Bản án số 605/2025/DSPT ngày 20/09/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 605/2025/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 605/2025/DSPT ngày 20/09/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 605/2025/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của ông H1, sửa bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 605/2025/DSPT Bản án số 605/2025/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 605/2025/DSPT Bản án số 605/2025/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN T
Bản án số: 605/2025/DS-PT
Ngày: 20 9 2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng cầm cố -
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đòi
lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỒ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Đào Thị Thủy.
Các Thẩm phán:
Bà Mạc Thị Chiên
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Tấn Phát - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Nguyễn Thị
Thanh Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 16 và ngày 20 tháng 9 năm 2025, tại phòng xét xử Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
226/2025/TLPT-DS ngày 30 tháng 07 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng
cầm cố, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”,
Do Bản án dân sự thẩm số 43/2025/DS-ST, ngày 07 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 8 – Cần Thơ) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 544/2025/QĐ-PT ngày 07
tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 463/2025/QĐ-PT
ngày 23 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Quan H, sinh năm: 1963
Địa chỉ: Số B Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An, (nay là số 20 Đoàn Bá S,
P, tỉnh Tây Ninh).
2
Địa chỉ liên hệ: Số C T, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là số C
T, phường P, thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo y quyền của ông H: Ông Phạm Quốc H1, sinh năm
1991.
Đị chỉ: Số C T, phường B, thành phố S, tỉnh c Trăng (nay số C T,
phường P, thành phố Cần Thơ). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1948;
Địa chỉ: Ấp H, H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp H, xã H, thành phố
Cần Thơ). Có mặt
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông H2: Luật sư Võ Tuấn H3
Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh S (cũ).
Địa chỉ: Số A H, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay số A H,
phường S, thành phố Cần Thơ). Có mặt
2.2. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1973
Địa chỉ: Ấp H, H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp H, H, thành phố
Cần Thơ). Có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Trần Thị M, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Số B Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An, (nay là số 20 Đoàn Bá S,
P, tỉnh Tây Ninh)
Địa chỉ liên hệ: Ấp H, H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp H, H,
thành phố Cần T).
Người đại diện theo ủy quyền của M: Trần Thị Mộng T, sinh năm
1989. Vắng mặt
3.2. Bà Ngô Thị N, sinh năm 1951;
Địa chỉ: : Ấp H, H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp H, H, thành
phố Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nguyễn Văn H2.
Địa chỉ: Ấp H, H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp H, H, thành phố
Cần Thơ).
3.3. Ông Trần Quốc T1, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp H, xã H, thành
phố Cần Thơ). Vắng mặt
3.4. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp H, xã H, thành
phố Cần Thơ).
3
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Ông Nguyễn Văn H4.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp H, xã H, thành
phố Cần Thơ).
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn H2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án thẩm c tài liệu trong hồ thì nội dung vụ án như
sau:
Tại đơn khởi kiện đngày 23-5-2023, trong quá trình giải quyết vụ án
tại phiên toà, nguyên đơn ông Trần Quan H có người đại diện hợp pháp trình bày
cho rằng trước đây ông Trần Quan H 04 công tầm cấy đất ruộng toạ lạc ấp H,
xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa
đất số 226, 227, 228 cùng tờ bản đồ số 11, tổng diện tích 5.201m
2
do Ủy ban nhân
dân huyện M cấp cho ông H đứng tên ngày 26-09-1993. hoàn cảnh gia đình
khó khăn nên vào năm 1989 ông H cố toàn bộ diện tích đất trên cho ông Nguyễn
Văn H2 với giá 1,8 tấn lúa (1.800kg); đến năm 1992, ông H lấy thêm 01 tấn lúa
(1000kg), như vậy tổng cộng 02 lần ông H đã nhận 2,8 tấn lúa (2.800kg). Việc cố
đất 02 bên có làm giấy tay do phía ông H2 giữ. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn
nên sau khi cố đất cho ông H2 thì gia đình ông H đi lập nghiệp sinh sống tại
thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2002, ông H2 yêu cầu cho chuộc lại đất nhưng
ông H không khả năng nên để ông H2 làm đất tiếp tục, ông H nói đến khi
nào ông H có khả năng sẽ chuộc lại. Năm 2022, ông H có khả năng nên về liên hệ
với ông H2 chuộc lại đất nhưng ông H2 đòi chuộc giá 160.000.000 đồng, ông H
không đồng ý yêu cầu cố bao nhiêu t chuộc bấy nhiều theo giá trị của
2.800kg lúa tại thời điểm, ông H2 không đồng ý nên việc thỏa thuận chuộc lại đất
không thành. Đến khoảng tháng 09/2023 ông H yêu cầu chuộc lại đất thì ông H2
cho rằng phần đất trên đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H4 (là con rể của
ông H2) cung cấp Tờ sang nhượng ngày 20-2-1998. Trong Giấy chuyển
nhượng có chữ ký ông H và bà Trần Thị M (vợ ông H) thì đây là chữ ký giả mạo
trước giờ ông H chỉ giao dịch cố đất với ông H2, không biết ông H4, chưa từng
giao dịch với ông H4. Đồng thời, trước đây ông H đăng ký khai làm Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tranh chấp nhưng ông H chưa nhận Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và không hiểu do tại sao hiện ông H2, ông H4 giữ Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H.
Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố Tờ sang tên
chuyển nhượng đất được lập ngày 20-02-1998 giữa ông Trần Quan H, Trần
Thị M với ông Nguyễn Văn H4 hiệu, do giả mạo chữ vchồng ông H.
4
Yêu cầu cho ông H chuộc lại đất cố buộc ông H2, ông H4 phải trả đất cho ông
H thửa đất số 226, 227, 228 toạ lạc ấp H, H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; ông H
đồng ý trả cho ông H2 2.800kg lúa theo giá trị mi ký lúa là 6.000 đồng stiền
16.800.000 đồng. Yêu cầu ông H2, ông H4 phải giao trả Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp cho ông H ngày 26-09-1993.
Tại Đơn phản tố đề ngày 7-11-2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn H2 (đồng thời là người đại diện của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị N) trình bày cho rằng năm 1995 ông
Trần Quan H cố cho ông Nguyễn Văn H2 04 công đất tầm cấy đất lúa tính tầm
điền 5.200m
2
với số lúa là 4.000kg thời hạn 03 năm, trong thời gian này ông H2,
ông H làm giấy hợp đồng cố đất do ông H2, ông H ký tên và giao ông H2 giữ.
Đến năm 1998, là hạn ông H về chuộc đất nhưng ông H không chuộc mà kêu ông
H2 đưa thêm 4.000kg lúa nữa đứt luôn, c này ông H2 không đồng ý thị
trường khi đó chuyển nhượng 01 công tầm cấy chỉ có giá 1.800kg lúa, cuối cùng
ông H đồng ý chuyển nhượng cho ông H2 giá 01 công là 1.800kg lúa là đứt luôn.
Ngày 20-02-1998, hai bên làm giấy hợp đồng lại từ cố sang chuyển nhượng, giấy
hợp đồng không còn hiệu lực nữa, chuyển sang hợp đồng mới ông H2 không
đứng tên để tên con rể ông là Nguyễn Văn H4. Khi viết xong hợp đồng đọc
lại cho 02 bên cùng nghe đồng ý tên, ông H tên thế cho Trần
Thị M (vợ ông H). Cùng ngày 20-02-1998, ông H2 và ông H đến địa phương ấp
H nhờ địa phương xác nhận cho 02 bên mua bán là sự thật và có chữ xác nhận
của Trưởng ban N1 khi đó ông Nguyễn Ngọc D ông H giao Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông H2 giữ, ông H2 đã đưa đủ số lúa là 3.200kg cho ông
H, cộng chung 02 lần trước sau 7.200kg lúa. Sau khi nhận chuyển nhượng từ
ông H thì ông H2 sử dụng, cải tạo thành 03 ao nuôi hải sản và hiện đang cho ông
Trần Quốc T1 thuê hàng năm (không làm hợp đồng thuê). Bản chính Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H ngày 26-09-1993 thì ông H2 đang giữ,
không có cầm cố thế chấp hay giao cho người khác giữ. Nay ông H2 phản tố yêu
cầu Toà án giải quyết công nhận Tờ sang nhượng đất lập ngày 20-02-98 giữa vợ
chồng ông Trần Quan H, Trần Thị M với Nguyễn Văn H4 (con rể của ông
Nguyễn Văn H2) đối với quyền sdụng đất thửa đất số 226, 227, 228 cùng tờ bản
đồ số 11, toạ lạc ấp H, H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cho ông Nguyễn Văn H2
để ông Nguyễn Văn H2 được làm thtục sang tên quyền sdụng đất theo quy
định pháp luật. Ông H2 thống nhất xác định diện tích đất qua đo đạc thực tế tổng
cộng 5.528,7m
2
gồm thửa đất số 226 diện tích 3.047m
2
, thửa đất số 227 diện tích
1.087,1m
2
, thửa đất số 228 diện tích 1.394,6m
2
, cùng tờ bản đồ số 11, toạ lạc tại
ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và xác định giá trị quyền sử dụng đất tranh
5
chấp theo Chng thư thẩm định giá số 01/2024/CT-BĐS ngày 05-01-2024; giá
lúa thời điểm hiện tại 10.000 đồng/kg.
Tại đơn phản tố đề ngày 25-3-2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn H4 ồng thời là người đại diện theo y quyền
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ) trình bày cho rằng
quyền sử dụng đất tranh chấp trên của cha vợ ông ông Nguyễn Văn H2 đứng
ra giao dịch với ông Trần Quan H, nhưng giấy chuyển nhượng ngày 20-02-1998
thì để tên ông. Nay ông phản tố yêu cầu Toà án giải quyết công nhận Tờ sang
nhượng đất lập ngày 20-02-98 giữa vchồng ông Trần Quan H, bà Trần Thị M
với Nguyễn Văn H4 đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 226, 227, 228 cùng tờ
bản đồ số 11, toạ lạc ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cho ông Nguyễn Văn
H2 để ông Nguyễn Văn H2 được làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy
định pháp luật. Ông H4 thống nhất xác định diện tích đất qua đo đạc thực tế tổng
cộng 5.528,7m
2
gồm thửa đất số 226 diện tích 3.047m
2
, thửa đất số 227 diện tích
1.087,1m
2
, thửa đất số 228 diện tích 1.394,6m
2
, cùng tờ bản đồ số 11, toạ lạc tại
ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và xác định giá trị quyền sử dụng đất tranh
chấp theo Chng thư thẩm định giá số 01/2024/CT-BĐS ngày 05-01-2024; giá
lúa thời điểm hiện tại 10.000 đồng/kg.
Trong quá trình giải quyết ván, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Trần Quốc T1 tnh bày cho rằng hiện ông đang thuê quyền sử dụng đất thửa
đất số 226, 227, 228 cùng tờ bản đồ số 11, toạ lạc ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc
Trăng từ ông Nguyễn Văn H2 để nuôi thủy sản; thỏa thuận thuê hàng năm không
làm hợp đồng. Nay tranh chấp giữa ông H và ông H2 thì ông không có yêu cầu
hay ý kiến gì trong vụ án này; đồng thời ông yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử v
án vắng mặt ông theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Trần Thị M có người đại diện hợp pháp trình bày cho rằng bà M
là vcủa ông Trần Quan H, M chỉ biết giao dịch cố đất giữa ông H và ông H2,
do đó thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông H, ngoài ra không có yêu cầu hay
ý kiến gì khác.
Tại Bản án thẩm số 43/2025/DS-ST ngày 07/5/2025 của Tòa án nhân dân
huyện MXuyên, tỉnh Sóc Trăng (nay Tòa án nhân n khu vực 08 – Cần Thơ)
tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quan H đối với bị đơn ông
Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn H4:
6
1.1 Tuyên bhiệu Tờ sang nhượng đất lập ngày 20-02-98 giữa vợ chồng
ông Trần Quan H, Trần Thị M với ông Nguyễn Văn H4 đối với thửa đất số
226, 227, 228 cùng tờ bản đồ số 11, toạ lạc ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
1.2 Tuyên bố vô hiệu giao dịch cố đất năm 1986, năm 1992 giữa ông Trần
Quan H với ông Nguyễn Văn H2 đối với thửa đất số 226, 227, 228 cùng tbản
đồ số 11, toạ lạc ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
1.3 Buộc ông Nguyễn n H2, Ngô Thị N, ông Nguyễn Văn H4,
Nguyễn Thị Đ, ông Trần Quốc T1 trả lại cho ông Trần Quan H quyền sử dụng đất
đo đạc thực tế diện tích tổng cộng 5.528,7m
2
gồm thửa đất số 226 (diện tích
3.047m
2
), thửa đất số 227 (diện tích 1.087,1m
2
), thửa đất số 228 (diện tích
1.394,6m
2
), cùng tờ bản đồ số 11, toạ lạc tại ấp H, H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho
ông Trần Quan H ngày 26-9-1993, cụ thể số đo tứ cận như sau:
+ Đông giáp đất ông Nguyễn Văn G sđo 47,76m + 36,86m + 50,7m +
55,41m;
+ Tây giáp đất ông Trần Văn B, Nguyễn Văn T2 số đo 48,42m + 37,97m +
103,57m;
+ Nam giáp đất ông Trần Quốc T1, Nguyễn Văn T3 số đo 28,97m;
+ Bắc giáp đất ông Trần Văn X số đo 29,23m.
1.4 Buộc ông Trần Quan H nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn H2
số tiền 28.000.000 đồng (bằng chữ: Hai mươi tám triệu đồng). Kể từ ngàyđơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành
án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số
tiền chậm thi hành án.
1.5 Buộc ông Nguyễn Văn H2 trả lại cho ông Trần Quan H bản chính Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho ông Trần
Quan H ngày 26-9-1993 đối với thửa đất s226, 227, 228, tờ bản đồ số 11, toạ
lạc ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Trường hợp người được thi hành án có
đơn yêu cầu thi hành án nhưng người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ
trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì người được thi
hành án quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền đề nghị cấp lại
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất thay thế cho Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất nêu trên theo quy định pháp luật.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn n H2 về việc yêu
cầu Toà án giải quyết công nhận Tờ sang nhượng đất lập ngày 20-02-98 giữa vợ
7
chồng ông Trần Quan H, Trần Thị M với ông Nguyễn Văn H4 đối với phần
đất thửa đất số 226, 227, 228 cùng tờ bản đồ số 11, toạ lạc ấp H, xã H, huyện M,
tỉnh Sóc Trăng cho ông Nguyễn Văn H2 để ông H2 được làm thủ tục sang tên
quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn n H4 về việc yêu
cầu Toà án giải quyết công nhận Tờ sang nhượng đất lập ngày 20-02-98 giữa vợ
chồng ông Trần Quan H, Trần Thị M với ông Nguyễn Văn H4 đối với phần
đất thửa đất số 226, 227, 228 cùng tờ bản đồ số 11, toạ lạc ấp H, xã H, huyện M,
tỉnh Sóc Trăng cho ông Nguyễn Văn H2 để ông H2 được làm thủ tục sang tên
quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm; quyền
yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22 /5/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn H2 đơn kháng cáo toàn bộ Bản
án số 43/2025/DS-ST ngày 07/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh
Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 08 – Cần Thơ).
Nội dung kháng cáo: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại Bản án
thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chấp nhận yêu cầu phản tố
của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Văn H2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố
của bị đơn.
Bị đơn Nguyễn Văn H4 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của ông Nguyễn Văn H2, công nhận phần đất cho ông H2 đứng tên trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Luật Tuấn H3 người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình
bày: Giữa nguyên đơn bị đơn giao dịch đối với phần diện tích hơn 4 công
đất ruộng, nguyên đơn cho rằng là cố nhưng không cung cấp được tài liệu chứng
minh, bị đơn cung cấp được giấy sang nhượng đất, căn cứ vào các kết luận giám
định chữ thì cũng không xác định được chữ phải của nguyên đơn không,
thực tế nguyên đơn thay đổi chữ liên tục, bị đơn thì không mẫu chữ
của nguyên đơn thời điểm so sánh, trên thực tế ông H đã giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất bản chính cho ông H2 giữ ông H2 cũng trực tiếp canh tác
phần đất này từ năm 1998 đến nay, quá trình sử dụng từ đất lúa cải tạo thành 3 ao
nuôi hải sản không ai ngăn cản hay tranh chấp gì; Đối với lời khai của ông D cũng
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại ông D và vợ của ông H quan hệ họ hàng
8
với nhau nên lời khai không đảm bảo khách quan, do đó, đề nghị hội đồng xét xử
chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ Kiểm sát viên tham gia
phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Tkhi thụ đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng
dân sự.
- Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo
của bị đơn, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của các bên đương sự và quan
điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Hội đồng xét xử
nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền xét xử và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị
đơn để yêu cầu hủy tờ sang nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu được chuộc lại
phần đất đã cố và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Bị đơn phản tố yêu
cầu được công nhận tờ sang nhượng quyền sử dụng đất, công nhận phần đất đang
sử dụng, phần đất tranh chấp tọa lạc tại tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Tòa án nhân
dân huyện Mỹ Xuyên căn cứ khoản 2, 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm
a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thụ giải quyết ván về việc tranh
chấp hợp đồng cầm cố - chuyển nhượng quyền sử dụng đòi lại Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ.
[1.2] Đại diện ủy quyền của nguyên đơn đơn yêu cầu xét xử vắng mặt,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M vắng mặt, ông Trần Quốc
T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng
dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[1.3] Sau khi xét xử sơ thẩm bđơn ông Nguyễn Văn H2 đơn kháng cáo
đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 nên được Hội đồng xét xử
xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H2, Hội đồng
xét xử xét thấy:
9
[2.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cùng thống nhất phần
đất các bên đang tranh chấp theo sơ đồ hiện trạng ngày 20/12/2023 của Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Sóc Trăng, phần đất diện tích đo đạc
thực tế 5.528,7m
2
gồm thửa đất số 226 diện tích 3.047m
2
, thửa đất số 227
diện tích 1.087,1m
2
, thửa đất số 228 diện tích 1.394,6m
2
, tờ bản đồ số 11, toạ lạc
tại ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Hiện trạng đất là 03 ao nuôi hải sản do
phía bđơn Nguyễn Văn H2 cải tạo từ năm 1998 và sử dụng đến nay, phần đất do
Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho ông H đứng tên ngày 26-9-1993.
[2.2] Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận giữa nguyên đơn và b
đơn H2 từng giao dịch thửa đất số 226, 227, 228; tuy nhiên, nguyên đơn cho
rằng phần đất này cố cho bị đơn với giá 2,8 tấn lúa; Bị đơn Nguyễn Văn H2 không
đồng ý, cho rằng phần đất này ông nhận chuyển nhượng của nguyên đơn với giá
7,2 tấn lúa, do các bên không thỏa thuận được nên phát sinh tranh chấp. Nguyên
đơn cho rằng cố 4 công đất ruộng cho bị đơn với giá 2,8 tấn lúa, nhưng không
cung cấp được tờ cố đất, hai bên cũng không xác định được giá cố đất lúc ban
đầu, thời hạn cố đất bao lâu; Bị đơn Nguyễn Văn H2 cho rằng nhận chuyển
nhượng đất cung cấp được Tờ sang nhượng đất đề ngày 20-02-98”, theo
đó bị đơn cho rằng nguyên đơn tự tên, viết họ tên Trần Quang H5 tên,
ghi họ tên thay cho vợ Trần Thị M, sau đó bị đơn H2 nguyên đơn cùng
đến Trưởng ban N1 (khi đó là ông Nguyễn Ngọc D) xác nhận. Nguyên đơn không
thừa nhận chữ ký tên Trần Quang H5 trong Tờ sang nhượng đất trên.
Theo yêu cầu của nguyên đơn về việc trưng cầu giám định: Tại Công văn
số 11/GĐTL-KTHS ngày 12-01-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S từ chối giám
định với lý do chữ ký của ông H5 trên mẫu so sánh thiếu ổn định, chữ ký một số
mẫu so sánh không đồng dạng; tại Kết luận giám định số 3196/KL-KTHS ngày
23-7-2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận
không đủ sở kết luận chữ ký, chữ viết họ tên Trần Quang H5 trên tài liệu cần
giám định (A) so với chữ ký, chữ viết tên đứng tên Trần Quan H (Trần Văn H6)
trên tài liệu mẫu so sánh (M1-M23) phải hay không phải cùng một người
viết ra. Theo yêu cầu của bị đơn về việc trưng cầu giám định, tại Kết luận giám
định số 251/KLTL-KTHS ngày 31-01-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S luận
không đủ sở kết luận chữ mang tên Trần Quang H5 trên tài liệu cần giám
định (A) so với chữ đứng tên Trần Quan H trên tài liệu mẫu so sánh (M1-M10)
có phải do cùng một người ký ra hay không, không đủ cơ sở kết luận chữ viết họ
tên Trần Quang H5 trên tài liệu cần giám định (A) so với chữ viết đứng tên Trần
Quan H trên tài liệu mẫu so sánh (M1, M2, M4, M10) phải do cùng một người
10
viết ra hay không. vậy, ngoài tờ sang nhượng trên cần phải xem xét đánh giá
các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
[2.3] Đối với lời khai của ông Nguyễn Ngọc D (người xác nhận Trưởng
ban N1 trong Tờ sang nhượng đất đề ngày 20-02-98), trình bày: Thừa nhận chữ
trong Tờ sang nhượng do ông H2 cung cấp là chữ ký của ông D, tuy nhiên ông
D cho rằng thời điểm năm 1998 trên bị đơn ông H2 người đem Tờ sang nhượng
đất trên đến nhờ ông xác nhận, còn nội dung, sự việc giao dịch giữa các bên thì
ông không chứng chứng kiến, nhưng trước thời gian trên vài năm thì ông cũng có
từng xác nhận cố đất giữa ông H ông H2. Xét thấy, theo xác nhận của ông Ngô
Văn B1 ông Diệp Văn K thì nhà của ông D cách nhà của ông H 70m; phần đất
của ông D cách phần đất hiện đang tranh chấp 30m; trước đây ông D cũng từng
xác nhận việc ông H cố đất cho ông H2 thì tất nhiên ông D phải xác định việc ông
H chuyển nhượng đất cho ông H2 hay không mới dám xác nhận nội dung trong
Tờ sang nhượng đất, mặt khác ông D vợ của ông H mối quan hệ họ hàng
nên việc xác nhận trên Tờ chuyển nhượng sẽ không thể gây bất lợi cho phía bên
H được, do đó có cơ sở xác định việc ông H có chuyển nhượng đất cho ông H2
là đúng sự thật.
[2.4] Căn cứ vào xác nhận của người dân địa phương thì giá 04 công đất
ruộng vào năm 1998 sang với giá 7,2 tấn cũng phù hợp với giá các bên thỏa
thuận trên tờ sang nhượng ngày 20/02/1998. Quá trình giải quyết vụ án các bên
đều thừa nhận phần đất này ông H2 sử dụng từ năm 1989, đến năm 1998 thì ông
H2 đã cải tạo phần đất lúa thành 03 ao nuôi hải sản, quá trình cải tạo trên thì phía
gia đình nguyên đơn cũng không ai ngăn cản hay tranh chấp gì. Tại phiên tòa sơ
thẩm, phía đại diện ủy quyền của bị đơn cho rằng do ông H đi thành phố làm ăn
khi về thì phía bên gia đình ông H2 đã cải tạo đất xong nên không ngăn cản, lời
trình bày trên là chưa có cơ sở bỏi lẽ, phía ông H cho rằng cố nhưng không cung
cấp được giấy cố, thời hạn cố, giá cố, phía ông H2 đã thay đổi toàn hộ hiện trạng
đất từ đất lúa thành 03 ao nuôi hải sản, vậy tngười nhà của ông H phải biết,
nhưng cũng không ai ngăn cản gì. Mặt khác, hiện nay phần đất này Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất bản chính thì phía ông H2 người đang trực tiếp quản
lý, thông thường trong trường hợp cố đất thì người cố đất chỉ giao đất cho người
nhận cố đất sử dụng vào một thời hạn do hai bên thỏa thuận, chứ không giao Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của mình cho người nhận cđất quản được. Do
đó, sở xác định giao dịch giữa ông H ông H2 chuyển nhượng quyền
sử dụng đất chứ không phải cầm cố đất, Tòa án cấp thẩm cho rằng bị đơn
không cung cấp dược tài liệu chứng minh rằng phần đất này chuyển nhượng để
11
tuyên bố vô hiệu Tờ sang nhượng đất lập ngày 20-02-98 giữa vợ chồng ông Trần
Quan H, bà Trần Thị M với ông Nguyễn Văn H4 là không có cơ sở.
[2.5] Căn cứ Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP 10 tháng 8 năm 2004 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định Đối với hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4
điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng,
bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... bên
chuyển nhượng không phản đối cũng không bị quan nhà nước thẩm
quyền xử vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng”. Cũng tại quy
định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định 2. Giao dịch dân sự đã được
xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng
thực một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong
giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, a án ra quyết định công
nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực
hiện việc công chứng, chứng thực.”.
Đối chiếu trường hợp trên, Tờ sang nhượng ngày 20/2/1998 mặc làm
bằng văn bản, nhưng chưa được công chứng, chức thực bởi quan thẩm quyền
vi phạm về hình thức theo quy định tại Điều 502 Bộ luật dân sự 2015 nhưng
bên nguyên đơn đã giao đất giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị
đơn, bị đơn cũng đã thực hiện xong nghĩa vụ giao đủ số lượng lúa cho nguyên
đơn là đã thực hiện xong nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận
hiệu lực. Từ đó sở để chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Văn
H2 và bị đơn Nguyễn Văn H4.
Quá trình giải quyết vụ án các đương scùng thống nhất thừa nhận giao
dịch trên là giữa ông H ông H2; ông H2 cho rằng do ông lớn tuổi nên mới để
tên Nguyễn Văn H4 bên mua đất, tại phiên tòa phúc thẩm ông H4 ông hải
cùng thống nhất công nhận phần đất trên cho ông H2 nên được Hội đồng xét xử
ghi nhận.
[3] Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn
H2 là sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận; Chấp nhận quan điểm của
luật sư người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn Nguyễn Văn H2.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí phí phúc thẩm: Không xem xét, do người kháng cáo người
cao tuổi có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
12
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 129, khoản 1 Điều 502 và điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự
năm 2015
Khoản 3 Điều 100, khoản 3 Điều 167, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm
2013
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn Hải
Sửa bản án sơ thẩm số 43/2025/DS-ST ngày 07/5/2025 của Tòa án nhân dân
huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (nay Tòa án nhân dân khu vực 08 Cần Thơ).
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Quan H đối
với bị đơn ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn H4 về việc yêu cầu tuyên bố
vô hiệu Tờ sang nhượng đất lập ngày 20-02-98 giữa vợ chồng ông Trần Quan H,
Trần Thị M với ông Nguyễn Văn H4 yêu cầu tuyên bố vô hiệu giao dịch cố
đất năm 1986, năm 1992 giữa ông Trần Quan H với ông Nguyễn Văn H2.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Văn H2 và yêu cầu phản
tố của bị đơn. Nguyễn Văn H4.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn H2 diện tích 5.528,7m
2
gồm thửa đất số
226 diện tích 3.047m
2
, thửa đất số 227 diện tích 1.087,1m
2
, thửa đất số 228 diện
tích 1.394,6m
2
, cùng tờ bản đồ số 11, toạ lạc tại ấp H, H, huyện M, tỉnh Sóc
Trăng (kèm theo đhiện trạng ngày 20/12/2023 của Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Sóc Trăng)
Ông H2 quyền và nghĩa vụ giao lại bản chính Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho ông Trần Quan H ngày 26-9-
1993 đối với thửa đất số 226, 227, 228, tờ bản đsố 11, toạ lạc ấp H, xã H, huyện
M, tỉnh Sóc Trăng cho cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục thu hồi, điều chỉnh,
cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên theo quy định
pháp luật.
5. Về án phí và chi phí tố tụng khác:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự thẩm, nhưng nguyên đơn là người
cao tuổi có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí nên được miễn theo quy định pháp
luật. Hoàn trả cho ông Trần Quan H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 900.000 đồng
13
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010339 ngày 9-10-2023 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên (nay Phòng thi hành án dân sự
khu vực 8 – Cần Thơ).
Ông Nguyễn Văn H4 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000
đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004579 ngày 25-3-2024
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên (nay là Phòng thi hành án dân
sự khu vực 8 – Cần Thơ).
- V chi phí giám định:
Theo yêu cu ca ông Trần Quan H s tin 4.591.000 đồng, buc ông H
phải nộp (đã nộp xong).
Chi phí giám định theo yêu cu ca ông Nguyễn Văn H2 s tin 1.800.000
đồng. Ông H2 t nguyn chu np s tin trên nên không xem xét.
- Chi phí xem xét, thẩm định ti ch định giá tài sn: S tin 43.351.286
đồng buc nguyên đơn chịu. Do ông Nguyễn Văn H2 đã nộp tạm ứng số tiền
21.675.600 đồng, ông Trần Quan H đã nộp tạm ứng số tiền 21.675.600 đồng, nên
buộc ông H có nghĩa vụ nộp hoàn trả cho ông H2 số tiền 21.675.600 đồng.
- Án phí phúc thẩm: Ông H2 là người cao tuổi không phải nộp tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm nên không xem xét.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án
dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 8 – Cần Thơ;
- Chi cục THADS khu vực 8 – Cần Thơ;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
đã ký
Đào Thị Thủy
Bản án có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 20 tháng 9 năm 2025.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 605/2025/DSPT Bản án số 605/2025/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 605/2025/DSPT Bản án số 605/2025/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất