Bản án số 171/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 171/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 171/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 171/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hạ Xuân V1, Nguyễn Thị S - Hạ Văn T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 171/2026/DS-PT Bản án số 171/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 171/2026/DS-PT Bản án số 171/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số:171/2026/DS-PT
Ngày 30-6-2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán: Nguyễn Thị Thu Hiền và ông Nguyễn Vĩnh Thành.
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Vân Anh - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 268/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng
11 năm 2025 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự
thẩm số 36/2025/DSST ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực
10 Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 54/2026/QĐ-PT ngày
26 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Cụ Hạ Xuân V1 (tên gọi khác Hạ Văn V1), sinh năm 1942; Số CCCD
************ do Cục Cảnh sát quản hành chính về trật tự hội cấp ngày
13/8/2021
Cụ Nguyễn Thị S; Số CCCD ************ do Cục Cảnh sát quản
hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 24/3/2023, sinh năm 1942.
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố V, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của cụ V1 và cụ S:
Ông Phùng Quốc V, sinh năm 2002; Số CCCD ************ do Cục
Cảnh sát quản hành chính về trật tự hội cấp ngày 13/5/2021, (văn bản ủy
quyền ngày 09/3/2026)
2
Địa chỉ: Thôn P, xã Y, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Ông Phạm Quốc H; Số CCCD ************ do Cục Cảnh sát quản
hành chính về trật tự hội cấp ngày 26/9/2022, (văn bản ủy quyền ngày
09/4/2026) (có mặt).
Địa chỉ: Số C P, KĐT H, phường V, tỉnh Phú Thọ
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cụ V1 cụ S: Ông Phạm
Quốc H; Số CCCD ************ do Cục Cảnh sát quản hành chính về trật
tự xã hội cấp ngày 26/9/2022 - Luật sư Công Ty L, (có mặt).
Địa chỉ: Số 39 Phan Văn Trác, KĐT Tiên, phường Vĩnh Phúc, tỉnh
Phú Thọ
2. Bị đơn: Ông Hạ Văn T, sinh năm 1958; Số CCCD ************ do Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 18/5/2023.
Địa chỉ: Tổ dân phố V, xã T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
+ Nguyễn Thị S1, sinh năm 1957; Số CCCD ************ do Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25/8/2021, có mặt.
+ Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1999; Số CCCD ************ do Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02/10/2024, vắng mặt.
+ Anh Hạ Văn T1, sinh năm 1989; Số CCCD ************ do Cục
Cảnh sát quản hành chính về trật tự hội cấp ngày 28/07/2017, mặt.
Đồng thời người đại diện theo ủy quyền của chị H1, văn bản ủy quyền ngày
10-4-2026
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố V, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Người kháng cáo: Cụ Hạ Xuân V1 và cụ Nguyễn Thị SNguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai tiếp tại phiên tòa thẩm, nguyên
đơn (đồng thời người đại diện theo ủy quyền của đồng nguyên đơn, cụ Hạ
Xuân V1), cụ Nguyễn Thị S trình bày: Nguồn gốc diện tích đất 80m
2
tại thửa số
120, tờ bản đồ số 11 thuộc tổ dân phố V, xã T, tỉnh Phú Thọ nguồn gốc là của
bố mẹ cụ Hạ Xuân V1 cho cụ V1. Diện tích đất này đã nằm trong diện tích 367
m
2
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do quan thẩm quyền
cấp mang tên cụ V1, tuy nhiên, diện tích đất này hiện vợ chồng ông Hạ Văn T,
Nguyễn Thị S1, anh Hạ Văn T1 (con trai của ông T, S1) đang quản lý, sử
dụng. Cụ V1, cụ S đã nhiều lần yêu cầu ông T, S1 phải trả diện tích đất trên
3
nhưng ông T, S1 không trả, cụ V1 cụ S đã đề nghị Ủy ban nhân dân thị
trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) hòa giải nhưng không có kết quả.
Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc vợ chồng ông T, S1 và anh
T1 phải trả cho cụ V1 và cụ S diện tích đất 80m
2
tại thửa số 120, tờ bản đồ số 11
thuộc tổ dân phV, T, tỉnh Phú Thọ. Đối với công trình y dựng trên đất
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Hạ Văn T1 thì anh T1 phải tháo dỡ, thu
dọn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, cụ S xác định diện tích vợ chồng ông T, S1
và anh T1 lấn chiếm của cụ 37m
2
đất tại thửa số 120 địa chỉ: tổ dân phố V,
T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cụ Hạ Văn Xuân V1 cụ
Nguyễn Thị S, Trần Thị N trình bày tại phiên tòa thẩm: Đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét, giải quyết yêu cầu của cụ V1, cụ S theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Quốc H người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn, đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn trình bày: Đề nghị tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm tòa
án cấp thẩm những vi phạm sau: đưa thiếu người tham gia tố tụng; chưa
xác minh làm nguồn gốc đất tranh chấp; vi phạm trong đánh giá chứng cứ;
theo biên bản hòa giải tại xã ông T đồng ý cắt đất làm lối đi cho nhà cụ S, tòa án
chưa xác minh làm rõ ông T thực hiện như thế nào.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan, Nguyễn Thị S1 trình bày tại phiên tòa thẩm: Toàn bộ diện
tích đất của gia đình đang quản lý, sử dụngn định từ năm 1985, bao gồm cả
phần diện tích đất hiện cụ V1 cụ S đang tranh chấp. Thửa đất ông đang sử
dụng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích hiện vợ
chồng đang quản lý, sử dụng không nằm trong phần diện tích đất cụ V1 đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. vậy không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của cụ V1 và cụ S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Hạ Văn T1 trình bày thẩm: Năm
2024 được sự đồng ý của bố mẹ anh ông T, S1 anh đã xây dựng công trình
trên đất (bao gồm cphần diện tích đất cụ V1, cụ S đang tranh chấp với bố mẹ
anh). Tuy nhiên quyền sử dụng đất tài sản hợp pháp của bố mẹ anh, không
phải của cụ V1, cụ S. vậy anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ V1,
cụ S.
Với nội dung vụ án như trên, tại bản án thẩm số 36/2025/DSST ngày 04
tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 Phú Thọ đã quyết định:
4
Căn cứ vào các Điều 74, 91, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ
Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 5 Luật Đất đai năm 2024; Ngh
quyết số: 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ Hạ Văn V1
cụ Nguyễn Thị S về việc buộc vợ chồng ông T, S1 anh T1 phải trả cho cụ
V1 cụ S diện tích đất 80m2 tại thửa số 120, tờ bản đồ số 11 thuộc tổ dân phố
V, xã T, tỉnh Phú Th.
2. Về chi phí tố tụng: Cụ V1, cS phải chịu theo quy định của pháp luật.
Xác nhận cụ V1, cụ S đã nộp đủ chi phí tố tụng.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo,
quyền thi hành án cho các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 15/9/2025, nguyên đơn cụ Hạ Xuân V1
cụ Nguyễn Thị S đơn kháng cáo không đồng ý bản án thẩm, đề nghị cấp
phúc thẩm xem xét, xét xử lại vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện thay
đổi nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm. Các đương
sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu
quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia
tố tụng, kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án
đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng
khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
36/2025/DSST ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10
Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
5
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn cụ Hạ Xuân V1 cụ Nguyễn
Thị S được làm trong hạn luật định, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết cấp thẩm không xác
định chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1999 (là vợ anh T1) người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, thiếu sót chị H1 anh T1 xây công trình trên phần
đất nguyên đơn khởi kiện. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm chị H1 đồng ý tham gia
tố tụng và ủy quyền cho anh T1 thay chị định đoạt mọi vấn đề tại cấp phúc thẩm
nên cấp phúc thẩm đưa chị H1 tham gia tố tụng với cách người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. Cấp thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm khi xác định
cách người tham gia tố tụng.
[2.] Xét kháng cáo của nguyên đơn không đồng ý bản án thẩm, đề
nghị cấp phúc thẩm hủy án thẩm cấp thẩm nhiều vi phạm như: đưa
thiếu người tham gia tố tụng; chưa xác minh làm rõ nguồn gốc đất tranh chấp; vi
phạm trong đánh giá chứng cứ; theo biên bản hòa giải tại ông T đồng ý cắt
đất làm lối đi cho nhà cụ S, tòa án chưa xác minh làm ông T thực hiện như
thế nào. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Về người tham gia tố tụng, cấp thẩm không đưa chị Nguyễn Thị H1,
sinh năm 1999 (là vợ anh T1) người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thiếu
sót, tuy nhiên thiếu sót này được khắc phục tại cấp phúc thẩm.
Về nguồn gốc đất tranh chấp: Nguyên đơn cho rằng diện tích đất tranh
chấp nguồn gốc do bố mẹ cho đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên cụ Hạ Xuân V1. Tại phiên tòa phúc thẩm cụ S trình bày đất
được HTX giao cho nguyên đơn từ trước năm 1980. Lời khai của nguyên đơn
không thống nhất nhau. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án
kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Tại Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp ngày 14/5/2002
mang tên Hộ ông H2 (H3) Xuân V1 tại thửa đất 122, tờ bản đồ số 11, diện tích
367m
2
(200m
2
đất làm nhà 167m
2
đất vườn). Ngoài ra không phần diện
tích đất nào có diện tích 80m
2
như lời trình bày của cụ V1, cụ S.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ chứng minh việc đã quản lý, sử dụng ổn định, liên tục đối với diện tích
đất đang tranh chấp; không thực hiện khai đăng quyền sử dụng đất, không
thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật đất
đai. Trong khi đó, các tài liệu thu thập được thể hiện diện tích đất tranh chấp
nằm trong tổng thể diện tích đất do ông Hạ Văn T Nguyễn Thị S1 quản lý,
6
sử dụng ổn định từ nhiều năm và phù hợp với hồ sơ địa chính tại địa phương. Cụ
thể: Tại Bản đồ đo đạc VN 2000 phần diện tích đất hiện các đương sự đang
tranh chấp đã được thhiện trong tổng diện tích đất hiện ông T đang quản lý, sử
dụng (thửa số 498, diện tích 480m
2
, ông T S1 đã sử dụng đất ổn định). Hồ
quản đất đai hiện đang lưu giữ tại Ủy ban nhân dân T, tỉnh Phú Thọ thể
hiện phần diện tích đất hiện các đương sự đang tranh chấp có diện tích 37m
2
, ghi
chủ sử dụng đất Nguyễn Văn X. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thkhông xác
định được chủ sử dụng đất Nguyễn Văn X nêu trên ai, địa chỉ cụ thể như thế
nào. Tại phiên tòa sơ thẩm cụ S khẳng định mình không biết hay có mối quan hệ
với người tên Nguyễn Văn X, tại phiên tòa phúc thẩm cụ S cho rằng
Nguyễn Văn S2 là con nuôi của bố mẹ cụ ông S2 đã hy sinh không có vợ con
nên gia đình cụ đang thờ cúng. Tuy nhiên cụ S không tài liệu chứng minh
cho lời trình bày trên không tài liệu chứng minh ông Nguyễn Văn X
Nguyễn Văn S2 một người. Tòa án cấp thẩm đã tiến hành niêm yết công
khai thông báo xác định người liên quan đến diện tích đất 37m
2
, đã hết thời hạn
niêm yết không bất cứ tổ chức hay nhân nào cho rằng mình liên quan hay
quyền lợi đối với diện tích đất 37m
2
nêu trên. Ngoài ra đối với diện tích đất
37m
2
thì tại Sổ đăng ruộng đất còn ghi cụ V1 không thửa đất nào diện
tích 37m
2
, “Không có miếng số 120 = 37m2”.
Khi Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, cụ S tự
xác định phần diện tích đất 80m
2
là 37m
2
tại “miếng số 120 = 37m
2
và 01 phần
đất hiện ông T, bà S1 đang quản lý, sử dụng. Tuy nhiên theo Bản đồ đo đạc V2
(theo Bản đồ đo đạc VN 2000 diện tích đất ông T, S1 đang quản lý, sử dụng
chỉ 01 thửa). Như vậy, diện tích đất cụ S xác định chỉ khoảng 37m², không
trùng khớp với diện tích 80m² theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đồng
thời, không có căn cứ xác định ranh giới, vị trí cụ thể của phần diện tích 80m²
mà nguyên đơn yêu cầu.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, người bảo vệ quyền lợi cho
nguyên đơn nộp thêm một số tài liệu: Bản phô Sổ khu hành chính số 1, Đơn
xin xác nhận cụ V1 cụ S, một số biên bản xác minh của công ty TNHH L
nhưng những tài liệu này không căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Tòa án cấp phúc thẩm thu thập thêm tài liệu tại địa phương xác định: H
quản đất đai của Ủy ban nhân dân T, thể hiện 01 Bản đồ (không ghi
ngày, tháng, năm lập, không dấu). Tại bản đồ ghi phần diện tích đất hiện cụ
V1, cụ S ông T đang tranh chấp “Văn”. Ủy ban T xác định: trước đây
7
khi Tòa án cấp thẩm về xác minh, Ủy ban chưa cung cấp cho Tòa án bản đồ
này theo quy định bản đồ chỉ xác định số thửa, diện tích đất chứ không thể
hiện tên người sử dụng đất nên việc ghi chữ “Văn” trên bản đồ không đủ căn cứ
để xác định chủ sử dụng đất ông Hạ Xuân V1. Mặt khác, ai đã ghi chữ “Văn”
thì không thể xác định được, để xác định chủ sử dụng đất phải căn cứ vào Sổ
mục kê đối với thửa đất, tại sổ mục kê xác định chủ sử dụng đất đang tranh chấp
Nguyễn Văn X. Ủy ban nhân dân xã T khẳng định không có cơ sở xác định cụ
V1, cụ S chủ sử dụng đất hợp pháp phần diện tích đất hiện đang tranh chấp
theo quy định. Cụ V1, cụ S chỉ có duy nhất 01 thửa đất, đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (đã sử dụng ổn định, xây dựng công trình kiên cố trên
đất). Theo Bản đồ đo đạc V2 thể hiện đã được đo tách thành 02 thửa, thửa số
559, diện tích 265,2m
2
thể hiện thông tin người sử dụng đất Hạ Xuân V1,
Nguyễn Thị S thửa số 531, diện tích 103,0m
2
mang tên Hạ Văn D, Nguyễn
Thị H4 (con trai, con dâu ông V1 S).
Tại biên bản xác minh ngày 06/6/2025 của đại diện Trung tâm trợ giúp
pháp lý, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho cụ S (BL 67-68) cũng thể
hiện thửa đất 122, diện tích 367 m
2
tên chủ sử dụng Hạ Văn V1; thửa đất
120, diện tích 37 m
2
tên chủ sử dụng Nguyễn Văn X. y ban T không lưu
giữ hồ hộ tịch liên quan đến ông Nguyễn Văn X, Nguyễn Văn S2. Hiện nay
thửa đất 120, ông Hạ Văn T đang quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cụ S
cho rằng tòa án không làm mối quan hệ giữa ông X (S2) với gia đình cụ S
không đưa những người thừa kế của ông X (Sin) vào tham gia tố tụng không
căn cứ Tòa án cấp thẩm đã tiến hành niêm yết công khai thông báo xác
định người liên quan đến diện tích đất 37m
2
, đã hết thời hạn niêm yết không có
bất cứ tổ chức hay cá nhân nào cho rằng mình liên quan hay có quyền lợi đối với
diện tích đất 37m
2
nêu trên. Mặt khác, tại biên bản xác minh ngày 06/6/2025 của
Trung tâm trợ giúp pháp xác định Ủy ban T không lưu giữ hồ hộ tịch
liên quan đến ông Nguyễn Văn X, Nguyễn Văn S2. Tại phiên a phúc thẩm cụ
S cũng khẳng định ông X (S) không vợ con. Như vậy đề nghị của Người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cụ S đưa những người thừa kế của ông X (Sin)
vào tham gia tố tụng là không có căn cứ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: nguyên
đơn kiện đòi bị đơn trả 37 m
2
đất tại thửa đất 120 nhưng nguyên đơn không
cung cấp tài liệu chứng minh diện tích đất trên của mình theo địa phương
cung cấp nguyên đơn chỉ duy nhất 01 thửa đất số 122, diện tích 367 m
2
, đã
8
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tại sổ mục kê xác định thửa đất
120, diện tích 37 m
2
mang tên chủ sử dụng Nguyễn Văn X. Nguyên đơn
không cung cấp được tài liệu liên quan đến chủ sử dụng thửa đất 120, diện
tích 37 m
2
nên cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
căn cứ. Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn không cung cấp thêm được tài liệu,
chứng cứ mới nào chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nên kháng cáo
của cụ S cụ V1 đề nghị hủy bản án thẩm không căn cứ không
được chấp nhận, cần giữ nguyên bản án thẩm như quan điểm của đại diện
Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm.
[3]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không
được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng (nguyên đơn
đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng).
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm phúc thẩm: Do yêu cầu khởi kiện
kháng cáo không được chấp nhận nên cụ V1, cụ S phải chịu án phí nhưng cụ
V1, cS đều thuộc trường hợp đã trên 60 tuổi và có đơn đề nghị được miễn tiền
án phí nên cụ S, cụ V1 được miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm nhân dân tỉnh P căn cứ cần chấp
nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 166, 430,
440 khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của cụ Hạ Xuân V1 cụ Nguyễn Thị S,
giữ nguyên bản án thẩm 36/2025/DSST ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Toà
án nhân dân khu vực 10 Phú Thọ.
Căn cứ vào các Điều 74, 91, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ
Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 5 Luật Đất đai năm 2024; Ngh
quyết số: 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ Hạ Xuân V1
(Hạ Văn V1) và cụ Nguyễn Thị S về việc buộc vợ chồng ông T, bà S1 và anh T1
9
phải trả cho cụ V1 cụ S diện tích đất 80m
2
tại thửa số 120, tờ bản đồ số 11
thuộc tổ dân phố V, xã T, tỉnh Phú Thọ.
2. Về chi phí tố tụng: Cụ V1, cS phải chịu theo quy định của pháp luật.
Xác nhận cụ V1, cụ S đã nộp đủ chi phí tố tụng.
3. Về án phí dân sự thẩm phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều
12; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí lệ phí Tòa án: cụ Hạ Xuân V1 cụ Nguyễn Thị S được
miễn án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 10 tỉnh Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 10;
- Các đương sự;
- Lưu: HS, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 171/2026/DS-PT Bản án số 171/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 171/2026/DS-PT Bản án số 171/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất