Bản án số 607/2025/DSPT ngày 20/09/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 607/2025/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 607/2025/DSPT ngày 20/09/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 607/2025/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 607/2025/DSPT Bản án số 607/2025/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 607/2025/DSPT Bản án số 607/2025/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN T
Bản án số: 607/2025/DS-PT
Ngày: 21 9 2025
V/v: Tranh chp quyn s dng
đất, tranh chp hợp đồng chuyn
nhượng quyn s dụng đt hợp đồng
tng cho quyn s dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Đào Thị Thủy.
Các Thẩm phán:
Bà Võ Bích Hải
Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Tấn Phát - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Nguyễn Văn
Phi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 20 và ngày 21 tháng 9 năm 2025, tại phòng xét xử Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
224/2025/TLPT-DS ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc Tranh chp quyn s
dụng đất, yêu cu hy giy chng nhn quyn s dụng đất, tranh chp hợp đồng
chuyển nhượng quyn s dụng đất và hợp đồng tng cho quyn s dụng đất”,
Do Bản án dân sự thẩm số 58/2025/DS-ST, ngày 06 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (nay Tòa án nhân
dân khu vực 2 – Cần Thơ) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 548/2025/QĐ-PT ngày
08 tháng 8 năm 2025 quyết định hoãn phiên tòa số 509/2025/DS-PT ngày 30
tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Hunh Th D, sinh năm 1980 (Có mặt).
Địa ch: C, khu V, phường T, qun B, thành ph Cần Thơ (nay là C, khu vực
T, phường T thành ph Cần Thơ thành phố Cần Thơ).
2
Người đại din theo y quyn của nguyên đơn: ông Thanh T, sinh năm
1984 (Có mt).
Địa ch: D, đường C, phường T, qun N, thành ph Cần Thơ (Có mt).
Người bo v quyn và li ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phan Tn
L Đoàn luật sư thành phố C (Có mt).
2. B đơn:
2.1. Bà Nguyn Th Tuyết P, sinh năm 1972 (Có mặt).
Địa ch: S C, khu V, phường T, qun B, thành ph Cần Thơ (nay Số C,
khu vực T, phường T, thành ph Cần Thơ).
Người đại din theo y quyn:
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1990 (Có mặt).
Địa ch: S A- T, phường A, qun B, thành ph Cần Thơ (nay số A-T,
phưng B, thành ph Cần Thơ).
- Ông Nguyn Chí N, sinh năm: 1999 (Vắng mt).
Địa ch: A đường C, phường A, qun B, thành ph Cần Thơ (nay 152
đường Cách mng tháng 8, phường P, thành ph Cần Thơ).
2.2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1990 (Vắng mt).
Địa ch: Khu V, phường T, qun B, thành ph Cần Thơ (nay khu vc T,
phưng T, thành ph Cần Thơ)
Người đại din theo y quyn: ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1968 (Có mặt).
Địa ch: S A t B, khu V, phường T, thành ph Cần Thơ (văn bản y quyn
26/8/2025)
2.3. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 (Vắng mt).
Địa ch: T B, khu V, phường T, qun B, thành ph Cần Thơ (nay tổ B,
khu vực T, phường T, thành ph Cần Thơ).
3. Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990 (Vắng mt).
Địa ch: Khu V, phường T, qun B, thành ph Cần Thơ (nay là khu vc T,
phưng T, thành ph Cần Thơ).
Người đại din theo y quyn: Ông Phan Phương T2, sinh năm 1986 (Có
mt).
Địa ch: C, khu V, phường A, qun N, thành ph Cần Thơ (nay C, khu
vc 2, phường T, thành ph Cần Thơ).
3.2. Bà Võ Th C1, sinh năm 1963 (Vắng mt).
3
Địa ch: T B, khu V, phường T, qun B, thành ph Cần Thơ (nay là t B,
khu vực T, phường T, thành ph Cần Thơ).
3.3. Ông Nguyn Tấn Đ, sinh năm 1984 (Vắng mt).
Địa ch: 7-khu vực T, phường T, qun B, thành ph Cần Thơ (nay là 72/13-
khu vc T, phường T, thành ph Cần Thơ).
3.4. Văn phòng C3 (nay Văn phòng C4). đơn xin vng mt Thi An
Đ1, thành ph Cần Thơ).
Địa ch: S A C, phường T, qun B, thành ph Cần Thơ (nay s A C,
phưng .
3.5. Văn phòng C5. Có đơn xin vắng mt.
Địa ch: 7, phường A, qun B, thành ph Cần Thơ (nay 75Đ-CMT8,
phưng B, thành ph Cần Thơ).
3.6. Văn Phòng C5 (Văn phòng C6 cũ). Có đơn xin vắng mt.
Địa ch: 2 - L, phường B, qun B, thành ph Cần Thơ (nay 23/9 L,
phưng B, thành ph Cần Thơ).
4. Người kháng cáo: bị đơn Nguyễn Thị Tuyết P Nguyễn Văn S.
5. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy,
thành phố Cần Thơ (nay là Viện trưởng Viện kiểm sát khu vực 2- thành phố Cần
Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án thẩm c tài liu trong h thì nội dung v án như
sau:
Theo đơn khởi kin, bn t khai quá trình gii quyết v án, nguyên đơn
trình bày: Phần đất tranh chp có ngun gc ca ông ni ông Nguyễn Văn T1 để
li cho ông T1. Phần đất có din tích 542.0m
2
ti KV T, phường T, qun B, thành
ph Cn Thơ. Hin phần đất này đã b ông Nguyễn Văn C (Bác rut ông T1)
khai đăng ký quyền s dụng đất trùm lên phần đất ca ông T1ông C đã được
y ban nhân dân thành ph C cp giy chng nhn quyn s dụng đất ngày
05/8/1995 ti tha s 60, t bản đồ s 10 (việc này đã được ông Nguyn Văn C
ghi trong giy xác nhn ngày 26/7/2022).
Ngày 30/3/2016, ông Nguyễn Văn T1 làm giy chuyển nhượng phn din
tích đất nêu trên li cho Hunh Th D, ông T1 đã tiến hành giao phần đất chuyn
nhưng cho bà D và bà D đã quản lý s dng t đó cho đến nay.
4
Năm 2015, ông C đã tặng cho phần đất này cho con là Nguyễn Văn S và ông
S đã được y ban nhân dân qun B cp giy chng nhn quyn s dụng đất ngày
04/02/2015. Giy chng nhn quyn s dụng đất s vào s CH 035.36, tha
665, t bản đồ s 9, din tích 542.0m
2
, đt ta lc ti KV T, phường T, qun B,
thành ph Cần Thơ. Sau đó ông S chuyển nhượng phần đất trên cho Nguyn
Th Tuyết P, ngày 23/12/2022 phần đất này đã được cp nht biến động chuyn
nhưng cho Nguyn Th Tuyết P. Ngày 21/6/2024, Nguyn Th Tuyết P
chuyển nhượng cho ông Nguyn Tấn Đ khi Tòa án đang tiến hành gii quyết tranh
chp.
Nay nguyên đơn yêu cầu, Tòa án tuyên hy hợp đồng tng cho quyn s
dụng đất gia ông Nguyễn Văn C vi ông Nguyễn Văn S; Yêu cu Tòa án tuyên
hy hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất gia ông Nguyễn Văn S vi bà
Nguyn Th Tuyết P, hợp đồng được công chng tại Văn phòng Trần Văn T3, s
chng nhn 5163 ngày 17/12/2022. Yêu cu Tòa án tuyên hy hợp đồng chuyn
nhưng quyn s dụng đất gia Nguyn Th Tuyết P vi ông Nguyn Tấn Đ
đưc công chng ti Văn phòng C3, s công chng 1091, quyn s
01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/06/2024; Yêu cu Tòa án tuyên buc
Nguyn Th Tuyết P, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn C ng trách nhim
tr quyn s dụng đất đối vi phần đất có din tích 542,0m
2
nêu trên li cho bà D
và bà P trách nhim thc hin th tc chuyn quyn s dụng đất li cho bà D
đứng tên ch quyn; Yêu cu Tòa án nhân dân qun Bình Thy kiến ngh quan
thm quyn thu hi giy chng nhn quyn s dng đất quyn s hu nhà
tài sn gn lin với đất s BX 671746 (so s CH 03536) do y ban nhân dân
qun B cấp ngày 04/02/2015, đã chnh lý sang tên Nguyn Th Tuyết P ngày
23/12/2022 để cp li cho bà Hunh Th Dim .
Người đại din theo y quyn ca b đơn Nguyn Th Tuyết P ông Nguyn
Văn L1 trình bày yêu cu phn t: Nguyn Th Tuyết P hin ch s dng
đất đối vi phần đất ti tha s 665; t bản đồ s 09, din tích 542m
2
, đất ti Khu
V, phường T, qun B, thành ph Cần Thơ. Phần đất này bà P đã được Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai quận B cp nht ch s dụng đất vào ngày 23/12/2022.
Nguồn gốc phần đất này do bà P nhận chuyển nhượng hợp pháp từ ông
Nguyễn Văn S. Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng đúng quy định; bà P
đã giao tiền đầy đủ cho ông S và nhận đất ngoài thực tế. Do đó, nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông S P thì P không
đồng ý. Nay bà P phản tố yêu cầu Huỳnh Thị D chấm dứt hành vi cản trở
giao trả cho bà P phần đất thuộc thửa 665, tờ bản đồ số 09, diện tích 542m
2
, loại
đất trồng cây lâu năm, phần đất tại Khu V, phường T, quận B, thành phố Cần T
5
theo Bản trích đo địa chính số 22/TTKTTNMT ngày 04/01/2024 của Trung tâm
kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông S Phạm Thị Trúc P1 trình
bày yêu cầu phản tố: Ông S chủ sử dụng phần đất thửa số: 665; tờ bản đồ 09;
diện tích: 542 m
2
; đất tại Khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; ông S
đã được Ủy ban nhân dân quận B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH
03536 ngày 04/02/2015. Tuy nhiên, sau đó ông S được biết ông Nguyễn Văn T1
đã âm thầm lập giấy tay chuyển nhượng toàn bộ phần đất mà ông đang được thừa
nhận là chủ sử dụng hợp pháp cho bà Huỳnh Thị Diễm . Sau đó, bà D căn cứ vào
việc chuyển nhượng trên khởi kiện tranh chấp phần đất trên đối với ông S tại Tòa
án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Nhận thấy sự việc trên không
đúng, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Vì vậy, ông S
đơn phản tố yêu cầu tuyên hiệu giấy chuyển quyền sử dụng đất vĩnh viễn
lập ngày 30/03/2016 giữa ông Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Thị Diễm .
Bị đơn ông Nguyễn Văn C: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần
triệu tập nhưng ông C không đến, cũng không để Tòa án tiến hành lấy lời khai
nên không rõ ý kiến.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Văn T1 Nguyễn Thị Ánh N1 trình bày yêu cầu độc lập: Phần
diện tích đất tranh chấp 542m
2
, thửa s665; tờ bản đồ 09, tại khu V, phường T,
quận B nguồn gốc của ông nội ông T1 cho ông T1, việc này đã được ông
Nguyễn Văn C thừa nhận vào Giấy xác nhận ngày 26/7/2022 với nội dung:
Nguyên vào ngày 05/8/1995, do ông không biết nên đăng quyền sử dụng
đất trùm qua bên phần đất của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990. Bộ phận đo
đạc không biết nên đã đo trùm lên phần đất của ông Nguyễn Văn T1 diện tích
542m
2
sau đó ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1091. Quyền
sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 05/8/1995,thửa số 60, tờ
bản đồ số 10, đất tại khu vực T, phường T, quận B. Phần đất này ông T1 đã canh
tác, quản lý từ trước đến năm 2016 thì chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Diễm .
Sau đó, D canh tác, quản cho đến nay. Hiện tại phần đất này ông Nguyễn
Văn C đã làm thủ tục tặng cho ông Nguyễn Văn S được cấp đổi quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà i sản khác gắn liền với đất số BX 671746 (CH 03536)
do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 04/02/2015, thửa số 665, tờ bản đồ số 09.
Đến ngày 23/12/2022, phần đất này đã được cập nhật biến động chuyển nhượng
cho bà Nguyễn Thị Tuyết P. Nay ông T1 yêu cầu:
6
- Yêu cầu tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng giữa ông Nguyễn Văn
C với ông Nguyễn Văn S.
- Yêu cầu tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Nguyễn Văn S với Nguyễn Thị Tuyết P, do Công chứng viên Nguyễn Hồng
Ái A, Văn phòng C5 chứng nhận, số chứng nhận 5163, ngày 17/12/2022.
- Yêu cầu tuyên buộc Nguyễn Thị Tuyết P, ông Nguyễn Văn S, ông
Nguyễn Văn C cùng trách nhiệm trả quyền sử dụng đất đối với thuộc thửa 665,
tờ bản đồ số 09, diện tích 542m
2
đất nêu trên lại cho ông T1 P trách
nhiệm thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất lại cho ông T1 đứng tên chủ
quyền.
- Yêu cầu Tòa án kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số BX 671746
(số vào sổ CH 03536) do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 04/02/2015 đã chỉnh
lý sang tên Nguyễn Thị Tuyết P ngày 23/12/2022 để cấp lại cho bà D.
- Yêu cầu Tòa án nhân dân quận Bình Thủy ghi nhận ông T1 đồng ý thực
hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 665, tờ bản đ
số 09, diện tích 542,0 m
2
, tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần
Thơ lại cho bà Huỳnh Thị D sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp chủ quyền
sử dụng đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Tấn
Đ vắng mặt tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án ông Đ trình bày: Vào ngày
21/6/2024, ông Đ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị
Tuyết P đối với thủa đất số 665, tờ bản đồ số 9, diện tích 542,0m
2
, đất tại khu V,
phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Ông Đ yêu cầu Tòa án công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên giữa ông và bà P, đồng thời yêu
cầu công nhận ổn định cho ông sử dụng phần đất thuộc thửa 665, tờ bản đồ số
9, diện tích 542,0m
2
. Ngày 10/3/2025, ông Đ đơn xin rút yêu cầu độc lập với
do ngày 04/3/2025 ông P đã hợp đồng chấm dứt hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 665, tờ bản đồ số 09, đất tại khu vực T,
phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị C1: Quá trình giải quyết
vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng bà C1 không đến, cũng không để Tòa
án tiến hành lấy lời khai nên không rõ ý kiến.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Trần Văn T3
đơn yêu cầu vắng mặt, trong bản ý kiến Văn phòng công chứng trình bày: Hợp
đồng số 5163 được công chứng đúng trình tự của Luật công chứng quy định
của pháp luật liên quan đến nội dung giao dịch, các bên tự nguyện giao kết hợp
7
đồng cam đoan quyền sử dụng đất tài sản thuộc quyền định đoạt của bên
chuyển nhượng không yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng xác minh tài sản.
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị D yêu cầu hủy hợp đồng số 5163 thì Văn phòng công
chứng không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn do quá trình công chứng Văn
phòng đã thực hiện đúng quy định.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng ng chứng Nguyễn Hoài
T4 (trước Văn phòng C6) đơn u cầu vắng mặt, trong bản ý kiến Văn phòng
công chứng trình bày: Ngày 31/12/2014, Văn phòng C6 nay là Văn phòng C5
tiếp nhận hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất của bên tặng cho là ông Nguyễn Văn
C, sinh năm 1962, Thị C1, sinh năm 1963 bên nhận tặng cho ông
Nguyễn Văn S, sinh năm 1990. Hồ ng chứng số 1503, quyển số
01/2014/TP/CC-SCC/HĐTCQSDĐ, ngày 31/12/2014. Sau khi kiểm tra hồ
pháp lý hai bên thì Văn phòng C5 tiến hành soạn thảo hợp đồng theo yêu cầu của
hai bên với nội dung như trong hợp đồng, sau đó hai bên tiến hành tự đọc lại nội
dung hợp đồng công nhận đã hiểu quyền và nghĩa vụ, hậu quả pháp lý của
việc giao kết hợp đồng đã tự nguyện tên, điểm chvào hợp đồng trước sự
chứng kiến của Công chứng viên. Tại thời điểm công chứng Công chứng viên đã
giải thích toàn bộ nội dung hợp đồng cho chai bên cùng nghe, cùng hiểu và cam
kết không có khiếu nại tranh chấp liên quan đến hợp đồng và các bên đã cam kết
quyền sử dụng đất không có ký kết với ai khác các loại giao dịch như: Hợp đồng
đặt cọc, hợp đồng chuyền nhượng, hợp đồng tặng cho, hợp đồng thế chấp, hợp
đồng cho thuê, hợp đồng ủy quyền. Đồng thời các bên cam kết đã biết tình
trạng pháp lý của tài sản và không yêu cầu Văn phòng Công chứng tiến hành xác
minh. Tại thời điểm công chứng, Công chứng viên nhận thấy Thị C1 biết
đọc và không biết viết nên có mời nhân chứng đọc lại cho bà nghe, bà C1 đồng ý
điểm chỉ vào hợp đồng theo quy định. ng chứng viên nhận thấy các bên giao
kết hợp đồng năng lực nh vi dân sphù hợp theo quy định pháp luật, nội
dung mục đích thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cảm của pháp luật,
đồng thời các bên đã tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng. Tất cả giấy tờ bản
chính nhân thân bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được các bên
cung cấp cho Công chứng viên đối chiếu trước khi chứng nhận hợp đồng. Căn cứ
vào các sở nêu trên, Công chứng viên Văn phòng C5 đã chứng nhận hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất số 1503, quyền số 01/2014/TB-CC-
SCC/HĐTCQSDĐ ngày 31/12/2014 đúng trình tự quy định pháp luật.
Người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3 (nay Văn phòng
C4) đơn yêu cầu vng mt, trong bn ý kiến Văn phòng công chứng trình bày:
Hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất s công chng 1091, quyn s
8
01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/6/2024 được giao kết gia bên chuyn
nhưng bà Nguyn Th Tuyết P vi bên nhn chuyển nhượng ông Nguyn Tấn Đ
đã được Công chng viên Văn phòng C3 (nay Văn phòng C4) chng nhn theo
đúng quy định pháp lut.
Tại Bản án thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân
quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (nay Tòa án nhân dân khu vực 2 Cần
Thơ) tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị Diễm .
Hủy hợp đồng tặng cho quyền sdụng đất có số công chứng 1503, quyển số
01/2014/TP/CC-SCC/HĐTCQSDĐ ngày 31/12/2014 giữa ông Nguyễn Văn C,
Thị C1 ông Nguyễn Văn S được công chứng tại Văn phòng C6; Hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 5163, quyển số
02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2022 giữa ông Nguyễn Văn S bà
Nguyễn Thị Tuyết P được công chứng tại Văn phòng C5.
Nguyễn Thị Tuyết P, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn C cùng
trách nhiệm trả lại quyền sử dụng đất đối với diện tích 542m
2
, thuộc thửa 665, tờ
bản đồ số 09 lại cho bà Huỳnh Thị Diễm .
Công nhận giấy tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất vĩnh viễn ngày
30/3/2016 giữa ông Nguyễn Văn T1 Huỳnh Thị Diễm . Huỳnh Thị D
được quyền sdụng thửa đất số 665, tờ bản đồ số 09, diện tích 542m
2
, loại đất
trồng cây lâu năm, phần đất tại khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ theo
Bản trích đo địa chính số 22/TTKTTNMT ngày 04/01/2024 của Trung tâm kỹ
thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BX 671746 (số vào
sổ CH 03536) đối với thửa đất số 665, tờ bản đồ số 09, do Ủy ban nhân dân quận
B cấp ngày 04/02/2015, chỉnh sang n Nguyễn Thị Tuyết P ngày 23/12/2022
để cấp lại cho bà Huỳnh Thị Diễm .
Huỳnh Thị D được quyền liên hệ quan nhà nước thẩm quyền để
làm thủ tục cấp giấy theo quyết định của Tòa án.
Bác yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Thị Tuyết P vviệc buộc
Huỳnh Thị D chấm dứt hành vi cản trở giao trả cho P phần đất thuộc thửa
665, tờ bản đồ số 09, diện tích 542m
2
, loại đất trồng cây lâu m, phần đất tại
khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ theo Bản trích đo địa chính số
22/TTKTTNMT ngày 04/01/2024 của Trung tâm kỹ thuật i nguyên Môi
trường thành phố C.
9
Bác yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn S vviệc tuyên hiệu
Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất vĩnh viễn lập ngày 30/3/2016 giữa ông
Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Thị Diễm .
Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Văn T1: Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn
Văn C, bà Võ Thị C1 và ông Nguyễn Văn S được công chứng tại Văn phòng C6,
số công chứng 1503, quyển s 01/2014/TP/CC-SCC/HĐTCQSDĐ ngày
31/12/2014; Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng
5163, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2022 giữa ông Nguyễn
Văn S và bà Nguyễn Thị Tuyết P được công chứng tại Văn phòng C5. Kiến nghị
quan nhà nước thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sdụng đất
quyền shữu nhà tài sản gắn liền với đất số BX 671746 (số vào sổ CH 03536)
đối với thửa đất số 665, tờ bản đồ số 09, do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày
04/02/2015, chỉnhsang tên bà Nguyễn Thị Tuyết P ngày 23/12/2022 để cấp lại
cho Huỳnh Thị Diễm . Ghi nhận ông T1 đồng ý thửa 665, tờ bản đsố 09, diện
tích 542m
2
, phần đất tại khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ
thuộc quyền sử dụng của bà Huỳnh Thị Diễm .
Ngoài ra, Bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm; quyền
yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 29/5/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn S đơn kháng cáo Bản án số
58/2025/DS-ST ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành ph
Cần Thơ (nay Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ). Yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T1, chấp
nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông S.
Ngày 29/5/2025, bị đơn Nguyễn Thị Tuyết P đơn kháng cáo. Yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T1,
chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà P.
Ngày 29/5/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy có kháng nghị s
02/QĐ-VKS-DS, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án thẩm theo hướng không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập
của ông T1, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông S và và P.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn S vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc ông T1 chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho D trái quy định pháp luật bởi lẽ thời điểm chuyển nhượng thì
10
ông T1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T1 cho rằng phần
đất này ông được ông C2 cho nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ
gì chứng minh, hình thể thửa đất 655 là mt thửa độc lập không giáp với thửa đất
134 ông T1 chuyển nhượng cho D. Đối với xác nhận của ông C thì thời
điểm xác nhận ông C không còn quyền sử dụng đối với thửa đất trên nên việc xác
nhận không có giá trị pháp lý; Ông S được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyên
sử dụng đất đúng theo quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn,
sửa bản án sơ thẩm.
Đại diện ủy quyền của bị đơn P trình bày: P nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tông S hợp pháp bà cũng đã được Nhà nước cấp giấy
chứng nhận quyền sdụng đất theo quy định pháp luật, trong vụ án này bà P
người thứ 3 ngay tình nên đnghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
P, sửa bản án sơ thẩm.
Nguyên đơn người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
thống nhất trình bày: Căn cứ vào sự thừa nhận của ông C trong rất nhiều văn bản
ông C đã đăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trùm qua phần đất
của ông C2 cho ông T1, ông C đồng ý giao lại giấy để ông T1 làm thủ tục tách
giấy cho D; Biên bản xác minh tại địa phương thì người làm chứng cũng xác
nhận phần đất này ông C2 sử dụng, sau khi ông C2 cho ông T1 thì ông T1 trực
tiếp sdụng, đến năm 2016 khi ông T1 chuyển nhượng cho D tbà D trực
tiếp sử đụng đất, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị
đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ Kiểm sát viên tham gia
phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật vtố tụng
dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liu chng c tình tiết, d
kin liên quan, nhn thy kháng ngh s 02/QĐ-VKS-DS ngày 29/5/2024 ca
Viện trưởng Vin Kim sát nhân dân quận Bình Thủy căn cứ nên gi nguyên
kháng ngh, đề ngh cp phúc thm sửa án sơ thẩm, không chp nhn yêu cu cu
khi kin của nguyên đơn; Không chp nhn yêu cầu độc lp ca ông T1; Chp
nhn yêu cu phn t ca b đơn P; Chp nhn yêu cu phn t ca b đơn ông
Nguyễn Văn S, áp dng khoản 2 Điu 308 B lut t tng dân s đề ngh sa án
sơ thẩm.
11
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên sxem xét
đầy đủ ý kiến của các bên đương sự quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền xét xử và quan hệ pháp luật:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
giữa ông C ông S, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giữa ông S và
P yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất; Bị đơn yêu cầu phản tố
yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 D,
yêu cầu D trả lại phần đất hiện ông S đang đứng tên trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, phần đất các bên đang tranh chấp tại quận B, thành phố Cần
Thơ. Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ thụ giải quyết vụ
án đúng thẩm quyền; Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp
luật: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng
cho quyền sdụng đất” chưa đầy đủ cần xác định “Tranh chấp quyền sử
dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp đồng
tặng cho quyền sdụng đất”, vậy Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh lại mối
quan hệ trong vụ án này cho phù hợp, đề nghị cấp khu vực rút kinh nghiệm.
[1.2] Sau khi xét xử thẩm bị đơn ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết
P đơn kháng cáo đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273; Viện
Kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ kháng nghị theo quy định
tại Điều 279, Điều 280 nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện Kiểm sát
nhân dân khu vực 2 – thành phố Cần Thơ, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án các đương sự cùng thống nhất diện tích phần
đất các đương sự đang tranh chấp theo Bản trích đo địa chính số 22/TTKTTNMT
ngày 04/01/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C,
diện tích 542m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, tại thửa đất số 665, tờ bản đồ số 09,
phần đất tại khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Phần đất hiện nay do
phía bà Nguyễn Thị Tuyết P đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nhưng bà Huỳnh Thị D đang trực tiếp sử dụng đất.
[2.2] Về nguồn gốc phần đất có tranh chấp: Ngày 30/3/2016, Huỳnh Thị
D và ông Nguyễn Văn T1 lập giấy tay chuyển nhượng phần diện tích 542,0m
2
tại
khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ với giá chuyển nhượng
12
100.000.000 đồng, ông T1 đã nhận tiền và D đã nhận đất cải tạo canh tác từ
đó đến nay. Chính quyền địa phương ng đã xác nhận D người trồng cây
và trực tiếp canh tác trên thửa đất số 665 từ năm 2016 cho đến nay.
Người liên quan ông T1 thừa nhận vào ngày 30/3/2016, ông T1 lập giấy
tay chuyển nhượng quyền sdụng đất cho D thửa 134, tờ bản đồ số 09, diện
tích trong giấy 1281,3m
2
, diện tích ngoài giấy là 540m
2
với giá chuyển nhượng là
100.000.000 đồng và ông đã nhận tiền, bà D đã nhận đất canh tác từ đó đến nay.
Phần đất này là do ông nội ông T1 cho ông T1, bác của ông là ông Nguyễn Văn
C do không biết nên đã kê khai trùm qua diện tích mà ông T1 được ông nội cho.
Việc này đã được ông Nguyễn Văn C nêu trong nội dung giấy xác nhận ngày
26/7/2022, nội dung giấy xác nhận: “...vào ngày 05/8/1995, tôi không biết nên có
đăng ký quyền sử dụng đất trùm qua trên phần đất của ông Nguyễn Văn T1....Do
bộ phận đo đạc không biết nên đã đo trùm trên phần đất của ông Nguyễn Văn T1
diện tích 542m
2
sau đó tôi được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (số
vào sổ 1091 QSDĐ) do UBND thành phố C cấp ngày 05/8/1995, thửa 60, tờ bản
đồ số 10....., đất tại ấp T, T (nay khu vực T, phường T), quận B...Nay tôi
làm xác nhận này xác nhận cho ông Nguyễn Văn T1 là diện tích đất 542m
2
thửa
số 60, tờ bản đồ số 10...là của ông Nguyễn Văn T1 đã sử dụng ổng định từ trước
đến nay không ai tranh chấp....Thực tế từ trước đến nay tôi hoàn toàn không
sử dụng, tôi chỉ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...Từ nay về
sau ông T1 được toàn quyền mua bán tặng cho thửa số 60, tờ bản đồ số 10, diện
tích 542m
2
, đất tọa lạc tại kv T, phường T, quận B, TP ....” điều này cũng được
ông C thừa nhận tại buổi hòa giải của Tổ hòa giải khu vực T ngày 28/9/2022, khi
D có đơn khởi kiện ông T1 ông C, ông C cam kết sẽ hợp tác cùng ông T1
giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D làm thủ tục tách thửa sang tên
theo hợp đồng chuyển nhượng mà ông T1 ký kết với bà D. Tại biên bản hòa giải
tại Tổ hòa giải khu vực T, ông C đã đồng ý kết hợp cùng ông T1 đưa giấy chứng
nhận cho D làm thủ tục tách thửa sang tên cho đúng thực tế, điều đó thể hiện
nội dung giấy cam kết là đúng.
[2.3] Đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C, ông S
và bà P:
Ông Nguyễn Văn C thừa nhận bản thân khai đất trùm qua phần đất của
ông T1, nhưng sau khi được cấp giấy vào ngày 05/8/1995 thì đến ngày 31/12/2014
ông C lại tặng cho con là ông Nguyễn Văn S toàn bộ phần đất của mình trong đó
bao gồm thửa đất số 60 (naythửa số 665), tờ bản đồ số 09, diện tích 542m
2
của
ông T1, điều này thhiện ngay tkhi kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ông C đã biết mình đã khai trùm qua phần đất của ông T1 nhưng sau đó
13
vào năm 2014 vẫn làm thủ tục tặng cho phần đất trên cho con là ông Nguyễn Văn
S đây là hành vi trốn tránh nhằm không thực hiện nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng
đất cho ông T1, sau khi ông S được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thì ông S tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Tuyết P.
Đối với ý kiến của đại diện ủy quyền của phía ông S cho rằng thời điểm ông
C làm giấy xác nhận thỏa thuận với ông T1 D tại s thì khi đó phần
đất trên ông C đã làm hợp đồng tặng cho ông S xong là ông S đã được nhà nước
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông C không còn quyền sử dụng đối
với thửa đất nêu trên, vì vậy xác nhận của ông C không hiệu lực. Hội đồng xét
xử xét thấy lời trình bày trên của phía bị đơn không có cơ sở, bởi lông S được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ Giấy chứng nhận quyền
sử đụng đất của ông C, sự thừa nhận cấp trùng giấy của ông C đã chứng minh việc
cấp giấy trước đây đối với ông C là cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, điều
này cũng phù hợp với lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Tấn T5
(Trưởng khu vực T, phường T) xác nhận của những người tứ cận phần đất tranh
chấp là Mai Thị T6, Huỳnh Thị L2, Trần Bạch Đ2 xác nhận phần đất này trước
đây ông C2 sdụng, sau đó cho ông T1 sử dụng tnăm 2016 thì D sử dụng
và trồng cây trên đất. Do việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C
bị sai về đối tượng sử dụng đất, dẫn đến việc cấp giấy cho ông S sai nên việc
ông S chuyển nhượng đất cho bà T7 P cấp giấy cho bà Tuyết P không đúng.
[2.4] Đối với ý kiến của đại diện ủy quyền của Tuyết P cho rằng P
người thứ 3 ngay tình nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu độc lập cho
bà. Hội đồng xét xử xét thấy phần đất này ông S cho rằng gia đình ông trực tiếp
sử dụng nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh cho quá trình sử dụng
đất của mình, phía ông T1 cũng đã chứng minh được quá trình sử dụng đất như
phân tích ở mục trên. Do đó, P người nhận chuyển nhượng đất nhưng không
xuống xem xét hiện trạng, ai là người trực tiếp sử dụng đất và vẫn đồng ý chuyển
nhượng nên trường hợp này không được xemngay tình. Do đó, Tòa án cấp sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T1, hủy hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất giữa ông C ông S, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông S và bà P là có căn cứ.
[3] Đối với yêu cầu công nhận đất của nguyên đơn: Hợp đồng chuyển
nhượng giữa bà D và ông T1 không tuân thủ về mặt hình thức theo Điều 117 Bộ
luật dân sự; Tuy nhiên theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự (Điều 124 Luật
2005) quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm
quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực một bên hoặc các bên đã thực
14
hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên
hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong
trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Trong trường hợp này, ông T1 đã nhận đủ tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
D đã nhận đất canh tác, các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ với nhau nên
yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy tay) ngày
30/3/2016 của D ông T1 sở để chấp nhận. Kiến nghị quan
thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền shữu ntài
sản gắn liền với đất sBX 671746 (số vào sổ CH 03536) do Ủy ban nhân dân
quận B cấp ngày 04/02/2015 đã chỉnh sang tên Nguyễn Thị Tuyết P ngày
23/12/2022 để cấp lại cho bà Huỳnh Thị D theo hợp đồng chuyển nhượng mà ông
T1 đã ký là có cơ sở để chấp nhận.
[4] Đối với quan điểm của Kiểm sát viên cho rằng ông T1 được ông C2 tặng
cho quyền sử dụng đất tại thửa đất 134 diện tích 1.281,3m
2
đến ngày 22/4/2016
ông T1 được sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng ngày
30/3/2016 ông Nguyễn Văn T1 đã lập hợp đồng bằng giấy tay nội dung ông T1
chuyển nhượng cho D thửa 134, tbản đồ 09 diện tích trong giấy 1.281,3m
2
....”. Như vậy, tại thời điểm lập hợp đồng ông T1 chưa có quyền chuyển nhượng
theo quy định tại Điều 168 Luật Đất đai 2013 là không có cơ sở, do bản thân ông
C là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng đã thừa nhận: o
ngày 05/8/1995, tôi không biết nên đăng quyền sử dụng đất trùm qua trên
phần đất của ông Nguyễn Văn T1....Do bộ phận đo đạc không biết nên đã đo trùm
trên phần đất của ông Nguyễn Văn T1 diện tích 542m
2
sau đó tôi được cấp giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất (số vào sổ 1091 QSDĐ) do UBND thành phố C
cấp ngày 05/8/1995, thửa 60, tờ bản đồ số 10....., đất tại ấp T, T (nay và khu
vực T, phường T)”. Ông C thừa nhận phần đất thuộc thửa 60 (nay là thửa 665) là
của ông T1 sử dụng ổn định từ trước đến nay không ai tranh chấp, đây là lời thừa
nhận của ông C trong giấy xác nhận tại buổi hòa giải tại khu vực T, đây là
chứng cứ không phải chứng minh, điều này nghĩa việc ông C2 tặng cho ông
T1 tuy không giấy tờ nhưng bản thân ông C2, ông T1 và những người thân
trong gia đình đều đã thừa nhận việc tặng cho này. vậy ý kiến của Kiểm sát
viên và của bị đơn Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết P về việc không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận.
V gii quyết hu qu giao dch dân shiu: Do quá trình gii quyết và
ti phiên tòa không ai yêu cầu nên không đặt ra xem xét, trưng hp các bên
tranh chp s khi kin thành v kin khác.
15
[4] Ti phiên tòa phúc thm b đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được
tài liu chng c gì mi giá tr chứng minh nên không có căn c để chp nhn.
[5] Xét kháng ngh ca Viện trưởng vin kim sát nhân dân qun Bình Thy,
thành ph Cần Thơ (này là Viện trưởng vin kim sát nhân dân khu vc 2 Cn
Thơ) và quan điểm ca Kim sát viên tại phiên tòa là chưa phù hợp nên không có
căn cứ để chp nhn.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 116, 117, 129 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 100 Luật đất đai năm 2014
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Tuyết P bị đơn
Nguyễn Văn S.
Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận
Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (này là Viện trường Viện Kiểm sát nhân dân khu
vực 2 – Cần Thơ).
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 58/2025/DS-ST ngày 06/5/2025 của
Toà án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (nay Tòa án nhân dân
khu vực 2 – Cần Thơ).
Tuyên x:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị D yêu cầu
độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T1.
Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 1503, quyển
số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐTCQSDĐ ngày 31/12/2014 giữa ông Nguyễn Văn C,
Võ Thị C1ông Nguyễn Văn S được công chứng tại Văn phòng C6.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 5163,
quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2022 giữa ông Nguyễn Văn S
và bà Nguyễn Thị Tuyết P được công chứng tại Văn phòng C5.
Nguyễn Thị Tuyết P, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn C cùng
trách nhiệm trả lại quyền sử dụng đất đối với diện tích 542m
2
, thuộc thửa 665, tờ
bản đồ số 09 lại cho bà Huỳnh Thị Diễm .
16
Công nhận giấy tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất vĩnh viễn ngày
30/3/2016 giữa ông Nguyễn Văn T1 Huỳnh Thị Diễm . Huỳnh Thị D
được quyền sdụng thửa đất số 665, tờ bản đồ số 09, diện tích 542m
2
, loại đất
trồng cây lâu năm, phần đất tại khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ theo
Bản trích đo địa chính số 22/TTKTTNMT ngày 04/01/2024 của Trung tâm kỹ
thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BX 671746 (số vào
sổ CH 03536) đối với thửa đất số 665, tờ bản đồ số 09, do Ủy ban nhân dân quận
B cấp ngày 04/02/2015, chỉnh sang n Nguyễn Thị Tuyết P ngày 23/12/2022
để cấp lại cho bà Huỳnh Thị Diễm .
Huỳnh Thị D được quyền liên hquan nhà nước thẩm quyền để
làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Thị Tuyết P về
việc buộc Huỳnh Thị D chấm dứt hành vi cản trở giao trả cho bà P phần đất
thuộc thửa 665, tờ bản đồ số 09, diện tích 542m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, phần
đất tại khu V, phường T, quận B, thành phố Cần T theo Bản trích đo địa chính
số 22/TTKTTNMT ngày 04/01/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi
trường thành phố C.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn S về việc
tuyên hiệu Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất vĩnh viễn lập ngày
30/3/2016 giữa ông Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Thị Diễm .
3. Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Tấn Đ về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông và bà Nguyễn Thị Tuyết P.
4. Về án phí và chi phí tố tụng khác:
Về án phí: Bị đơn Nguyễn Thị Tuyết P phải chịu án phí 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) chuyển tiền tạm ứng án phí bị đơn đã nộp 300.000 đồng
theo biên lai thu s0002565 ngày 22/03/2024 thành án phí; bị đơn ông Nguyễn
Văn S phải chịu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chuyển tiền tạm ứng
án phí ông S đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002228 ngày 07/6/2023
thành án phí. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn Đ được
nhận lại 2.130.000 đồng (Hai triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001253 ngày 12/11/2024; Nguyên đơn
Huỳnh Thị D được nhận lại 2.129.250 đồng (Hai triệu một trăm hai mươi chín
nghìn hai trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu số 0002111 ngày 05/4/2023 và
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lại thu số 0001290 ngày
17
28/11/2024; Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 được
nhận lại 2.129.250 đồng (Hai triệu một trăm hai mươi chín nghìn hai trăm năm
mươi đồng) theo biên lai thu số 0002205 ngày 19/5/2023 tại Chi cục Thi hành án
dân sự quận Bình Thủy.
Về chi phí đo đạc, thẩm định tài sản: Số tiền 7.000.000 đồng nguyên đơn đã
nộp chi xong, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn P, ông
S, ông C có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn 7.000.000đồng (Bảy triệu đồng).
Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn S bà Nguyễn Thị Tuyết P phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án
phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạmng số: 0000276, 0000275 ngày
3/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
thành án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án
dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 21 tháng 9 năm
2025.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 2 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 2 – Cần Thơ;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ĐÃ KÝ
Đào Thị Thủy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 607/2025/DSPT Bản án số 607/2025/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 607/2025/DSPT Bản án số 607/2025/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất