Bản án số 48/2026/DS-PT ngày 01/07/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 48/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 48/2026/DS-PT ngày 01/07/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 48/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đinh Xuân K - Đinh Xuân T - Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 48/2026/DS-PT Bản án số 48/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 48/2026/DS-PT Bản án số 48/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 48/2026/DS-PT
Ngày: 01-7-2026
V/v Tranh chấp
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn; Ông Dương Viết Hải
- Thư phiên tòa: Hoàng Thị Minh Nguyệt - Thư k Ta án nhân dân
tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Chế Thị Bích Thuỷ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24/6/2026 ngày 01/7/2026, tại trụ sở Ta án nhân dân
tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số: 22/2026/TLPT-DS về
việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất”
Do bản án dân sự thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị bị nguyên đơn và bị đơn kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 28/2026/QĐ-PT ngày
08 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đinh Xuân K, sinh năm 1955 và bà Phạm Thị Thanh
T, sinh năm 1960; nơi cư trú: thôn B P, xã B, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Đàm Xuân M, sinh
năm 1992; nơi cư trú: C thôn T, xã H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Đinh Xuân T1, sinh năm 1961; Đinh Thị X, sinh năm
1968; ông Đinh Xuân T2, sinh năm 1963 và bà Trần Thị T3, sinh năm 1970, cùng
trú: thôn B, xã B, tỉnh Quảng Trị; bà X, T3 đơn đề nghị xét xử vắng mặt,
có mặt tại phiên ta ngày 24/6/2026 và 01/7/2026.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân B, tỉnh Quảng Trị; đơn đnghị xét xử
vắng mặt.
+ Đinh Thị Thúy L, sinh năm 1989; nơi trú: A Đ, phường Đ, tỉnh
Quảng Trị, có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
+ Đinh Thị Tuyết L1, sinh năm 1992; nơi trú: thôn B, B, tỉnh
Quảng Trị, có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
+ Ông Đinh Xuân C, sinh năm 1966 và bà Đinh Thị N, sinh năm 1970; nơi
cư trú: thôn B, xã B, tỉnh Quảng Trị, có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như
sau:
Phía nguyên đơn trình bày: Vào ngày 30/11/2009 Hộ gia đình ông K, T
được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa
đất số 744, tờ bản đồ số 23, diện tích 41.259 m
2,
mục đích sử dụng đất: Đất rừng
sản xuất mang tên hộ ông Đinh Xuân K Phạm Thị Thanh T. Từ khi được
cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, gia đình ông đã quản l, sdụng ổn
định phần diện tích đất này, không có tranh chấp với bất kỳ ai. Trước đây tại đơn
khởi kiện ông bà có trình bày là có đổi một phần diện tích thuộc thửa đất số 744,
tờ bản đồ số 23 cho ông Đinh Xuân C. Tuy nhiên, phần đất đổi cho ông C thửa
đất khác không liên quan đến diện tích đất đang tranh chấp, đó cũng là đất của vợ
chồng ông. Vào khoảng đầu năm 2024, phía các đồng bị đơn là gia đình ông T1
và ông T2 chủ sử dụng đất hai lô đất liền kề đã có hành vi lấn chiếm trái phép
thuộc quyền sở hữu của gia đình ông bà. Cụ thể gia đình ông T1 thửa đất số 711
tờ bản đồ số 23 đã lấn chiếm 7329,1 m
2
thuộc thửa đất số 744 của gia đình ông
bà. Gia đình ông T2 thửa đất số 710 tbản đồ số 23 lấn chiếm 4065,4m
2
thuộc
thửa đất s744, tờ bản đồ số 23 của gia đình ông bà. Để đảm bảo cho quyền lợi
ích hợp pháp của mình, ông, bà đề nghị Toà án giải quyết buộc ông T1, bà X trả
lại diện tích đất 7.329,1m
2
mà ông T1, bà X đã lấn chiếm cho gia đình ông K, bà
T; buộc ông T2 T3 trả lại diện tích 4065,4 m
2
ông T2, T3 đã lấn chiếm
của gia đình ông bà. Đề nghị các đồng bị đơn khôi phục lại ranh giới theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông bà. Buộc các đồng bđơn khai
thác di dời các loại cây trồng ra khỏi phần diện tích đất lấn chiếm. Liên quan đến
yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa 744 711 tờ bản đồ số 23 ông T1, bà X cho rằng đất cấp
không đúng hiện trạng sử dụng đất, ông K, bà T đề nghị Toà án căn cứ quy định
Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự áp dụng thời hiệu khởi kiện ra quyết định đình
chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
đối với yêu cầu buộc hộ ông K trả lại cho ông T1, bà X diện tích 7.329,1 m
2
nằm
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 744, vị trí mốc giới theo sơ
đồ đối chiếu hiện trạng thửa đất ngày 10/6/2025 là không có cơ sở do đất này đã
được cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình ông K, bà T đã được Nhà nước công
nhận quyền sử dụng đất, gia đình nguyên đơn sử dụng ổn định không tranh
chấp nên đề nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại bản tự khai, đơn phản tố, biên bản ho giải v tại phiên to Bđơn
ông Đinh Xuân T1 và bà Đinh Thị X trình bày:
Năm 1990 do mưu sinh cuộc sống ba anh em ông T1, ông K, ông T2 hẹn
nhau đi khoanh nuôi bảo vệ rừng với mục đích để chặt rào hái củi bán kiếm thêm
thu nhập. Vào năm 2009 nhà nước có chủ trương về đo đạc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Gia đình ông sử dụng n định nên đủ điều kiện được cấp giấy.
Tuy nhiên, thời điểm đoàn đo đạc đến làm việc do ông bận việc không tham
gia buổi dẫn đạc nên đã uỷ quyền cho chPhạm Thị Thanh T vợ của ông Đinh
Xuân K vào dẫn đạc. Ông bà tin tưởng bà T vì là chị dâu nên nghĩ rằng bà sẽ dẫn
3
đạc đúng vị trí thửa đất mà gia đình ông đang sử dụng. Sau khi được uỷ ban
nhân dân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AN 141670 ngày
30/11/1990, diện tích 13,305 m
2
thửa đất s711, tờ bản đồ số 23 mang tên hông
Đinh Xuân T1 và Đinh Thị X gia đình ông vẫn tiếp tục canh tác ổn định từ đó đến
nay không bị ai cản trở. trước đây đó đất rừng chưa ai khai phá cũng như
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc sử dụng đất không bị tranh
chấp, đồng thời do hạn chế về mặt hiểu biết nên vợ chồng ông không nhận thức
được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp chồng lên diện tích đất của vợ
chồng ông bà. Thực tế từ sau khi được cấp giấy chứng nhận đến nay ông bà sử
dụng ổn định không có tranh chấp và vợ chồng ông sau đó đã phát cây trồng keo
đã được 3 mùa. Đến năm 2024 khi xảy ra tranh chấp ông bà mới biết diện tích đất
bấy lâu ông sử dụng đã được cấp cho hộ ông K, T từ năm 2009. Chính
vậy, ông không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc vợ
chồng ông trả lại diện ch 7329,1 m
2
của thửa đất số 744, tờ bản đồ số 23. Đề nghị
Toà án huỷ giấy chứng quyền sử dụng đất thửa đất thửa số 744, tờ bản đồ số 23
tại B, tỉnh Quảng Trị số H09081 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho
hộ ông Đinh Xuân K và bà Phạm Thị Thanh T và huỷ giấy chứng quyền sử dụng
đất thửa đất thửa số 711, tờ bản đồ số 23 tại xã B, tỉnh Quảng Trị số AN141670
được Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Đinh Xuân T1 và bà Đinh Thị X
do cấp sai hiện trạng sử dụng đất; Tại đơn phản tố ông đề nghị buộc ông K và bà
T phải trả lại cho hộ ông Đinh Xuân T1 7329,1 m
2
đất nằm trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa đất số 744 tờ bản đồ số 23, tuy nhiên tại phiên toà ông bà
đề nghị Toà án công nhận diện tích 7329,1 m
2
nằm trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thửa đất số 744, tờ bản đồ số 23 cho ông được quyền sở hữu, sử
dụng.
- Tại bản tự khai, biên bản hoà giải, tại phiên toà bị đơn ông Đinh
Xuân T2, bà Trần Thị T3 thống nhất trình bày: Năm 1990, do cuộc sống mưu
sinh nên ba anh em hẹn nhau đi khoanh nuôi, bảo vệ rừng với mục đích chặt
rào hái củi bán kiếm thêm thu nhập. Cũng năm đó nhà nước chủ trương làm
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do bận công việc nên ông, không
tham gia buổi dẫn đạc được, vậy đã uỷ quyền cho T chị dâu; sau đó vợ
chồng ông được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất thửa đất số 710, tờ bản
đồ số 23 với diện ch 3569 m
2
. Liên quan đến phần diện tích nguyên đơn khởi
kiện thực chất trước đây ông K đã cho vợ chồng ông canh tác sử dụng từ năm
2012 cho đến nay, không tranh chấp tuy chỉ bằng miệng không giấy tờ
nhưng các hộ dân xung quanh đều biết việc này. Tại các phiên hoà giải muốn giữ
được hoà khí vợ chồng ông, đồng trả lại diện tích đất đó, tuy nhiên ông K
quá đáng nên ông bà không chấp nhận trả lại đất nữa. Vì thực chất liên quan đến
khu đất này ba anh em đều cùng nhau khai hoang sử dụng với nhau ổn định nên
đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận
yêu cầu phản tố của bị đơn Đinh Xuân T1Đinh Thị X về việc huỷ giấy chứng
nhận vì đất cấp không đúng hiện trạng sử dụng đất.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chtịch Ủy ban nhân dân
B trình bày: Uỷ ban nhân dân xã đã nhận được văn bản của Toà án về việc trình
bày kiến đối với yêu cầu phản tố của ông Đinh Xuân T1 về việc yêu cầu hu
4
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 711 và 744, tờ bản đsố
23 tại xã L (nay là tờ bản đồ số 55 B) vì cho rằng việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 744 đã cấp chồng lên thửa đất ông T1
X đã sử dụng từ trước đến nay. Uỷ ban nhân dân xã đã chỉ đạo Phng kinh tế phối
hợp với Chi nhánh văn phng đăng k đất đai Khu vực V. Căn cứ vào văn bản
phản hồi của Chi nhánh Văn phng Đ, chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B nhận thấy
hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nói trên đúng
với trình tự thủ tục quy định. Do đó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B đề nghị Toà
án nhân dân Khu Vực 1 căn cứ vào các quy định để xem xét giải quyết theo quy
định của pháp luật.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đinh Thị Thúy L, Đinh Th
Thúy L2; đại diện theo uỷ quyền của L và bà L2 thống nhất trình bày: Đ
nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người quyền lợi nghĩa vliên quan ông Đinh Xuân C trình y: liên
quan đến tranh chấp đất đai giữa nguyên đơn và bị đơn đối với phần diện tích đất
trên ông không kiến gì, phần diện tích đất ông và ông K đổi cho nhau
không nằm trong phần diện tích đang tranh chấp mà thuộc thửa đất khác của ông
K. Tuy nhiên theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện phần diện tích của
ông và ông K đổi cho nhau nằm trong diện tích ông T1 được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thuộc thửa số 711, tờ bản đồ số 23, đối với vấn đề này sau này
nếu ông T1 đi đất thì tôi sẽ trả lại cho ông T1 còn ông K phải có trách nhiệm trả
lại đất cho tôi, tôi không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này. Liên quan
đến khởi kiện của ông K, tôi cũng hộ dân có đất tại khu vực này và cũng là
con của ba anh em nguyên đơn, bị đơn. Đối với diện tích đất hiện tại ông K đang
sử dụng thì từ khi khai hoang đến giờ ông T1 đều sử dụng diện tích đó từ đó đến
nay, phần đất mà tôi được đổi từ vợ chồng ông K từ trước đến nay ông T1 và bà
X không hề kênh tác tại khu vực này, ông bà chỉ sử dụng tại vị trí đất hiện tại các
bên tranh chấp.
- Người làm chứng ông Đinh Xuân H trình bày: ông chú thúc với
nguyên đơn và bị đơn, ông cũng là hộ dân có đất được cấp tại khu vực này. Liên
quan đến nguồn gốc đất các bên đang tranh chấp ông có biết trước đây thực hiện
chủ trương khoanh nuôi, bảo vệ rừng từ năm 2006-2007 ba anh em K, T1, T2 đã
ra khu vực đất đó để phát, khoanh vùng đất để bảo vệ chung, sau đó khoảng một
hai năm ông T1 trồng sắn rồi sau này mới trồng keo trên diện tích đang tranh chấp.
Đến năm 2008 chủ trương làm thẻ đỏ nên các hộ được cấp giấy chứng nhận.
Từ khi được cấp giấy chứng nhận đến 2024 cả ba anh em cùng nhau canh tác
không xảy ra tranh chấp. Ông K ông T2 từ khi được cấp đất đến nay đều sử
dụng đất vị trí hiện tại, phía đất của ông T1 sử dụng là từ khe nước đi vào sau
đó đến đất ông K rồi mới đến đất của ông T2 cn phía bên kia khe nước diện
tích đất mà ông K đổi cho ông C. Diện tích hiện tại các bên đang canh tác cùng
nhau khai hoang.
- Người làm chứng ông Đinh Xuân T4 trình bày: Ông hàng xóm
cũng hộ dân đất liền kề đang canh tác tại khu vực đất các bên đang tranh
chấp. Năm 2009 tại khu vực này các hộ dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Nguồn gốc của diện tích đất hiện tranh chấp do ba anh em cùng nhau
5
khai hoang. Đất ông T1 ông T2 sử dụng hiện tại đang tranh chấp đó ông
T1 ông T2 đã sử dụng từ lâu rồi. Nguồn gốc ba anh em cùng ra khoanh nuôi
bảo vệ ổn định từ đó đến nay. Ông là hộ gia đình được giao đất ở gần đó nên biết
được ông K ông T2 từ khi cấp đất đến nay đều sử dụng vị trí hiện tại, phía
đất của ông T1 sử dụng là từ khe nước đi vào, sau đó đến đất ông K rồi đến đất
ông T2. Ông chỉ biết là từ khi ra khoanh rừng đến nay ông T1 đều sử dụng phần
đất hiện tại để trồng cây. Trong bản đồ địa chính hiện tại diện tích đất của ông K
và bà T đã gấp 4-5 lần so với đất của ông T2 và ông T1. Điều này tôi thấy không
công bằng, vùng khoanh nuôi ban đầu mọi người đều khai hoang làm chung
nên phải chia bằng nhau. Nhưng hiện tại, diện tích đất của ông K đã nhiều nhất
nhưng ông K vẫn tiếp tục khởi kiện ông T1 và ông T2 là hoàn toàn vô lý.
Theo yêu cầu của nguyên đơn, ngày 04/6/2025, Ta án nhân dân huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là Khu vực 1 - Quảng Trị) tiến hành xem xét, thẩm
định tại chỗ và định giá phần đất tranh chấp theo hiện trạng sdụng đất của
các hộ gia đình kết quả thể hiện như sau:
- Thửa đất số 744, tờ bản đồ số 23 theo dẫn đạc của ông K bà T tứ
cận như sau:
+ Phía Tây Bắc giáp thửa đất ông Q ông P mốc giới làm bằng cọc gỗ,
ranh giới được xác định theo tim giữa hai hàng cây, kích thước 134,72 m, từ điểm
10-16;
+ Phía Tây Nam giáp thửa đất của ông Đinh Xuân T2 đang sử dụng, mốc
giới làm bằng cọc gỗ, ranh giới được xác định theo tim giữa hai hàng cây, kích
thước 106,19 m, từ điểm 16-20;
+ Phía Đông Nam giáp thửa đất của bà Đinh Thị N, mốc giới được xác định
bằng cọc gỗ, ranh giới được xác định theo ranh giới đã được cấp giấy, kích thước
141,67 m, từ điểm 20-8;
+ Phía Đông Bắc giáp với thửa đất của ông Đinh Xuân T1 đang sử dụng,
mốc giới làm bằng cọc gỗ, ranh giới được xác định theo tim giữa hai hàng cây,
kích thước 109,48 m, từ điểm 8-10;
Tổng diện tích theo hiện trạng sử dụng 12.606,9 m
2
- Thửa đất số 710, tờ bản đồ số 23 theo dẫn đạc của ông T2 tứ cận như
sau:
+ Phía Tây Bắc giáp thửa đất ông Đinh Văn T5, mốc giới làm bằng cọc gỗ,
ranh giới được xác định theo tim giữa hai hàng cây, kích thước 123,85 m, từ điểm
16-26;
+ Phía Tây Nam giáp thửa đất của ông Đinh Xuân H đang sdụng, mốc
giới làm bằng cọc gỗ, ranh giới được xác định theo tim giữa hai hàng cây, kích
thước 97,38 m, từ điểm 21-26;
+ Phía Đông Bắc giáp thửa đất của ông Đinh Xuân K, mốc giới được xác
định bằng cọc gỗ, ranh giới được xác định theo ranh giới đã được cấp giấy, kích
thước 106,19 m, từ điểm 20-16;
+ Phía Đông Nam giáp với thửa đất của bà Đinh Thị N đang sử dụng, mốc
giới làm bằng cọc gỗ, ranh giới được xác định theo tim giữa hai hàng cây, kích
thước 20,71 m, từ điểm 20-21.
Tổng diện tích theo hiện trạng sử dụng 7.162,9 m
2
6
- Thửa đất số 711, tờ bản đồ số 23 theo dẫn đạc của ông T1 tứ cận như
sau:
+ Phía Tây Bắc giáp thửa đất ông Đinh Xuân Q, mốc giới làm bằng cọc gỗ,
ranh giới được xác định theo tim giữa hai hàng cây, kích thước 42,44 m, từ điểm
10-1.
+ Phía Tây Nam giáp thửa đất của ông Đinh Xuân K Đinh Thị N,
mốc giới làm bằng cọc gỗ, ranh giới được xác định theo tim giữa hai hàng cây,
kích thước 129,63 m, từ điểm 10-7;
+ Phía Đông Bắc giáp với khe nước mốc giới làm bằng cọc gỗ, ranh giới
được xác định bằng tim hàng rào cây xanh, kích thước 133,99 m, từ điểm 1-5;
+ Phía Đông Nam giáp với thửa đất của ông Trần Quốc T6, mốc giới làm
bằng cọc gỗ, ranh giới được xác định theo tim giữa hai hàng cây, kích thước 62,86
m, từ điểm 5-7;
Tổng diện tích 8.314,9 m
2
- Thửa đất 744, tờ bản đồ số 23 có hiện trạng khác với bản đồ địa chính.
+ Phần tranh chấp diện tích 7329,1 m
2
. Từ điểm 8-9-10-11-1-2-4-5-8.
Phần tranh chấp này nằm trên diện tích đất ông T1 sdụng thuộc thửa đất số 744,
trên phần diện tích này ông T1 trồng cây keo đường kính từ 6 đến 8cm;
+ Phần tranh chấp diện tích 4065,4 m
2
từ điểm 16-17-18-19-20-23-30-
31-16 nằm trên diện tích đất ông T2 sử dụng. Trên phần đất tranh chấp ông T2 có
trồng cây keo đường kính từ 2-4 cm.
- Trên sở Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, Hội đồng định gtiến
hành định giá như sau:
+ Về đất: đất rừng sản xuất, vị trí 1 có đơn giá 10.000 đồng/m
2
.
+ Về cây: Cây keo đường kính dưới từ 6 cm-8 cm, trồng tập trung mật
độ từ 4000-5000 cây/ha có giá 75.495.000 đồng/ha.
Cây keo có đường kính dưới từ 2 cm-4 cm, trồng tập trung mật đtừ 4000-
5000 cây/ha có giá 56.605.000 đồng/ha.
Bản án thẩm s 14/2026/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2026 của Toà án
nhân dân khu vực 1 Quảng Trị quyết định:
Căn c Điều 5, Điều 34, Điều 157, Điều 165 và khoản 2 Điều 227 của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 50, Điều 75 Điều 105 Luật Đất đai năm 2003; Điều 100 Điều
135, Điều 170, 171 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 4, Điều 13, Điều
137, Điều 141 và Điều 142 Luật Đất đai 2024;
Điều 175 và 176 Bộ luật Dân sự;
Điều 12, Điều 26, Điều 1 khoản 2 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Ta án; xử:
1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Đinh Xuân K Phạm
Thị Thanh T về việc buộc ông Đinh Xuân T2 Trần Thị T3 trả lại diện tích
4.065,4m
2
thuộc thửa đất s744, tbản đồ s23 xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình
(nay là xã B, tỉnh Quảng Trị).
Buộc ông Đinh Xuân T2 Trần Thị T3 trả lại cho ông Đinh Xuân K
Phạm Thị Thanh T diện tích 4.065,4 m
2
thuộc thửa đất số 744, tờ bản đồ số 23
7
xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã B, tỉnh Quảng Trị). Diện tích đất ông
T2 bà T3 phải trả lại tại các điểm 16-17-18-19-20-23-30-31-16 theo đồ thẩm
định đối chiếu hiện trạng ngày 10/6/2025 kích thước cụ thể: từ điểm 16 đến
điểm 17 kích thước 10,83 m; từ điểm 17 đến điểm 18 kích thước 38,50 m; từ điểm
18 đến điểm 19 kích thước 34,94 m; từ điểm 19 đến điểm 20 kích thước 21,92 m;
từ điểm 20 đến điểm 23 kích thước 40,14 m; từ điểm 23 đến điểm 30 kích thước
88,63 m và từ điểm 30 đến điểm 31 kích thước 21,43 m; từ 31 đến điểm 16 kích
thước 21,63 m.
Giao lại toàn bộ số cây trồng lấn chiếm trên diện tích 4.065,4 m
2
tại thửa
đất số 744, tbản đồ số 23 L, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay B, tỉnh
Quảng Trị) tại các điểm 16-17-18-19-20-23-30-31-16 theo đồ thẩm định đối
chiếu hiện trạng ngày 10/6/2025 kích thước cụ thể: từ điểm 16 đến điểm 17
kích thước 10,83 m; từ điểm 17 đến điểm 18 kích thước 38,50 m; từ điểm 18 đến
điểm 19 kích thước 34,94 m; từ điểm 19 đến điểm 20 kích thước 21,92 m; từ
điểm 20 đến điểm 23 kích thước 40,14 m; từ điểm 23 đến điểm 30 kích thước
88,63 m và từ điểm 30 đến điểm 31 kích thước 21,43 m; từ 31 đến điểm 16 kích
thước 21,63 m cho ông K và T sở hữu. Ông K và T trách nhiệm trả cho
ông T2 T3 số tiền 23.010.000 đồng (hai mươi ba triệu, không trăm mười
nghìn đồng).
Kể tngày nguyên đơn đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thi hành
số tiền trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng
với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
(Có sơ đồ đo vẽ kèm theo là một phần không thể tách rời của Bản án)
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc hộ ông
Đinh Xuân T1 Đinh Thị X trả lại cho ông Đinh Xuân K và bà Phạm Thị
Thanh T diện tích 7329,1 m
2
thuộc thửa đất số 744, tbản đồ số 23 L, huyện
B, tỉnh Quảng Bình (nay là B, Quảng Trị) và buộc ông Đinh Xuân T1Đinh
Thị X phải khai thác, thu hoạch, di dời nhbỏ toàn bộ số cây trồng lấn chiếm trên
diện tích 7329,1 m
2
tại thửa đất số 744, tờ bản đồ số 23 xã L, huyện B, tỉnh Quảng
Bình (nay là B, tỉnh Quảng Trị) để trả lại toàn bộ diện tích lấn chiếm cho ông
K và bà T.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đinh Xuân T1 và bà Đinh Thị X về
việc yêu cầu huỷ huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN141670, số
vào sổ cấp giấy H09170 tại thửa đất 711, tờ bản đồ số 23 do Ủy ban nhân dân
huyện B, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 30/11/2009 cho hộ ông Đinh Xuân T1
Đinh Thị X và huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN
141581, svào sổ cấp giấy H09081 tại thửa đất 744, tờ bản đồ số 23 do Ủy ban
nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 30/11/2009 cho ông Đinh Xuân K
và bà Phạm Thị Thanh T.
Huỷ một phần GCNQSDĐ số AN 141581 do Ủy ban nhân dân huyện B,
tỉnh Quảng Bình cấp ngày 30/9/2009 cho hộ ông Đinh Xuân K Phạm Thị
Thanh T tại thửa đất số 744, tờ bản đồ số 23 tại xã L (nay B, tỉnh Quảng Trị)
với diện tích 7.329,1 m
2
cụ thể tại các điểm 8-9-10-11-1-2-4-5-8 theo sơ đồ thẩm
định đối chiếu hiện trạng ngày 10/6/2025; kích thước cụ thể: từ điểm 8 đến điểm
8
9 kích thước 26,65 m; từ điểm 9 đến điểm 10 kích thước 82,83 m; từ điểm 10 đến
điểm 11 kích thước 27,34 m; từ điểm 11 đến điểm 1 kích thước 15,10 m; từ điểm
1 đến điểm 2 kích thước 18,54 m; từ điểm 2 đến điểm 4 kích thước 79,36 m và từ
điểm 4 đến điểm 5 kích thước 33,88 m; từ 5 đến điểm 8 kích thước 59,98 m.
Công nhận ông Đinh Xuân T1 Đinh Thị X được quyền sở hữu
7.329,1m
2
cụ thể tại các điểm 8-9-10-11-1-2-4-5-8 trên sơ đồ thẩm định đối chiếu
hiện trạng ngày 10/6/2025; trong đó từ điểm 8 đến điểm 9 dài 26,65 m; từ điểm 9
đến điểm 10 kích thước 82,83 m; từ điểm 10 đến điểm 11 kích thước 27,34 m; từ
điểm 11 đến điểm 1 kích thước 15,10 m; từ điểm 1 đến điểm 2 kích thước 18,54
m; từ điểm 2 đến điểm 4 kích thước 79,36 m và từ điểm 4 đến điểm 5 kích thước
33,88 m; từ 5 đến điểm 8 kích thước 59,98 m.
(Có sơ đồ đo vẽ kèm theo là một phần không thể tách rời của Bản án)
Các bên đương sự trách nhiệm liên hệ với các quan thẩm quyền
làm các thủ tục, đăng k biến động đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ngoài ra bản án thẩm cn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 10/3/2026, bị đơn ông Đinh Xuân T2 và Trần Thị T3 đơn kháng
cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét ông không đồng phần bản án
của Toà án trả lại diện tích 4.065,4m
2
cho nguyên đơn ông Đinh Xuân K
Phạm Thị Thanh T, đnghị huGCNQSDĐ đối với thửa đất số 744, tờ bản đsố
23 hiện do ông Đinh Xuân K và bà Phạm Thị Thanh T đang sử dụng.
Ngày 17/3/2026, nguyên đơn ông Đinh Xuân K Phạm Thị Thanh T
kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số
14/2026/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 1
Quảng Trị theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đinh Xuân T1
Đinh Thị X về việc hugiấy chứng nhận quyền sử dụng đất só H09081 chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Đinh Xuân T1 Đinh Thị X
trả lại diên tích 7.329,1m
2
đất theo Giấy chứng nhận đã cấp cho nguyên đơn.
Trong quá trình xét xử phúc thẩm, bị đơn ông Đinh Xuân T1 cung cấp cho
Toà án bản trình bày  kiến của ông Đinh Xuân P.
Tại phiên ta ngày 03/6/2026, nguyên đơn yêu cầu dừng phiên ta để
xem xét thẩm định bổ sung thửa 711, tờ bản đ23 Thửa đất cấp giấy chứng
nhận cho ông Đinh Xuân T1, bà Đinh Thị X.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thửa 711, tbản đồ 23 (nay là thửa 711,
tờ bản đồ 55 B) như sau: Diện tích theo giấy chứng nhận: 13.305 m
2
. Trên thửa
711, ông Đinh Xuân C đang trồng keo tràm với diện tích 3.576.9 m
2
và ông Đinh
Xuân K đang trồng keo tràm với diện tích 2.893,0 m
2
. Keo tràm đã được trồng
khoảng ba năm tuổi của lứa thứ 3. Theo ông C, thì diện tích ông C đang sử dụng
tại thửa 711 là do ông K đổi cho ông C từ năm 2010 để ông K sử dụng đất ông C
ở một thửa đất khác. Ngoài ra trên thửa 711, tờ bản đồ 55 (theo bản đồ địa chính
hiện tại) cn có các hộ dân khác đang sử dụng trồng keo tràm.
Ông K trình bày: phần đất có tranh chấp giữa ông K ông T1 thì ông T1
sử dụng từ trước đến nay, ngoài phần đất đó ra thì ông T1 không sử dụng phần
đất nào khác. Ông T1 trình bày ông sử dụng phần đất hiện có tranh chấp từ trước
đến nay. Việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận đất cho ông K, Tĩnh tại
9
thửa 744, tờ bản đồ 23 (xã L) là cấp chồng lên phần đất ông sử dụng, đối với thửa
711 giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên Đinh Xuân T1 thì sau này giải
quyết tranh chấp ông mới biết vị trí và ông chưa bao giờ sử dụng thửa đất đó.
vậy, ông đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông K, giữ nguyên bản án
thẩm của Ta án nhân dân khu vực 1 Quảng Trị liên quan đến tranh chấp giữa
ông và ông K. Ông T2 cùng trình bày phần đất tranh chấp giữa ông ông K
vợ chồng ông sdụng từ trước đến nay. Cả ông K, ông T2, ông T1, ông C trình
bày trước khi được cấp giấy chứng nhận, khu vực rừng hiện tại các hộ sử dụng
trồng keo tràm là rừng nguyên sinh, các hộ dân gần đó phát sẻ rừng để lấy củi, có
một shộ dân trồng sắn những chỗ đất trống được một thời gian thì không trồng
sắn nữa. Các hộ dân bắt đầu trồng keo tràm từ năm 2010 sử dụng từ đó đến
nay không có tranh chấp.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu kiến về việc
chấp hành pháp luật tố tụng của Ta án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã
chấp hành đúng các quy định ca B lut T tng dân s;
- V nội dung: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông K, sửa bản án thẩm
số 14/2026/DS-ST ngày 05/3/2026 của TAND khu vực 1 Quảng Trị: Chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc các bị đơn phải trả lại phần đất lấn chiếm,
không chấp nhận yêu cầu của ông Đinh Xuân T1 về đnghị hủy giấy chứng nhận
cấp cho ông T1 tại thửa 711 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông
K, bà Tĩnh tại thửa 744, tờ bản đồ số 23 tại xã L (nay là xã B).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ ván kết qutranh tụng tại phiên
ta, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét kháng cáo của đương sự:
[1.1]. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Xuân K và Phạm Thị
Thanh T đề nghị Ta án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Đinh Xuân T1 Đinh
Thị X trả lại diện tích 7.329,1m
2
đất đã cấp theo giấy chứng nhận số AN 141581
được UBND huyện B cấp ngày 30/11/2009 không chấp nhận yêu cầu của bị
đơn ông T1X về việc tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên,
Hội đồng xét xử thấy:
Tại phiên ta phúc thẩm, những người sử dụng đất rừng tại L (nay là
B) đang tham gia tố tụng tại Ta án đều thừa nhận trước khi được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vào năm 2009, toàn bkhu vực rừng này thuộc rừng tự
nhiên. Các hộ dân phát sẻ rừng lấy củi, một số hộ trồng sắn được một năm thì bỏ
không trồng nữa. Năm 2010, sau khi được cấp giấy chứng nhận thì các hộ bắt đầu
trồng keo tràm và sử dụng ổn định cho đến nay. Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của các hộ thấy rằng: Ngày 16/10/2007, ông Đinh Xuân
K và Phạm Thị T đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa
744, tờ bản đồ số 23, địa chỉ thửa đất tại xóm B P, L, B, Quảng Bình (cũ) với diện
tích 41.259 m
2
. Ngày 30/11/2009, UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử
10
dụng đất số AN 141581 cho hộ ông Đinh Xuân K Phạm Thị Thanh T tại
thửa đất nói trên và với diện tích theo đơn đnghị cấp giấy chứng nhận. Ngày
16/10/2007 ông Đinh Xuân T1 đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sdụng
đất tại thửa 711, tờ bản đồ số 23, địa chỉ thửa đất tại thôn P, xã L, huyện B (cũ)
với diện tích 13.305 m
2
. Ngày 30/11/2009, UBND huyện B, tỉnh Quảng Bình (cũ)
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đinh Xuân T1, Đinh Thị
X tại thửa đất nói trên với diện tích đúng theo diện tích ghi tại đơn xin cấp giấy
chứng nhận quyền sdụng đất. Theo ông K, ông T1 thì các ông đã khai hoang từ
năm 1989, sử dụng ổn định. Tuy nhiên, ông K, ông T1 không các giấy tờ chứng
minh thời điểm sử dụng đất. vùng đất nói trên trước khi cấp giấy là đất rừng
tự nhiên, người dân không được phép khai hoang rừng tự nhiên đối tượng
được nhà nước bảo vệ. Việc các hộ dân phát sẻ lấy củi, dọn thực bì, thậm chí chặt
cây để lấy đất sản xuất không được coi khai hoang hợp pháp. Ông K, ông T1
cũng thừa nhận các ông bắt đầu trồng cây keo tràm từ m 2010 đến nay. Theo
kết quả thẩm định tại chỗ thấy rằng, ông T1, X đang trồng cây trên thửa đất
cấp cho ông K, T. trên thửa đất cấp cho ông T1 (thửa đất 711) thì ông K,
ông C một shộ dân khác lại trồng cây keo tràm, khai thác đã ba lứa (cứ 05
năm khai thác một lần). Việc sử dụng đất (trồng keo tràm) bắt đầu từ năm 2010.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không chồng lấn lên nhau theo
đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Như vậy, nguyên nhân của việc xảy
ra tranh chấp đất đai giữa các hộ do các hdân sử dụng không đúng diện tích
được cấp. Theo Điều 170 Luật đất đai, người sử dụng đất nghĩa vsử dụng đất
đúng mục đích ranh giới thửa đất. Theo hồ cấp giấy chứng nhận thì không
có biên bản giao đất thực địa dẫn đến các hộ không biết vị trí đất của mình ở đâu,
các hộ cũng không yêu cầu quan thẩm quyền giao đất thực địa tự trồng
keo tràm theo cảm tính dựa trên vị trí trước kia đã từng phát sẻ rừng tự nhiên để
cho rằng cấp giấy chứng nhận không đúng thực tế sdụng từ đó yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ. Từ những nhận định trên thấy
rằng, yêu cầu kháng cáo của ông K về việc chấp nhận đơn khởi kiện của ông yêu
cầu ông T1, bà X trả lại phần đất ông T1 đang sử dụng tại thửa 744, tờ bản đồ số
23 xã L (cũ) là có căn cứ. Hiện tại keo tràm ông T1 trồng trên thửa 744 có đường
kính từ 6 đến 8 cm, chưa khai thác được. Cần giao cho ông K, bà T sở hữu ông
K, bà T nghĩa vụ thanh toán giá trcây cho ông T1, bà X theo gcây Hội đồng
đã định giá giai đoạn thẩm; Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AN 141581 do UBND huyện B (cũ) cấp cho hông Đinh
Xuân K và bà Phạm Thị Thanh T tại thửa số 744, tờ bản đồ số 23 L, huyện B,
tỉnh Quảng Bình (nay B, tỉnh Quảng Trị) cũng như không chấp nhận yêu cầu
của ông Đinh Xuân T1 vviệc yêu cầu hủy giẩy chứng nhận quyền sử dụng đất
số AN 141670 do UBND huyện B (cũ) cấp cho hộ ông Đinh Xuân T1, bà Đinh
Thị X tại thửa 711, tờ bản đồ số 23. Theo kết quả thẩm định hiện tại ông K, ông
C và các hộ dân khác đang sử dụng thửa 711, tờ bản đồ số 23 cấp cho ông T1, bà
X. Các hộ sử dụng đất ông T1 nghĩa vụ trả lại đất cho ông T1. Nếu không, ông
T1, X quyền khởi kiện đi lại phần đất đã bị lấn chiếm bằng vụ án dân sự
khác.
11
[1.2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Đinh Xuân T2 Trần Thị T3 đề
nghị Ta án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng công nhận cho ông bà
được quyền sử dụng diện tích 4.065 m
2
tại thửa 744, tờ bản đồ số 23 đề nghị
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 141581 do UBND huyện B (cũ)
cấp cho hộ ông Đinh Xuân K và bà Phạm Thị Thanh T tại thửa số 744, tờ bản đồ
số 23 xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình (cũ), Hội đồng xét xử thấy: Ngày
16/10/2007, ông Đinh Xuân T2 đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất tại thửa đất 710, tờ bản đồ số 23, địa chỉ thửa đất tại thôn P, L, diện tích
3.569 m
2
. Ngày 31/11/2009, UBND huyện B đã cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông T2, T3 tại thửa đất nói trên và diện tích đúng trong đơn
xin cấp giấy chứng nhận. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/5/2025
thể hiện, ngoài phần keo tràm ông T2, T3 trồng trên thửa 710 (giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên ông T2, bà T3) thì ông T2, bà T3 cn trồng keo tràm
trên thửa 744 của ông K, bà T với diện tích 4.065,4 m
2
. Ông T2 trình bày diện tích
này do ông K T cho vợ chồng ông mượn để canh tác tuy nhiên không lập
thành văn bản mà chỉ trao đổi miệng, phía nguyên đơn không thừa nhận việc cho
mượn mà cho rằng ông T2 T3 đã tự  lấn chiếm. Do vậy, Ta án cấp sơ thẩm
xét xử buộc ông T2, T3 trả lại phần đất lấn chiếm trên thửa 744 căn cứ.
Mặc trên thửa đất 744 ngoài ông T2, ông K, ông T1, ông P, ông Q sdụng
nhưng việc sử dụng trồng keo tràm sau khi cấp giấy (năm 2010), trình tự thủ
tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đảm bảo quy định của pháp luật. Do
đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông T2 về việc công nhận phần
đất ông bà đã sử dụng trên thửa 744 và không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông K, bà Tĩnh tại thửa 744, tờ bản đồ số 23
L, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là xã B, tỉnh Quảng Trị)
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn ông Đinh Xuân K, Phạm Thị Thanh T, sửa án thẩm,
buộc ông Đinh Xuân T1, Đinh Thị X trả lại diện tích 7.329,1m
2
ông bà
đang sử dụng tại thửa 744 cho ông K, bà T; không chấp nhận yêu cầu của ông T1
về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 744 tại thửa 711, tờ
bản đồ s23 L (nay là xã B); Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đinh
Xuân T2, bà Trần Thị Tuyết .
[2]. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tại giai đoạn phúc thẩm: Chi phí
5.200.000 đồng. Ông K tự nguyện chịu. Ông K nộp tạm ứng 10.000.000 đồng.
Trả tại phiên ta cho ông K 4.800.000 đồng.
[3]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Đinh Xuân
T2 Trần Thị T3 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên,
ông T2 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 5 khoản 2 Điều
227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 50, Điều 75 Điều 105 Luật
12
Đất đai năm 2003; Điều 100 Điều 135, Điều 170 Điều 203 Luật Đất đai năm
2013; Điều 4, Điều 13, Điều 137, Điều 141 Luật Đất đai 2024; Điều 175 176
Bộ luật Dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Ta án: Không chấp
nhận kháng cáo của ông Đinh Xuân T2, Trần ThT3; chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn ông Đinh Xuân K, Phạm Thị Thanh T, sửa bản án thẩm số
14/2026/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 1
Quảng Trị, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử:
+ Buộc ông Đinh Xuân T1, bà Đinh Thị X trả lại phần diện tích 7.329,1m
2
thuộc thửa đất số 744, tờ bản đồ số 23 xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay
B, tỉnh Quảng Trị) tại các điểm: 1,2,4,5,8,9,10,11 theo đồ kèm theo bản án cho
ông Đinh Xuân K, Phạm Thị Thanh T. Giao cho ông Đinh Xuân K, Phạm
Thị Thanh T được sở hữu số cây trên diện tích đất tại thửa 744 tại các điểm:
1,2,4,5,8,9,10,11 theo sơ đồ buộc ông Đinh Xuân K và bà Phạm Thị Thanh T
nghĩa vụ thanh toán giá trị tiền cây trên đất cho ông Đinh Xuân T1, Đinh
Thị X số tiền: 55.331.040 đồng (năm mươi lăm triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn
không trăm bốn mươi đồng).
+ Buộc ông Đinh Xuân T2Trần Thị T3 trả lại cho ông Đinh Xuân K
và bà Phạm Thị Thanh T diện tích 4.065,4 m
2
thuộc thửa đất số 744, tờ bản đồ số
23 L, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là B, tỉnh Quảng Trị) tại các điểm 16-17-
18-19-20-23-30-31-16 theo sơ đthẩm định đối chiếu hiện trạng ngày 10/6/2025.
Giao lại toàn bộ số cây trồng lấn chiếm trên diện tích 4.065,4 m
2
tại thửa đất số
744, tbản đồ số 23 L, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay B, tỉnh Quảng
Trị) tại các điểm 16-17-18-19-20-23-30-31-16 theo đồ thẩm định đối chiếu
hiện trạng ngày 10/6/2025 cho ông K T sở hữu. Ông K T trách
nhiệm trả cho ông T2 và bà T3 số tiền 23.012.196 đồng (hai mươi ba triệu không
trăm mười hai nghìn một trăm chín mươi sáu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của ông Đinh Xuân T1, Đinh Thị X về việc
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 141581 được UBND huyện B cấp
ngày 30/11/2009 cho ông Đinh Xuân K Phạm Thị Thanh T tại thửa đất số
744, tờ bản đồ 23 địa chỉ thửa đất tại xã L, huyện B (nay là xã B, tỉnh Quảng Tr)
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất số AN 141670 được UBND
huyện B cấp ngày 30/11/2009 cho hộ ông Đinh Xuân T1 Đinh Thị X tại
thửa đất số 711, tờ bản đồ 23 địa chỉ thửa đất tại xã L, huyện B (nay là xã B, tỉnh
Quảng Trị.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi
thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng, bên phải thi hành án phải thanh toán
khoản tiền lãi chậm trả trên số tiền chưa thi hành theo lãi suất quy định tại khoản
2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
Dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án
dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
13
2. Về chi phí thẩm định tại chỗ giai đoạn phúc thẩm: Ông K tự nguyện
chịu 5.200.000 đồng. Trả tại phiên ta cho ông K 4.800.000 đồng.
3. Ông Đinh Xuân T2 được miễn án phí phúc thẩm, Trần Thị T3 phải
chịu 150.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 01/7/2026.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND khu vực 1 – Quảng Trị;
- Phng THADS khu vực 1 - Quảng
Trị;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Toà DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Từ Thị Hải Dương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 48/2026/DS-PT Bản án số 48/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 48/2026/DS-PT Bản án số 48/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất