Bản án số 170/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 170/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 170/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 170/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Q kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 170/2026/DS-PT Bản án số 170/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 170/2026/DS-PT Bản án số 170/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 170/2026/DS-PT
Ngày: 30 - 06 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên toà:
Các Thẩm phán:
bà Hoàng Ngọc Liễu
ông Nguyễn Mạnh Hùng
ông Nguyễn Quang Tuấn
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Khà Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 38/2026/TLPT - DS ngày
05/2/2026 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số: 03/2025/DS - ST ngày 25 tháng 11 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 132/2026/QĐ-PT ngày
05/5/2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 122/2026/QĐ-PT ngày 05/6/2026,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Hà Văn Q, sinh năm 1963. Địa chỉ: xóm T, xã C, tỉnh
Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L2 (Công ty cử
Luật Thị H, Luật Đỗ Minh N Chuyên viên Nguyễn Văn Q1). Địa
chỉ: số nhà B đường H, phường N, tỉnh Phú Thọ.
2. Bị đơn: ông Xa Văn T, sinh năm 1968. Địa chỉ: xóm T, xã C, tỉnh Phú
Thọ.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Bị đơn: ông Bùi Đình T1 -
Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh số 02 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước tỉnh Phú Thọ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Phú Thọ.
2
3.2. Anh Hà Văn K, sinh năm 1985. Địa chỉ: xóm M, xã Q, tỉnh Phú Thọ.
3.3. Ông Hà Văn T2, sinh năm 1959. Địa chỉ: xóm Ê, xã C, tỉnh Phú Thọ.
3.4. Ông Xa Văn P. Địa chỉ: xóm C, xã C, tỉnh Phú Thọ.
3.5. Lường Thị T3, sinh năm 1969; anh Xa Văn D, sinh năm 1991.
Cùng địa chỉ: xóm T, xã C, tỉnh Phú Thọ.
3.6. Bà Lò Thị Đ, sinh năm 1963; chị Hà Thị N1, sinh năm 1983; anh
Văn M, sinh năm 1987. Cùng địa chỉ: xóm T, xã C, tỉnh Phú Thọ.
3.7. Anh Xa Văn T4, sinh năm 1987; Thị T5; Thị H1 và ông
Xa Văn T6. Cùng địa chỉ: xóm T, xã C, tỉnh Phú Thọ.
3.8. Thị H2, sinh năm 1965; chị Xa Thị H3, sinh năm 1985 anh
Xa Văn T7. Cùng địa chỉ: xóm T, xã C, tỉnh Phú Thọ.
3.9. Chị Xa Thị H4, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số nhà A T, phường T,
tỉnh Phú Thọ.
4. Người kháng cáo: ông Hà Văn Q.
(Tại phiên tòa, ông Q, ông Q1, ông T, Trợ giúp viên Thưởng, ông T2, anh
T4, T3, anh D, anh K, Đ, chị N1, anh M, anh T7 mặt. Những người
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo nội dung Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và
tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hà Văn Q trình bày:
Năm 2007, gia đình ông Q được Nhà nước giao thửa đất số 577, diện
tích 96.879m
2
tại Suối Cỏ S, xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình (nay là xã C,
tỉnh Phú Thọ) với mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất, thời gian sdụng đến
ngày 02/12/2061, nguồn gốc đất Nhà nước giao đất không thu tiền sdụng
đất. Đến tháng 4 năm 2009, ông Xa Văn T, cùng trú tại xóm T, T, huyện
Đ, tỉnh Hòa Bình là em vợ của ông Q mời đến nhà ông T bàn kết hợp để liên
doanh trồng rừng nguyên liệu giấy với Công ty L3, Phú Thọ thực hiện là đưa ba
thửa đất của gia đình vào dự án, gồm thửa 540, thửa 559 thửa 577. Khi đã
thống nhất về ăn chia giữa ng ty và gia đình thì hai gia đình ông Q ông T
phân chia nhau theo diện tích thửa đất để dễ bề hưởng lợi theo diện tích. Gia
đình ông Q dùng 2 thửa đất gồm thửa 540, thửa 559, còn thửa 577 giao cho ông
T. Ông Q tiến hành phát trồng cây tháng 6/2009, đến tháng 9/2016 rừng đến
tuổi khai thác, khai thác xong Công ty trả lại đất cho gia đình ông Q, còn thửa
577 vẫn để cho gia đình ông T canh tác sử dụng từ đó đến nay. Khi hợp tác liên
doanh đến chu kỳ 2 (năm 2023) giữa ông và ông T tin tưởng nhau bàn bạc, thoả
thuận toàn bằng miệng không bất cứ giấy tờ làm chứng, cho đến khi ông
đưa ba thửa đất vào Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ dược liệu để trồng sen canh,
3
thì gia đình ông T không đồng ý nói Tôi cấm ông không được đưa diện tích
đất thửa 577 vào Hợp tác tôi hồ đất, đất đó của tôi, tôi sẽ kiện
ôngông Xa Văn T đã viết đơn lên Ủy ban nhân dân xã, đã căn cứ vào
đơn tổ chức hoà giải nhưng không thành. Nay ông Văn Q khởi kiện ông
T, yêu cầu ông T trả lại toàn bộ diện tích đất thể hiện trên thửa đất số 577 cho
gia đình ông Q. Tại buổi hòa giải ngày 25/9/2025, ông Q ý kiến thửa đất
tranh chấp này Gia đình ông được nhà nước cấp, thuộc quyền sở hữu của ông
Q nên đề nghị Tòa án yêu cầu ông T, T5, H1anh T4 thu hoạch cây cối
và trả lại cho ông Q phần đất mà các hộ đã canh tác trên thửa đất số 577 này.
Bị đơn ông Xa Văn T trình bày: Do gia đình gặp khó khăn, không
ruộng đất để sản xuất. Đến năm 2008, ông Xa Văn T đơn lên xóm, để
xin đất cộng đồng được xóm, chấp thuận. Sau đó xóm, đã thành lập
đoàn công tác đi để kiểm tra, bàn giao đất cho gia đình ông T ông Xa Văn L
cùng có đơn xin đất như gia đình ông T, đoàn đi gồm: 1) ông Xa Văn P - Cán bộ
địa chính xã; 2) ông Xa Văn T6 - Trưởng xóm; 3) ông Văn Q - Cán bộ quản
bảo vệ rừng; 4) ông Xa Văn M1 - Người chng kiến (ông M1 đã chết); 5)
ông Xa Văn T - Hộ xin đất; 6) ông Xa Văn L - Hộ xin đất cùng nhau đi tận nơi
kiểm tra khu vực ông T ông L xin đất, sau đó cùng đoàn đã lập biên bản
kiểm tra và bàn giao đất cho gia đình ông T khoảnh 29 theo bản đồ số 3 loại
rừng gồm các lô: lô số 2 là 0,6 ha; lô số 3 là 11,0 ha; lô số 4 là 6,5 ha. Từ đó ông
T đầu mở đường khai hoang trồng rừng. Cụ thể, trồng cây gỗ keo cho đến
nay đã được hai chu kỳ, hiện nay đang trồng chu kỳ 3. Trong thời gian đó, ông T
cũng tiến hành Hợp đồng thuê đất với xóm, để đảm bảo được vay vốn sản
xuất. Gia đình ông T canh tác ổn định từ năm 2008 cho tới nay, không tranh
chấp với ai. Nay ông Q yêu cầu trả đất, ông T không đồng ý phần đất đang
tranh chấp này ông T canh tác liên tục, ổn định từ năm 2008 cho đến nay.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân C trình
bày: Ông Q các đương sự đã được giải thích về các quy định của Luật Đất
đai, các bên vẫn giữ quan điểm của mình, Ủy ban nhân dân xã C đề nghị Toà án
giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. Nếu trong trường hợp cụ thể
vụ án này trước đây Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mà sai đối tượng thì sẽ bị thu hồi theo quy định của Luật Đất đai.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Lường Thị T3 anh Xa
Văn D trình bày: Đồng quan điểm với ông Xa Văn T không đồng ý trả phần
đất đang tranh chấp này cho ông Q. phần đất đang tranh chấp này gia đình
canh tác liên tục, ổn định từ năm 2008 cho đến nay.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Thị Đ, anh Văn K, chị
4
Thị N1 anh Văn M trình bày: đồng quan điểm với ý kiến của ông
Văn Q là yêu cầu gia đình ông T trả lại toàn bộ diện tích đất tại thửa 577 cho gia
đình.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, anh Xa Văn T4, bà Lò T5 và bà
Thị H1: không đồng ý với ý kiến của ông Văn Q về yêu cầu các hộ trả
phần đất đang canh tác cho ông Q vì phần đất của các hộ đang canh tác ổn định,
lâu dài từ trước năm 2008 cho đến nay. Nay ông Q tranh chấp phần đất này
không căn cứ ông Q chưa lần nào canh tác tại phần đất này ttrước
năm 2008 cho đến nay.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Hà Văn T2 trình bày: Năm
2008, ông T2 với cương vị Chủ tịch Ủy ban nhân dân T trước đây hợp
đồng cho ông Xa Văn T thuê đất tại vị trí đất đang tranh chấp này, việc ông T và
hộ ông Xa Văn L cùng đơn xin được thuê đất, ông T2 người ký. Việc hợp
đồng thuê đất với chthủ tục cho ông T làm sở để vay vốn Ngân hàng
đầu tư vốn sản xuất, trồng cây phát triển kinh tế, cũng không thu của ông T
tiền thuê đất. Ông T sử dụng canh tác tnăm 2008 cho đến nay không
tranh chấp với ai. Vị trí đất đang tranh chấp này, ông Q được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: Giấy CNQSD đất) tkhi nào, ông T2 không
nhớ. Ông Q chưa lần nào canh tác tại mảnh đất này, kể từ năm 2008 cho đến
nay. Thấy rằng, ông Q chưa lần nào canh tác trên mảnh đất này lại
Giấy CNQSD đất, trong khi đó ông T các hộ khác canh tác ổn định từ trước
năm 2008 cho đến nay lại được cấp Giấy CNQSD đất. Do đó, ông Q thuộc
hợp Nhà nước cấp đất không đúng đối tượng được cấp đất theo quy định của
Luật Đất đai. Trong hcấp Giấy CNQSD đất chữ của ông T2, ông T2
cho rằng khi bộ phận tham mưu của trình hồ giao đất cho ông Q, khi đó
không chỉ hồ sơ xin cấp đất của ông Q rất nhiều hồ sơ xin cấp đất của xã,
nên không biết được viêc ông Q lập hồ cấp đất trên phần đất của ông T đang
canh tác. Nay thấy rằng, việc cấp đất cho ông Q trên phần đất của ông T đang
canh tác phần đất đó đang cho ông T thuê trái với quy định của pháp luật.
Đây cũng là nguyên nhân cấp Giấy CNQSD đất theo Quyết định số 672 của Thủ
tướng Chính phủ do quan thực hiện hiện dán đo đạc nên không nắm
được, dẫn đến việc cấp đất không đúng đối tượng người sử dụng đất và xảy ra
tranh chấp đất đai.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Xa Văn P trình bày: Năm
2008, ông P là cán bộ địa chính của đi kiểm tra đất để giao cho các hộ thuê
đất, gồm: hộ ông Xa Văn T và hộ ông Xa Văn L. Đoàn đi gồm có ông P, ông Hà
Văn Q là cán bộ lâm nghiệp của xã T khi đó, ông Xa Văn T6 trưởng xóm T và
5
ông Xa Văn M1 (đã chết) là người chứng kiến, ông Q là người ghi biên bản giao
đất cho các hộ tại vị trí đất đang tranh chấp hiện nay. Hộ nhà ông Q được Nhà
nước giao đất tại vị trí này từ khi nào ông không biết. Khi được giao đất từ năm
2008 cho đến nay hộ ông T hộ ông L canh tác ổn định tđó đến nay không
tranh chấp với ai, ông Q chưa có lần nào canh tác tại vị trí đất tranh chấp này
lần nào, ông Q người biết phần đất đang tranh chấp này là của ông T đang
canh tác mà lại làm hồ sơ cấp đất trên vị trí đất ông T và các hộ khác canh tác ổn
định tnăm 2008 cho đến nay. Thấy rằng, ông Q không thuộc đối tượng được
cấp đất trên phần đất đang tranh chấp này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Xa Văn T6 trình bày: Năm
2008, hộ ông T hộ ông L đơn đề nghị xóm T xã T trước đây cho thuê
đất tại vị trí đang tranh chấp này, khi đó ông T6 trưởng xóm T đã cùng với
đoàn đi giao đất cho hộ ông T và hộ ông L. Từ khi được giao đất ông T và ông L
hợp đồng với xóm thuê đất tại vị trí đất tranh chấp này để canh tác, việc hợp
đồng cũng chỉ thủ tục cho các hộ làm sở để vay vốn ngân hàng đầu vào
trồng rừng phát triển kinh tế, xóm không thu đồng nào của các hộ này. Hộ ông Q
được cấp Giấy CNQSD đất từ khi nào tại mảnh đất đang tranh chấp này ông T6
không biết. Hộ ông T ông L đã canh tác ổn định bằng việc trồng cây tnăm
2008 cho đến nay. Ông Q thừa biết vị trí đất này là của ông T được xóm, xã giao
từ năm 2008, ông Q cũng chính là thành viên do xã cử đi cùng đoàn để kiểm tra
đất và giao đất cho ông T tại vị trí đất đang tranh chấp này.
Bản án dân sthẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Phú Thọ quyết định: áp dng khoản 9 Điều
26; Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 228, Điều
266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 5 Điều 38 Luật Đất đai năm
2003; khoản 3 Điều 81 Luật Đất đai năm 2024, nay tuyên x như sau:
Không chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của ông Văn Q. Hủy
giấy CNQSD đất mang tên Văn Q Thị Đ cấp ngày 10/10/2013, số
phát hành sổ BL541392, do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Hoà Bình cấp.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về trách nhiệm của ông Q, Ủy ban nhân dân C
liên quan đến việc Hủy giấy CNQSD đất, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Trong các ngày 29/11/2025 ngày 15/3/2026, ông Văn Q kháng cáo
đề nghị Hủy toàn bộ Bản án dân sự thẩm để xét xử lại theo đúng quy định
pháp luật hoặc sửa Bản án dân sự thẩm theo hướng công nhận hộ gia đình
ông Q là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 577, tờ bản đồ số
01, diện tích 96.879 m
2
tại xóm T, C, tỉnh Phú Thọ buộc ông Xa Văn T,
6
anh Xa Văn T4, bà Thị T5, bà Thị H1 phải thu dọn tài sản, trả lại toàn bộ
diện tích đất đang chiếm giữ trái pháp luật tại thửa đất số 577.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ bổ
sung Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Lò Thị H2, anh Xa Văn T7,
chị Xa Thị H3 và chị Xa Thị Hà
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Thị H2 trình bày: H2
vợ của ông Xa Văn H5 (đã chết năm 2009). H2 ông H5 kết hôn với
nhau từ năm 1982 sinh được 03 người con, gồm: anh Xa Văn T7, sinh năm
1983; chị Xa Thị H3, sinh năm 1985 và chị Xa Thị H4, sinh năm 1990. Về phần
đất đang tranh chấp giữa ông Q và ông T, bà H2 chỉ biết là giao cho các hộ canh
tác, làm nương, trồng lúa, trồng ngô. Cứ 01-02 vụ lại bỏ, cả làng đều làm như
vậy, làm khu nào thì cả làng cùng nhau làm để tránh thú rừng phá hoại. Đến năm
2008, ông T làm đất để trồng cây, từ đó đến nay thì ông Q chưa lần nào canh tác
trên mảnh đất này, sự việc này cả xóm T, C, tỉnh Phú Thọ đều biết. Gia đình
H2 chưa được cấp Giấy CNQSD đất vị trí thửa đất đang tranh chấp. Đối
với số lô, thửa, ghi trong Biểu tổng hợp giao đất, giao rừng khoán rừng năm
1995, cán bộ lâm nghiệp huyện giao cho gia đình H2 phần đất đang tranh
chấp nhưng gia đình H2 không lấy do xa nhà gia đình yêu cầu
lấy lô đất khác và đã được cấp Giấy CNQSD đất theo sổ 02, nay đã được chuyển
cấp đổi sang sổ hồng. Ngoài ra, H2 không liên quan đến phần đất đang
tranh chấp giữa ông Q và ông T, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Xa Văn T7, chị Xa Thị H3
chị Xa Thị H4 trình bày: Bố anh, các chông Xa Văn H5 (đã chết năm
2009) và mẹ là bà Lò Thị H2. Về phần đất đang tranh chấp giữa ông Q và ông T
thì anh, các chị không biết không nắm được cụ thể, chỉ biết ông T đang canh
tác ở phần đất tranh chấp. Về nguồn gốc đất thế nào thì cũng không biết. Vì vậy,
phần đất này không liên quan đến quyền lợi của anh, các chị, đề nghị Tòa án giải
quyết theo pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn, ông Nguyễn Văn Q1 trình
bày: Trước đó thửa đất do ông H5 sử dụng. Do ông H5 không sử dụng nên
ông Q sử dụng đất từ năm 1992 đến năm 2007 thì cho ông T mượn, việc sử dụng
đất này đã thể hiện theo bản đồ số 02 (ý kiến của cán bộ địa chính thể hiện rõ tại
Biên bản hòa giải tại xã: căn cứ Bản đồ số 02 và Bản đồ 672, khẳng định hộ ông
T đang canh tác sử dụng vào đất của ông Q. Hồ cấp Giấy CNQSD đất của
ông Q thực hiện từ năm 2007. Việc đến năm 2013, Ủy ban nhân dân mới cấp
Giấy CNQSD đất cho hộ ông Q do lỗi của quan Nhà nước. Ngoài ra, cấp
thẩm không giải quyết triệt để vụ án, ràng ông Q kiện ông T, H1, anh
7
T4, bà T5, cấp sơ thẩm lại xác định bà H1, anh T4, bà T5 Người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan là không đúng mà phải là Bị đơn. Anh T4, bà T5, bà H1 tham
gia tố tụng nhưng chưa bất kỳ Bản tự khai hay Biên bản lấy lời khai, chỉ
lời khai tại phiên hòa giải, phiên tòa nhưng những lời khai này lại mâu thuẫn
song Tòa cấp sơ thẩm không làm rõ mà cho rằng họ sử dụng ổn định để bác toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của ông Q không đúng; khi xem xét thẩm định tại chỗ
thửa đất tranh chấp không có Ủy ban nhân dân xã tham gia với tư cách là Người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan hay quan tài sản cần thẩm định; Ủy
ban nhân dân C chỉ đưa ra câu trả lời chung chung là nếu Ủy ban nhân dân
huyện cấp sai thì bị thu hồi chưa đưa ra các căn cứ của việc cấp Giấy
CNQSD đất cho ông Q là không đúng; Rừng cây tự nhiên (thửa 577 - 2 theo bản
trích đo) thể hiện ông Q người đang sử dụng, quản lý. Do đó, đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Q, Hủy bản án dân sự
thẩm và công nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hà Văn Q, buộc 04 hộ (ông T,
anh T4, bà T5, bà H1) trả lại diện tích đất đã lấn chiếm tại thửa đất số 577.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn, trợ giúp viên pháp
T1 trình bày: Ông Q không đúng đối tượng sử dụng đất. Đề nghị giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán và
Thư phiên tòa của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
dân sự ở giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp tụng
dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban vQuốc hội. Chấp nhận kháng cáo
của ông Văn Q, Hủy bản án dân s thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 25
tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Phú Thọ do vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng chưa thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ tại
cấp phúc thẩm không thbổ sung được. Về án phí, ông Q không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ vào các chng c, tài liệu đã được thm tra ti phiên tòa phúc
thẩm; căn c vào kết qu tranh lun tại phiên tòa, trên s xem xét đầy đủ,
toàn din tài liu, chng c, ý kiến ca Kim sát viên những người tham gia
t tng.
8
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của Nguyên đơn trong thời hạn luật định, hợp lệ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được chấp nhận
để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Nguyên đơn ông Văn Q khởi kiện yêu cầu trả lại toàn bộ diện
tích lấn chiếm của thửa đất số 577 tại xóm T, C, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân
dân khu vực 14 - Phú Thọ đã xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp quyền sử
dụng đất để thụ giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền, được quy định tại
khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật
Tố tụng dân sự.
[1.3] Về phạm vi khởi kiện: Theo đơn khởi kiện, ông Q kiện ông T trả lại
toàn bộ thửa đất 577. Sau khi tiến hành đo đạc, ngoài hộ ông T đang sử dụng
diện tích tranh chấp còn các hộ: anh T4, T5, H1 sử dụng. Tại buổi tiếp
cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 25/9/2025, ông Q đã yêu cầu ông T, bà
T5, H1 anh T4 phải trả lại diện ch đã lấn chiếm tại thửa đất số 577. Tại
cấp phúc thẩm, đại diện của Nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm kiện ông
T, T5, H1 anh T4. Theo quy định tại Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự,
đáng lẽ Thẩm phán phải xem xét giải quyết các yêu cầu phạm vi khởi kiện,
việc sửa đổi bổ sung yêu cầu nhưng Tòa án cấp thẩm đã không xem xét vấn
đề trên mà ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử là thiếu sót, dẫn đến việc giải quyết
vụ án không triệt để.
[1.4] Về xem xét thẩm định tại chỗ: Theo hồ ván, ngày 07/8/2025,
Tòa án cấp sơ thẩm có tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ lần 2 nhưng trong hồ
không có Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ bổ sung; không thể hiện việc
đã tống đạt văn bản tố tụng liên quan đến xem xét thẩm định tại chỗ; Biên bản
xem xét thẩm định tại chỗ chỉ thể hiện có sự tham gia của ông Q, ông T, anh T4,
T5, H1 đại diện Tòa án biên bản; không Ủy ban nhân dân
tham gia với tư cách Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoặc tham gia
với tư cách quan nơi tài sản cần thẩm định. Tại phiên tòa phúc thẩm,
ông T, ông Q anh T4 đều xác nhận không đại diện Ủy ban nhân dân C
tham dự. Như vậy, việc xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất tranh chấp do Tòa án
cấp sơ thẩm tiến hành ngày 07/8/2025 đã vi phạm quy định tại Điều 101 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[1.5] Tư cách tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, Ủy
ban nhân dân C cung cấp Biểu tổng hợp Giao đất, giao rừng khoán rừng
năm 1995, theo đó diện tích tranh chấp ghi tên Xa Văn H5. Qua xác minh, ông
9
H5 đã chết năm 2009, ông H5 vợ Thị H2 các con anh Xa Văn
T7, chị Xa Thị H3 và chị Xa Thị H4. Do đó, cần phải đưa bà Lò Thị H2, anh Xa
Văn T7, chị Xa Thị H3 chị Xa Thị H4 vào tham gia tố tụng với cách là
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án để thực hiện quyền và nghĩa
vụ theo quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.6] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Q, ông Q1, ông T, Trợ giúp viên
Thưởng, ông T2, anh T4, T3, anh D, anh K, Đ, chị N1, anh M, anh T7
mặt. Những người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt nhưng đã
được triệu tập hợp lệ hoặc có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật
Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung
Ông Văn Q căn cứ vào Giấy CNQSD đất số BL541392 do Ủy ban
nhân dân huyện Đ, tỉnh Hòa Bình cấp ngày 10/10/2013 mang tên hộ ông
Văn Q Thị Đ để khởi kiện yêu cầu ông Xa Văn T các hộ khác (anh
T4, bà H1 và bà T5) phải trả lại toàn bộ diện tích lấn chiếm tại thửa 577 tại xóm
T, C, tỉnh Phú Thọ. Tòa án cấp thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông Q đồng thời Hủy Giấy CNQSD đất cấp cho hộ ông Q. Ông Q
không nhất trí nên kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm Hủy toàn bộ Bản án
dân sự sơ thẩm để xét xử lại đồng thời công nhận hộ gia đình ông Q người có
quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 577, tờ bản đồ số 01, diện tích
96.879 m
2
tại xóm T, C, tỉnh Phú Thọ buộc ông Xa Văn T, Thị T8,
anh Xa Văn T4, bà Thị H1 phải thu dọn tài sản, trả lại toàn bộ diện tích đất
đang chiếm giữ trái pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:
Tài liệu được lưu giữ tại Ủy ban nhân dân C thì thửa đất đang tranh
chấp, trước đây theo Biểu tổng hợp Giao đất, giao rừng và khoán rừng năm 1995
thể hiện tên người sử dụng đất ông Xa Văn H5, tên thửa khoảnh 16, 71,
diện tích 10,4. Theo dự án 672, thì thửa đất tranh chấp có tên thửa là thửa đất số
577, tờ bản đồ số 01, diện tích 96.879 m
2
(đất rừng sản xuất) tại xóm T, C,
tỉnh Phú Thọ, tên người sử dụng ông Văn Q. Ngày 10/10/2013, được Ủy
ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Hòa Bình cũ cấp Giấy CNQSD đất mang tên hộ ông
Hà Văn Q, bà Lò Thị Đậu .
Tiến hành xác minh tại cấp phúc thẩm, ông Xa Văn H5 đã chết. Bà Lò Thị
H2 (vợ ông H5) ý kiến trước đây gia đình được giao nhưng không sử dụng
thửa đất tranh chấp do ở xa nên đã xin vớiở thửa đất khác, thửa đất xin xã đã
được cấp Giấy CNQSD đất nên không ý kiến về thửa đất tranh chấp.
các con của ông H5 là anh Xa Văn T7, chị Xa Thị H3 và chị Xa Thị H4 đều có ý
kiến không đòi hỏi quyền lợi đối với thửa đất tranh chấp. Theo nguyên cán bộ
10
địa chính ông Xa Văn P, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân T ông
Văn T2 đều khẳng định thửa đất tranh chấp là đất của Cộng đồng xóm T, sau đó
cho ông T thuê thời điểm năm 2008, việc thuê này chỉ thủ tục để cho ông T
làm sở vay vốn Ngân hàng. Như vậy, nguồn gốc đất trước thời điểm năm
2007 chưa được làm rõ là đất thuộc của ai (cá nhân hay của Cộng đồng xóm T9)
trong trường hợp gia đình ông H5 không sử dụng, trong khi ông Q khai sử
dụng một thời gian từ năm 1998 đến năm 2001, từ 2006 - 2007 ttrồng lúa
nương (Bút lục 97), sau đó thì cho ông T mượn. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Q
khai bắt đầu sử dụng từ năm 1992.
Ngày 13/4/2007, ông Văn Q đơn xin giao đất Lâm nghiệp đối với
03 thửa: 451, 553, 577, diện tích của ba thửa này nằm gần nhau, trong đó
thửa 577 thửa đang tranh chấp, đã được chính quyền xác nhận, đã được
Phòng Tài nguyên Môi trường huyện xác nhận hồ đầy đủ, đạt yêu cầu.
Tuy nhiên, đến ngày 10/10/2013, Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy CNQSD
đất cho ông Q.
Theo như ông Q trình bày, trong thời gian chờ nhận Giấy CNQSD đất, gia
đình ông đã canh tác trên ba thửa đất số 451, 553, 577, cụ thể là liên kết liên
doanh trồng rừng với Công ty L3, thời điểm đó em rể ông Xa Văn T từ
miền N về không đất nên ông Q mời ông T vcanh tác cùng làm dự án.
Nhưng để chia lợi nhuận được đảm bảo giữa Công ty và gia đình ông, ông T nên
ông giao cho ông T sử dụng diện tích thửa 577. Đến năm 2016 thực hiện
xong dự án xong, ông Q vẫn cho ông T mượn từ đó cho đến khi xảy ra tranh
chấp. Quá trình ông T sdụng, bị các hộ lấn chiếm thì thêm ông Xa Văn L1
sử dụng năm 2012, Thị H1 Thị T5 sử dụng canh tác năm 2020. Sự
việc được Ủy ban nhân dân H nhưng Ủy ban cho rằng đất của ông Q nên
không giải quyết cho ông T.
Ông T khẳng định mình sử dụng thửa đất tranh chấp này từ năm 2008, sau
thời điểm ông Q đơn xin được cấp Giấy CNQSD đất. Ông T cho rằng mình
không mượn của ông Q thuê của Ủy ban nhân dân xã, diện tích thuê
khoảnh 29, gia đình ông sdụng từ đó cho đến nay. Biên bản kiểm tra đất rừng
ngày 25/6/2008, xác định khoảnh 29 đất cộng đồng theo bản đồ 3 loại đất.
Tuy nhiên cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ khoảnh 29 này có đúng khoảnh 16,
71 (theo Hồ02) hay thửa 577 (theo dự án 672) không, hay là cho thuê một
diện tích khác không hay phải diện tích tranh chấp.
Quá trình giải quyết tại cấp thẩm, xác diện tích tranh chấp ngoài hộ
ông Xa Văn T sử dụng còn hộ anh T4, H1 T5 đang sử dụng và còn
cả diện tích đất rừng tự nhiên, cụ thể: Theo Bản trích đo ngày 23/9/2025 của
11
Chi nhánh văn phòng Đ1: thửa đất 577 - 5, anh Xa Văn T4 sử dụng diện tích
2.600,8m
2
; Thửa đất 577- 4, Thị H1 sdụng diện tích 1.938m
2
; Thửa
đất 577- 3, Thị T5 sử dụng diện tích 2.173,7m
2
; Thửa đất 577- 1, ông
Xa Văn T sdụng diện tích 72.500,7m
2
, thửa đất các hsử dụng đều là loại
đất RSN (đất rừng tự nhiên). Anh T4, H1 T5 khai tại cấp phúc thẩm
được sử dụng một phần diện tích tranh chấp từ năm 1992. Nhưng theo Biên
bản hòa giải, Biên bản phiên tòa tại cấp thẩm, thì anh T4 khai sử dụng canh
tác năm 2012, trước đó bố mẹ anh T4 cũng đã sử dụng (Bút lục 97), lời
khai của anh T4 khai không nhớ thời gian sử dụng chỉ biết từ xưa đã canh
tác; T5 lúc khai sử dụng năm 1992 lúc khai sử dụng năm 2007 (Bút lục 158).
Ngoài ra, còn thửa đất 577- 2, xác định đất rừng tự nhiên, diện tích
1.766,5m
2
, tại phiên tòa phúc thẩm ông Q khai ông vẫn quản lý, sử dụng nhưng
thấy rằng nội dung này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm làm ai người sử
dụng diện tích đất rừng tự nhiên.
Theo đơn khởi kiện của ông Văn Q khởi kiện ông T trả toàn bộ diện
tích của thửa 577. Sau khi tiến hành đo đạc biết 03 hộ khác đang sử dụng,
ông Q đã ý kiến buộc các hộ ông T, anh T4, H1 T5 trả lại toàn bộ
diện tích đất lấn chiếm tại thửa 577. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết
vụ án, Tòa án chỉ mới xem xét đến diện tích đất tranh chấp giữa ông T và ông Q
trong khi thửa đất này còn các hộ khác sử dụng, còn đất rừng tự nhiên
chưa làm của ai. Tòa án cấp sơ thẩm mới căn cứ vào ý kiến của các hộ anh
T4, bà H1, bà T5 tại buổi hòa giải, phiên tòa sơ thẩm để khẳng định các hộ khác
đều canh tác ổn định, liên tục trước khi ông Q được Nhà nước giao đất để bác
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Q là chưa đủ căn cứ, chưa đảm bảo quyền lợi
cho ông Q.
[3] Từ những nhận định tại mục [1] mục [2], thấy rằng Tòa án cấp
thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng việc thu thập chứng cứ chưa
được thực hiện đầy đủ tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung
được. Do đó, chấp nhận kháng cáo của ông Văn Q, Hủy bản án dân sự
thẩm số: 03/2025/DS - ST ngày 25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 -
Phú Thọ.
[4] Về chi phí tố tụng, án phí : Do bản án dân sự thẩm bhủy nên căn
cứ khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự khoản 3 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, án phí
dân s thẩm chi phí t tng ti cấp thẩm được xác định khi Tòa án gii
quyết li v án. Ông Hà Văn Q không phi chu án phí dân s phúc thm.
Vì các lẽ trên,
12
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hà Văn Q. Hủy bản án dân s
thẩm số: 03/2025/DS - ST ngày 25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14
- Phú Thọ. Chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 14 - Phú Thọ để
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. V chi phí t tng, án phí: căn cứ khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng
dân sự khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án pdân s thẩm chi phí t tng ti cấp thẩm được xác định
khi Tòa án gii quyết li v án.
- Án phí dân s phúc thm: ông Hà Văn Q không phi chu án phí dân s
phúc thm.
3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (30/6/2026)./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 14 - Phú Thọ;
- TAND khu vực 14 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 14 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA; tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Hoàng Ngọc Liễu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 170/2026/DS-PT Bản án số 170/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 170/2026/DS-PT Bản án số 170/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất