bao gồm cả răng gầu), giá trị yêu cầu bồi thường theo
thực tế của gầu máy đào là: 100.000.000 đồng và bộ răng gầu là 1.800.000 đồng
theo hóa đơn mua hàng số 0070335 ngày 21/9/2015. Tổng giá trị gầu và răng gầu
101.800.000 đồng; 01 máy nén khí, giá trị yêu cầu bồi thường: 310.000.000
đồng theo hóa đơn số: 0074075 ngày 06/10/2009.
- Chi phí lãi vay cho phần giá trị tài sản bị hủy hoại: Giá trị đề nghị tính lãi
toàn bộ giá trị tài sản của Công ty X đã bị Công ty P làm hỏng là:
2.756.526.793 đồng; Thời điểm tính lãi: Từ ngày Công ty P cắt bỏ tài sản của
Công ty X là ngày 16/02/2022 theo Biên bản kiểm tra hiện trường của Công ty P
đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật và Công ty P trả tiền cho ng ty X. ng
ty X tạm tính đến ngày 07/4/2026. Lãi suất: 10%/năm, nhân với lãi suất quá hạn
150%. Tổng tiền lãi tính đến ngày 07/4/2026 là 1.713.640.823 đồng.
- Chi phí đi lại, ăn ở cho cán bộ, nhân viên Công ty X để tham gia vụ kiện
kể từ thời điểm Giấy triệu tập lần đầu của quan Ta án nhân dân huyện
Quảng Trạch cho đến khi vụ án được tuyên án. Tại phiên toà, phía nguyên đơn
không yêu cầu Toà án giải quyết mà rút đối với yêu cầu này.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ căn cứ các quy định của pháp luật để chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn trình bày: Ngày 01/4/2014, Công ty X Công ty P k Hợp đồng
kinh tế số 07/2014/HĐKT/PVC IMICO QB - THANH NAM, về việc khai thác
đất phủ m đá của Công ty P, thời gian 36 tháng, khối lượng khai thác
1.300.000 m
3
. Thực hiện theo Hợp đồng, Công ty P đã nhiều lần yêu cầu Công ty
X thực hiện việc khai thác nhưng Công ty X không thực hiện như Hợp đồng
hai bên đã k kết (Hệ thống giàn máy của Công ty X đưa vào hoạt động từ tháng
8/2014 đến khoảng tháng 10/2014 thì không hoạt động, sản xuất nữa).
Do một thời gian dài Công ty X không khai thác, cung cấp vật liệu để Công
ty P bàn giao cho đối tác nên năm 2022, Công ty P văn bản đề nghị Công ty X
chuyển tài sản ra khỏi khu vực mỏ đá của Công ty P nhưng Công ty X không thực
hiện nên Công ty P đã báo cáo UBND xã Q đề nghị giúp đỡ tháo dỡ, di chuyển
tài sản ra khỏi mặt bằng, phạm vi mđá Khe Lau. Trước khi di chuyển tài sản,
máy móc, nhà xưởng Công ty P cũng đã tiến hành lập biên bản hiện trạng dưới sự
chứng kiến của thôn, đại diện Công ty X, người dân địa phương, toàn bộ tài sản
đã hư hỏng, rỉ sét không cn giá trị sử dụng. Sau khi kiểm tra hiện trạng Công ty
4
P đã tháo dỡ máy móc, nhà xưởng và tập kết tại kho bãi của Công ty P. Do vậy,
Công ty X yêu cầu Công ty P bồi thường 4.470.167.616 đồng Công ty P không
đồng .
Ngoài ra, năm 2020, Nguyễn Thị S1 nhận chuyển nhượng tcác cổ đông
(liên quan đến k kết Hợp đồng số 07/2014). Đến ngày 30/11/2023, ông
Ngọc L1 nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị S1 thay đổi pháp nhân từ
Phan Thị T. Sau khi nhận chuyển nhượng lại cổ phần đã thông báo đến các đối
tác hợp tác kinh doanh từ các hợp đồng của các đối tác đã k kết với Nguyễn
Thị T1 đến nhận lại thiết bị, tài sản. Các đối tác đã đến nhận và di chuyển ra khỏi
công trường. Công ty P đã thay đổi Cổ đông. Công ty P hiện tại do ông Vũ Ngọc
L1 làm Giám đốc không liên quan quá trình bàn giao tài sản theo hợp đồng
chuyển nhượng vốn góp giữa Công ty P do bà Nguyễn Thị S1 làm Chủ tịch
HĐQT và Công ty P hiện tại do ông Ngọc L1 làm Giám đốc không bàn giao
các tài sản của Công ty X. Công ty P do Nguyễn Thị S1 làm Chủ tịch HĐQT
là đơn vị đã tháo dỡ, di dời tài sản của Công ty X.
Công ty X người lỗi trong việc không di dời tài sản Công ty X đã
vi phạm hợp đồng về khai thác đá k kết. Công ty P không lỗi bởi vì trước khi
tháo dỡ, di dời tài sản, Công ty P đã ban hành nhiều văn bản, công văn cho Công
ty X về việc yêu cầu Công ty X tự di dời các tài sản ra khỏi mặt bằng mỏ đá Khe
Lau nhưng Công ty X vẫn không thực hiện. Nên Công ty P thời điểm bà Nguyễn
Thị S1 làm Chtịch HĐQT đã lập biên bản kiểm tra hiện trường các tài sản không
có chủ, có sự chứng kiến của Bảo vệ Công ty X và Trưởng thôn, đã di dời ra khỏi
diện tích mặt bằng mỏ đá. Quá trình di dời tài sản do một số thiết bị được lắp ráp
nguyên khối nên Công ty P đã tháo rời một số bộ phận để vận chuyển. Các thiết
bị, máy móc vẫn nguyên gtrị, nếu bị hỏng do Công ty X để ngoài trời,
không che chắn. Công ty P khẳng định không nhận chuyển nhượng bất kỳ tài sản
nào từ Nguyễn Thị S1 các cổ đông . Không bất kỳ sự hợp tác nào
với Công ty X. Tại dự án không có bất cứ tài sản nào của cổ đông cũ có liên quan
đến Công ty X. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và đối
chiếu với các quy định của pháp luật đkhông chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Bản án thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 07/4/2026 của Ta án nhân dân
khu vực 3 – Quảng Trị quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 161, 162, 229 Điều 244 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; các Điều 584, 585, 588 và 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 26
Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH X
đối với bị đơn Công ty Cổ phần P về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài
sản bị xâm phạm”.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đã rút của nguyên đơn Công ty TNHH
X về việc bồi thường, thanh toán các khoản chi phí đi lại, ăn, ở cho cán bộ, nhân
viên tham gia vụ kiện.
5
Ngoài ra bản án thẩm cn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 10/4/2026, nguyên đơn Công ty TNHH X đơn kháng cáo đề nghị
Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự thẩm số 06/2026/DS-ST ngày
07/4/2026 của Ta án nhân dân khu vực 3 – Quảng Trị theo hướng chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên ta phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề
nghị Ta án cấp phúc thẩm sửa án thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc bị đơn phải bồi thường thiệt hại tính đến ngày 09/7/2026 số tiền
4.572.358.518 đồng với các lý do: Công ty P đã thừa nhận công ty đã dịch chuyển
tài sản của Công ty X ra khỏi khu vực mỏ đá Khe Lau theo vi bằng xác định
việc công ty X đã đến kiểm tra hiện trạng ngày phát hiện tài sản gồm dàn máy xay
đá, máy nén khí, gầu máy xúc nhà xưởng đã bị hỏng do btháo rời không
cn sử dụng được. ng ty P di dời tài sản của công ty X (khi hai bên chưa thanh
l hợp đồng) dẫn đến tài sản bị mất mát, hỏng nên phải trách nhiệm bồi
thường.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị không chấp nhận kháng cáo
Công ty P không có trách nhiệm bảo quản tài sản cho Công ty X, trước khi di dời
đã ra thông báo nhiều lần yêu cầu Công ty X di dời tài sản để trả lại mặt bằng cho
công ty P nhưng vẫn không thực hiện nên buộc IMICO phải di dời. Khi di dời thì
tài sản đã bị hỏng, rỉ rét các tài sản nói trên để ngoài trời không được bảo
quản, không vận hành từ năm 2014 đến khi bị di dời vào tháng 11/2022. Công ty
X không áp dụng các biện pháp đbảo quản tài sản của mình nên dẫn đến
hỏng, mất mát, không phải lỗi của công ty P nên công ty không trách nhiệm
phải bồi thường.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu kiến về việc
chấp hành pháp luật tố tụng của Ta án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã
thực hiện đúng các quy định của B lut T tng dân s.
- V nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ
thẩm s 06/2026/DS-ST ngày 07/4/2026 của Ta án nhân dân khu vực 3 – Quảng
Trị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
ta và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên ta, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn cho rằng Toà án cấp sơ thẩm chưa xem
xét đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, khách quan, không căn cứ kết quả tranh
tụng để tuyên án làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, đề
nghị Ta án chấp nhận yêu cầu buộc Công ty Cổ phần P phải bồi thường thiệt hại
do hành vi tháo dỡ làm hư hỏng tài sản của công ty X, Hội đồng xét xử thấy:
Ngày 01/4/2014, Công ty TNHH X Công ty Cổ phần P k Hợp đồng
kinh tế số 07/2014/HĐKT/PVC IMICO QB - THANH NAM về việc khai thác đất
phủ và mỏ đá của Công ty P, thời gian 36 tháng, khối lượng khai thác 1.300.000
6
m
3
. Nội dung hợp đồng Công ty P giao cho Công ty X thi công bóc đất tầng
phủ khai thác chế biến đá tại mỏ đá Khe Lau tại Q, huyện Q, tỉnh Quảng
Bình (cũ) theo thiết kế mỏ đã được phê duyệt. Hợp đồng được lập thành văn bản,
nội dung thoả thuận không trái quy định của pháp luật, các bên chủ thể k kết hp
đồng đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự tham gia quan hệ dân sự do đó hợp
đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa các
bên tham gia k kết hợp đồng.
Thời gian đầu, Công ty TNHH X tiến hành khai thác và đưa vào hoạt động
tuy nhiên chỉ hoạt động từ tháng 08/2014 đến tháng 10/2014 thì không khai thác,
sản xuất nữa. Năm 2021, hai bên xảy ra tranh chấp, Công ty X yêu cầu bồi thường
các thiệt hại do chấm dứt hợp đồng. Tại bản án số 06/2023/KDTM-PT ngày
24/8/2023 xác định lỗi trong việc chấm dứt hợp đồng do Công ty X khai thác
không đảm đúng tiến độ khai thác bàn giao thành phẩm sau ngày 20/6/2014
theo điều khoản hợp đồng hai bên đã k kết nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu
của Công ty X buộc Công ty P thanh toán tiền đá thành phẩm Công ty X đã
khai thác.
Ngày 15/11/2020, ngày 05/01/2022 ngày 15/02/2022, Công ty P đã có
văn bản yêu cầu Công ty X di dời máy móc, thiết bị ra khỏi mặt bằng mỏ đá Khe
L đtrả lại mặt bằng cho Công ty P. Công ty X thừa nhận đã nhận được những
thông báo nói trên và ngày 14/01/2022 văn bản đề nghị Công ty P không được
tháo dỡ cho đến khi giải quyết tranh chấp xong. Công ty P trình bày không nhận
được văn bản này. Theo tra cứu định vị báo phát lời trình bày của Công ty X
thì Công ty X gửi theo địa chỉ của ông Trung K người đại diện theo ủy
quyền của Công ty P trong vụ án tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản. Từ trước
đến nay, trụ sở ng ty P không thay đổi. Như vậy, việc gửi văn bản của Công ty
X cho Công ty P là không hợp lệ dẫn đến công ty P không nhận được thông tin.
Theo điểm 10.3 của hợp đồng số 07/2014/HĐKT/PVC IMICO QB -
THANH NAM ghi “Trong trường hợp bên B (Công ty X) không đủ năng lực
khai thác theo tiến độ, khối lượng…thì trong vng 30 ngày kể từ ngày bên A
(Công ty P) thông báo, bên B phải di chuyển máy móc, thiết bị ra khỏi công
trường để bên A chủ động khai thác mời các đơn vị khác khai thác”. Sau khi
thông báo cho phía công ty X di dời tài sản nhưng Công ty X vẫn không di dời
nên việc Công ty P dịch chuyển tài sản ra để giải phóng mặt bằng là chính đáng.
Dàn máy xay được kết cấu gồm nhiều bộ phận khác nhau nên khi dịch chuyển
phải tháo rời từng bộ phận. Công ty X biết Công ty P dịch chuyển tài sản của mình
ra khỏi mỏ đá nhưng đã không áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo quản tài
sản của mình. Hơn nữa, theo biên bản mô tả tài sản trước khi di dời có sự chứng
kiến của chính quyền địa phương và người bảo vệ tài sản của công ty X thì tài sản
để ngoài trời từ năm 2014 đến năm 2022 không bảo quản, không vận hành đã bị
rỉ rét, hư hỏng trước khi dịch chuyển. Những thiệt hại xảy ra không phải do việc
dịch chuyển tài sản của Công ty P gây ra. Vì vậy án sơ thẩm không chấp nhận yêu
cầu của công ty X về việc buộc công ty P bồi thường thiệt thiệt hại là có căn cứ.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy kháng
cáo của nguyên đơn không căn cứ, cần giữ nguyên bản án thẩm số
06/2026/DS-ST ngày 07/4/2026 của Ta án nhân dân khu vực 3 – Quảng Trị.
7
[2]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26, 35, 39, 147,
161, 162, 229 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 584, khoản 5
Điều 585, Điều 588 và 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị Quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về án phí, lphí Toà án, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty
TNHH X: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 07/4/2026
của Ta án nhân dân khu vực 3 – Quảng Trị.
2. Về án phí Dân sự phúc thẩm: Công ty TNHH X phải chịu 300.000 đồng
án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại
biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001592 ngày 29/4/2026 của Phng thi hành
án Dân sự khu vực 3 - Quảng Trị.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND khu vực 3 – Quảng Trị;
- Phng THADS khu vực 3 - Quảng
Trị;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, VP Toà DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Từ Thị Hải Dương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 51/2026/DS-PT Bản án số 51/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 51/2026/DS-PT Bản án số 51/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất