Bản án số 574/2026/DS-PT ngày 06/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 574/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 574/2026/DS-PT ngày 06/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 574/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 574/2026/DS-PT
Ngày 06 - 8 2026
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Nga
Ông Vũ Hồng Luyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên toà:
Bà Lê Huyền Kim – Kiểm sát viên.
Ngày 06/8/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai, xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số 499/2026/DS-PT ngày 09/7/2026 về việc “Tranh chấp
về thừa kế tài sản”. Do có kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đối với Bản án dân sự thẩm số 500/2026/DS-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1- Đồng Nai. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
/2026/QĐXXST-DS ngày /2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970, nơi cư trú: thôn K, xã P,
thành phố Đ (vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của ông H: Ông Phan Văn T, sinh năm 1991; nơi
cư trú: thôn K, xã P, thành phố Đ (vắng mặt)
2. Bị đơn: - Ông Trần Văn T1, sinh năm 1980 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1980 (xin vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: thôn K, xã P, thành phố Đ
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trần Văn T1: ông Trần
Anh T2- Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã P; trụ sở: thôn K, xã P, thành phố Đ.
- Văn phòng C; Trụ sở: thôn K, xã P, thành phố Đ.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngọc Văn H1 Công chứng viên (vắng
mặt)
- Ông Lê Thanh H2, sinh năm 1958 và bà Dương Thị T3, sinh năm 1974; nơi
cư trú: Thôn B, xã P, thành phố Đ. (đều vắng mặt)
- Bà Trần Thị H3, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn K, xã P, thành phố Đ.
- Ông Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1982 bà Lê Thị H4, sinh năm 1989; Cùng
nơi cư trú: khu phố S, phường P, thành phố Đ. (đều vắng mặt)
4. Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Kinh T5, sinh năm 1966; nơi trú: khu phố L, phường P, thành
phố Đ. (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1964; nơi cư trú: thôn K, xã P, thành phố Đ. (vắng
mặt)
5. Người kháng cáo: Ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hồng P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn
Văn H cùng người đại diện theo ủy quyền là ông Phan Văn T thống nhất trình bày:
Vào ngày 31/5/2008, vợ chồng ông Nguyễn Văn H bà Trần Thị H3 nhận
chuyển nhượng của ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hồng P diện tích đất khoảng
05 sào tọa lạc tại thôn K, P, huyện B, nay thôn K, P, thành phố Đ theo nội
dung giấy viết tay đề ngày 31/5/2008, trong tổng diện tích đất khoảng 1,5 héc ta của
ông T1 bà P. Khi đó diện tích đất này của ông T1 chưa có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Năm 2011 ông T1, P được cấp GCNQSD đất số BH406109, số vào sổ cấp
GCN: CH 164/CQ ngày 30/11/2011 mang tên ông T1, bà P đối với thửa đất số 24, tờ
bản đồ số 60, diện tích đất 15.381,5 m
2
, trong đó có 5 sào đất đã bán cho ông H. Đến
đầu mùa điều năm 2018 khi ông H vào canh tác thì gặp ông Nguyễn Xuân T4, vợ là
Thị H4 ngăn cản vì họ nói đất ông T4 P đã bán cho họ vào ngày 24/4/2017
toàn bộ diện tích 15.381,5 m
2
theo hợp đồng chuyển nhượng lập tại Văn phòng C1
(nay là VPCC N), nên ông T4H4 ngăn cản không cho ông H canh tác nữa, nên từ
mùa điều năm 2018 thì ông H không được canh tác trên diện tích đất 5 sào cho đến
nay. Phần đất ông T4 P chuyển nhượng cho ông H tứ cận: phía Đông giáp đất
ông N, phía Tây giáp đất ông T5, phía bắc giáp đất ông T4 bà P, phía nam giáp suối.
Tại đơn khởi kiện ông H yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng xác lập
giữa ông H ông T4, nhưng sau đó ông H thay đổi yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa
án giải quyết buộc ông T4, bà P nghĩa vụ thanh toán số tiền 124.073.500 đồng
3
giá trị của diện tích đất 3260, 5 m
2
và tài sản gắn liền với đất theo biên bản định giá
của Tòa án cho ông H, đồng thời buộc ông T4, bà P thanh toán cho ông H số tiền giá
trị sản lượng hạt điều trên diện tích đất 3260,5 m
2
từ đầu năm 2018 đến nay do ông H
không được thu hoạch. Tại phiên tòa, ông đại diện cho ông H chỉ yêu cầu ông T4, bà
P thanh toán tiền sản lượng hạt điều cho ông H từ mùa vụ năm 2018 đến hết mùa vụ
năm 2023.
Ngoài ra, đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân T4, Lê Thị H4, nguyên đơn xin
rút không khởi kiện đối với ông T4, bà H4 nữa do cho rằng ông T4, bà H4 không có
nghĩa vụ đối với ông H, việc rút hoàn toàn tnguyện nên xin Hội đồng xét xử chấp
nhận.
Bị đơn ông Trần Văn T1 trình bày:
Diện tích đất khoảng 1,5 héc ta tọa lạc tại thôn K, P, huyện B đang do vợ
chồng ông Nguyễn Xuân T4, Thị H4 sử dụng thì nguồn gốc trước đây của vợ
chồng ông Trần Văn T1 Nguyễn Thị Hồng P. Đất tứ cận giáp những ai thì
ông không nhớ, vì những người này họ chuyển nhượng qua người khác không cố
định. Nguồn gốc đất ông nhớ khoảng năm 1999 ông mua lại của người khác, đất chưa
có giấy chứng nhận quyền sử dụng, trên đất ông trồng cây điều.
Ngày 31/5/2008, vợ chồng ông bán cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Trần
Thị H3 diện tích đất 5.000m
2
là 5 sào trong khoảng diện tích 1,5 héc ta, phần đất bán
này giáp suối, vợ ông P biết và đồng ý bán đất nhưng do ông đại diện
giấy mua bán với ông H, bà H3, lúc này đất cũng chưa có giấy chứng nhận quyền sử
dụng cho nên ông đo cho vợ chồng ông H bằng cây sào với vợ chồng ông H và đóng
mốc ranh lúc đó vợ chồng ông H chấp nhận và ký giấy mua, trên đất bán cóy điều.
Ngày 30/11/2011, vợ chồng ông được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất số BH406109, số vào sổ cấp GCN: CH 164/CQ mang tên vợ chồng
ông, thì đất có số thửa là 24, tờ bản đồ số 60, diện tích 15.381,5 m
2
.
Ngày 05/12/2016, vợ chồng ông chuyển nhượng toàn bộ diện tích 15.381,5m
2
cho vợ chồng ông Thanh H2, bà Dương Thị T3 với giá 520.000.000 đồng, khi bán
do sổ đất ông đang thế chấp cho ngân hàng nên giữa hai bên không làm hợp đồng
chuyển nhượng theo quy định chỉ đánh máy “giấy chuyển nhượng đất rẫy” đề
ngày 05/12/2016, vợ chồng ông đã giao đất cho ông H2, T3 cũng nhận đủ tiền
bán đất, lúc đó ông đưa sổ phô nói với ông H2 đo thực địa đất đúng với sổ
thì mua, sau khi ông H2 đo đất khoảng 2, 3 lần ông H2 nhờ địa chính đo
thêm lần nữa rồi ông H2 mới ký mua.
Đến đầu năm 2017 ông H2, T3 chuyển nhượng toàn bộ diện tích
15.381,5m
2
cho vợ chồng ông Nguyễn Xuân T4, Thị H4, thì khi đó do sổ đất
vẫn đứng tên vợ chồng ông mà chưa sang tên cho ông H2, T3 nên ông H2, T3
nhờ vợ chồng ông đứng tên “bên bán” trong hợp đồng chuyển nhượng đất cho “bên
4
mua” là ông T4, bà H4 thì vợ chồng ông đồng ý, nên ngày 24/4/2017 vợ chồng ông
đến văn phòng C1 (nay văn phòng C) để ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T4,
H4, vợ chồng ông chỉ ký hợp đồng chuyển nhượng còn tiền chuyển nhượng là bao
nhiêu thì do ông T4, bà H4 giao cho ông H2, bà T3, vợ chồng ông không được nhận
số tiền nào cả, do đó hiện nay diện tích 15.381,5m
2
đứng tên ông Nguyễn Xuân T4,
Lê Thị H4.
Bị đơn ông Nguyễn Xuân T4, bà Lê Thị H4 trình bày:
Diện tích đất 15.381,5m
2
tọa lạc tại thôn K, xã P đất của vợ chồng ông bà nhận
chuyển nhượng (mua) của vợ chồng ông Thanh H2, Dương Thị T3 vào ngày
24/4/2017, giữa các bên lập giấy tay “giấy chuyển nhượng đất rẫy điều” đề ngày
24/4/2017, hai bên gia đình tên vào giấy, nhưng không công chứng hay
chứng thực, số tiền nhận chuyển nhượng là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng).
Khi đó do diện tích đất này của ông H2 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
vẫn đứng tên của chủ đất cũ là ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị Hồng P (người bán
đất cho ông H2, bà T3 nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho ông H2, T3). Do đó,
ông bà yêu cầu ông H2, T3 phải làm thtục chuyển nhượng hợp pháp tiến hành
thủ tục sang tên cho vợ chồng ông nên ông H2, T3 đã yêu cầu ông T1, P
tham gia để làm thủ tục sang tên cho ông bà. Vào ngày 24/4/2017 tại văn phòng C1
(nay VPCC N), ông T1, P và ông H2, T3; qua trao đổi thì ông T1, P
đồng ý xác lập hợp đồng chuyển nhượng QSD đất với ông bà, tại hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất thì ông T1, bà P đứng tên “bên bán” còn “bên mua” là ông bà. Sau
đó, hợp đồng được công chứng hợp pháp tiến hành thủ tục sang tên tại quan
đăng đất đai, ngày 28/4/2017 vợ chồng ông bà được cấp giấy chứng nhận QSD đất
số vào sổ CS00210/CN mang tên Nguyễn Xuân T4, Thị H4, diện tích được cấp
15.381,5m
2
. Ông đã giao đsố tiền nhận chuyển nhượng 600.000.000 đồng cho
ông H2, T3 canh tác, sử dụng đất từ ngày 28/4/2017 cho đến nay. Mùa điều năm
2008, ông H vào thu hoạch điều thì ông ngăn cản, không đồng ý chúng tôi đã
nhận chuyển nhượng hợp pháp.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thanh H2, Dương Thị T3
trình bày:
Diện tích đất 15.381,5m
2
tọa lạc tại thôn K, P, huyện B đang do vợ chồng
ông Nguyễn Xuân T4, Thị H4 sdụng, thì nguồn gốc như sau: Diện tích đất
này trước đây là đất của vợ chồng ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị Hồng P, đất đã
có giấy chứng nhận QSD đất mang tên ông T1, bà P. Đây là đất vườn điều. Vào ngày
05/12/2016 ông T1, P chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất 15.381,5m
2
cho vợ
chồng ông bà với giá 520.000.000 đồng. Khi đó các bên có lập giấy tay “giấy chuyển
nhượng đất rẫy” đề ngày 05/12/2016 và hai bên gia đình tên vào, chưa lập hợp
đồng chuyển nhượng theo đúng quy định vì khi đó sổ đất ông T1, bà P đang thế chấp
tại ngân hàng. Ông H2 T3 đã giao đủ tiền và ông T1, bà P và ông T1, bà P giao đất
5
cho ông H2 bà T3 sử dụng từ ngày sang nhượng. Khi bán đất cho ông bà thì P
dẫn ông bà đến đất để chỉ đất, thấy đất vườn điều rất dốc và cỏ mọc um tùm, cao tới
mặt người, P chỉ ranh xài nên ông không lắm, do đất dốc đứng nên
cũng không đi xem được hết đất, P nói đất của nhà đất của các hộ xung quanh
ngăn cách bởi cột bê tông, do đất đã có sổ đất nên ông H2 bà T3bà P cũng xem sơ
lược chứ không cụ thể. Sau khi mua đất vợ chồng ông H2T3 vào phát dọn rẫy và
thu hoạch điều, tuy nhiên mùa điều rất ít sản lượng nên ông cũng vào vài lần để
thu hoạch.
Do đất dốc ông bà không khả năng canh tác nên vào ngày 24/4/2017, ông
chuyển nhượng toàn bộ đất lại cho vợ chồng anh T1, chị H4; giữa các bên lập
giấy tay “giấy chuyển nhượng đất rẫy điều” đề ngày 24/4/2017, hai bên gia đình
tên vào giấy, nhưng không công chứng hay chứng thực. Số tiền nhận chuyển
nhượng 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng). Ông đã nhận đủ tiền giao
đất cho anh T1, chị H4 sử dụng. Sau đó, ông bà có liên hệ với ông T1, bà P để cùng
mọi người ra văn phòng công chứng lập hợp đồng chuyển nhượng theo đúng quy định
để làm thủ tục sang tên sổ đất cho anh T1, chị H4. Tại văn phòng công chứng, ông
T1, P đứng tên bên bán, còn ông T1, H4 đứng tên bên mua. Sau đó hồ chuyển
nhượng hợp lệ, ông T1 bà H4 được cấp giấy chứng nhận với toàn bộ diện tích đất
15.381,5m
2
nêu trên. Khi chuyển nhượng đất cho ông thì ông T1, P không
nói trong diện tích đất 15.381,5 m
2
5 sào đất đã bán cho ông H, đồng thời khi
chỉ đất thì bà P chỉ toàn bộ tích đất 15.381,5 m
2
theo như sổ đất, không nói gì đến đất
ông H, do đất sổ nên chúng tôi tin tưởng không đo đạc lại. Thời điểm mua do cỏ
dại mọc cao quá đầu nên chúng tôi chưa nhìn ra các cột mốc của đất với các chủ giáp
ranh, sau này khi vào dọn dẹp thu hoạch thì thấy đất ông H ngăn cách bởi 02 cột
bê tông, tấp lưới ở giữa.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 25/5/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 13-Đồng Nai đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H.
Buộc bị đơn ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hồng P có nghĩa vụ liên đới tr
cho ông H số tiền 229.873.487 đồng, trong đó bao gồm số tiền 124.073.500 đồng
giá trị của diện tích đất 3.260,5m
2
và tài sản gắn liền với đất toạ lạc tại thôn K, xã P,
thành phố Đ stiền 105.799.987 đồng tiền sản lượng hạt điều từ mùa vnăm
2018 đến hết mùa vụ năm 2023 mà ông H không được thu hoạch.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí và
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/6/2026, bị đơn ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hồng P kháng cáo,
đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm để được xem xét, đánh giá lại
chứng cứ.
6
Tại phiên tòa:
- Bị đơn giữ nguyên kháng cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: tất cả các giao
dịch chuyển nhượng giữa ông H với ông T1, giữa ông T1 P với ông H2 T3
ông T1 bà H4 đều hiệu nhưng Tòa án cấp thẩm đã công nhận giao dịch giữa
ông T1 và ông H không đúng; bên cạnh đó, hợp đồng chuyển nhượng giữa ông H
ông T1 thực hiện năm 2008 khi Luật đất đai năm 2003 Bộ luật Dân sự năm
2005 đang có hiệu lực nhưng Tòa án cấpthẩm lại áp dụng các quy định của Luật
đất đai năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 là không đúng; đề nghị hủy bản án sơ
thẩm để giải quyết lại.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết ván của a án từ khi
thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và
các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên
tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không
chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hồng P; giữ nguyên Bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hồng P được
nộp cho Tòa án trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các
điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên đủ điều kiện xét xử theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: nguyên đơn đã được triệu tập nguyên đơn
hợp lđến lần thứ hai. Mặc dù, Hội đồng xét xử nhận được đơn xin hoãn phiên tòa
của ông Phan Văn T người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông H, trong
đơn ông T cho rằng ông bị bệnh. Song, xét thấy ông T không nộp kèm chứng cứ để
chứng minh cho lý do xin hoãn là đúng nên không thuộc trường hợp hoãn phiên tòa.
Đối với bị đơn bà P đã có đơn xin xét xử vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong ván là Ủy ban nhân dân xã P, Văn phòng C: những đương sự này
đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật
tố tụng dân sự.
7
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị Hồng P, Hội
đồng xét xử thấy rằng:
[4] Tại Đơn khởi kiện, ông H yêu cầu Toà án công nhận hiệu lực của hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập giữa ông H và ông Trần Văn T1 vào ngày
31/5/2008 và yêu cầu hủy một phần các hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông T1
P với các ông bà Lê Thanh H2 -Dương Thị T3, Nguyễn Xuân T4 Thị H4 đối với
phần diện tích đất đã chuyển nhượng trước cho ông H. Tại phiên a thẩm, phía
nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải thanh toán cho ông H trị giá
của 3.260,5m
2
đất bồi thường thiệt hại trị giá số điều ông H không được thu hoạch
từ năm 2018 đến năm 2023.
[5] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và căn cứ vào lời trình
bày của các đương sự thì xác định được: vào ngày 31/5/2008, ông Trần Văn T1
ông Nguyễn Văn H Trần Thị H3 lập giấy chuyển nhượng đất với nội dung
bản: ông T1 P đồng ý chuyển nhượng cho ông H H3 05 sào đất đã trồng điều
sẵn - là 01 phần trong diện tích 1,5 hecta của ông T1 bà P tại thôn K, xã P, huyện
P, tỉnh Bình Phước cũ, nay là thôn K, xã P, thành phố Đ với giá 48.000.000 đồng (BL
131); ông H đã thanh toán đủ tiền cho ông T1 P; khi chuyển nhượng thì chỉ ông
T1 đứng ra đại diện tên người chuyển nhượng, ông H đứng tên người nhận chuyển
nhượng; ông T1 đã giao đất cho ông H H3 sử dụng tngày 31/5/2008 đồng thời
hai bên tiến hành cắm rào phân định phần đất chuyển nhượng. Sau khi chuyển nhượng
05 sào cho ông H H3, đến ngày 30/11/2011 vợ chồng ông T1, P được Ủy ban
nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH406109, số vào sổ
cấp GCN: CH 164/CQ đối với diện tích 15.381,5m
2
thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ
số 60, bao gồm cả phần đất đã chuyển nhượng cho ông H H3. Ngày 05/12/2016,
ông T1, bà P chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 24 cho vợ chồng ông Lê Thanh H2, bà
Dương Thị T3 với giá 600.000.000 theo giấy tay “giấy chuyển nhượng đất rẫy” (BL
78); ngày 24/4/2017, ông H2 bà T3 tiếp tục chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 24 lại
cho anh Nguyễn Xuân T4, chị Lê Thị H4 theo giấy tay “giấy chuyển nhượng đất rẫy
điều”. Để hợp thức hợp đồng chuyển nhượng sang tên cho ông T4H4, thì ông H2
T3 cùng vợ chồng ông T4 H4 vợ chồng ông T4 bà P thống nhất đến Văn
phòng C1 kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông T4, P sang
cho người mua ông T4H4. Ngày 28/4/2017, ông T4H4 được đứng tên chủ sử
dụng thửa đất theo GCNQSDĐ số CD 189846 (BL79). Mùa điều năm 2018, ông H
vào vườn thu hoạch điều thì bị ông T4H4 ngăn cản không cho thu hoạch dẫn đến
tranh chấp.
[6] Ông T4 cho rằng, năm 2011 khi vợ chồng ông làm thủ tục đăng quyền
sử dụng đất ông không chỉ cho cán bộ đo đạc phần đất vợ chồng ông đã chuyển
nhượng cho ông H H3 để cấp quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông. Nhưng, lời
trình bày này mâu thuẫn với kết quả đo đạc thể hiện tại bản vẽ hiện trạng đất tranh
8
chấp do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B lập ngày 22/6/2022, được Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh B duyệt ngày 28/9/2022 (BL 111). Theo kết quả
đo đạc này thì diện tích đất 05 sào mà ông H bà H3 đã nhận chuyển nhượng của ông
Trần Văn T1 diện tích thực tế 3260,5m
2
vị trí nằm hoàn toàn trong thửa đất
số 24 của ông T1 bà P, nay là của vợ chồng ông T1 H4. Bên cạnh đó, tại phiên tòa
phúc thẩm chính ông T1 trình bày, thời điểm vợ chồng ông chuyển nhượng đất cho
ông H2 T3 thì hai bên 03 lần đi đo đạc, kiểm tra đất vì ông H2 bà T3 yêu cầu
phải đủ đất trong GCN mới mua. Điều này chứng tỏ ông T1 bà P hoàn toàn biết phần
đất chuyển nhượng cho ông H H3 nằm trong tổng diện tích 15.381,5m
2
ông
được cấp GCN. Trong khi, tại Tòa án cấp sơ thẩm, cũng chính ông T1 thừa nhận khi
chuyển nhượng lại thửa đất số 24 thì ông T1P không thông báo cho ông H2 T3
biết trong thửa đất 24 01 phần đất của ông H chuyển nhượng trọn thửa cho ông
H2T3, cũng như khi ký hợp đồng chuyển nhượng sang tên cho ông T1H4 thì
ông T1 P không thỏa thuận về phần đất đã chuyển nhượng cho ông H bà H3.
Như vậy, căn cứ khẳng định mặc vào ngày 31/5/2008 ông T1 P đã chuyển
nhượng 3260,5m
2
một phần thuộc thửa đất số 24 cho ông H H3, nhưng đến ngày
05/12/2016 lại tiếp tục chuyển nhượng phần đất này cho ông H2 T3 ngày
24/4/2017 ông T1 P tiếp tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C1
cho ông T1 H4 toàn bộ thửa đất 24, trong đó phần đất tranh chấp là không đúng,
xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của ông H H3. Do hiện ông T1 H4 đã
chuyển nhượng ngay nh, đã được sang tên. Mặt khác, mặc hợp đồng chuyển
nhượng đất giữa ông T1P với vợ chồng ông H vô hiệu cả về nội dung hình
thức nhưng việc chuyển nhượng thật, nếu ông T1 P không tiếp tục chuyển
nhượng cho người khác thì ông H H3 vẫn tiến hành đăng để được cấp quyền sử
dụng đất. Do đó, Tòa án cấp thẩm đã buộc ông T1 P phải nghĩa vụ thanh toán
cho ông H trị giá 3260,5m
2
đất tài sản gắn liền với đất theo mức gtại biên bản
định giá của hội đồng định giá huyện B với số tiền 124.073.500 đồng phù hợp pháp
luật phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc
giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.
[7] Về việc nguyên đơn ông H yêu cầu ông T1, P nghĩa vụ thanh toán
tiền sản lượng hạt điều mà ông H H3 không được thu hoạch từ năm 2018 đến năm
2023: mặc hợp đồng chuyển nhượng giữa các đương sự này hiệu nhưng việc
ông T1 bà P sau khi chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông H đã tiếp tục thực hiện
chuyển nhượng cho người khác dẫn đến tranh chấp nên việc ông H H3 không được
thu hoạch điều trong khoảng thời gian trên là lỗi của ông T1P. Tòa án cấp thẩm
đã căn cứ ý kiến của Phòng Nông nghiệp phát triển nông thôn huyện B tại công
văn số 14/NN-PTNT ngày 28/02/2023 về năng suất trung bình của cây điều trồng năm
1999; công văn số 189/CCTK ngày 20/6/2024 của Chi cục Thống kê khu vực P1-Bù
Gia M-P về giá thu mua trung bình qua các năm từ 2018 đến 2023 để buộc ông T1
9
P phải bồi thường cho ông H số tiền trị giá điều không được thu hoạch 105.799.987
đồng phù hợp. Như vậy tổng số tiền giá trị đất sản lượng điều ông T1, P
nghĩa vụ trả cho ông H là 229.873.487 đồng.
[8] Đối với bà Trần Thị H3, quá trình giải quyết vụ án bà H3 đã có lời khai cho
rằng trước đây ông H vợ chồng nhưng đã ly hôn, khi ly hôn ông bà đã thỏa
thuận phân chia tài sản chung cho ông H được nhận diện tích đất tranh chấp; nay
không quyền lợi liên quan đến đất tranh chấp. vậy, Hội đồng xét xử không
xem xét mối quan hệ tài sản giữa bà H3 và ông H.
[9] Về việc, tại giai đoạn thẩm nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với ông
Nguyễn Xuân T4, Thị H4 vì cho rằng ông T4, bà H4 không có nghĩa vụ đối với
ông H. Đáng lẽ, Tòa án cấp thẩm phải đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện
liên quan đến ông T4, bà H4 và vẫn phải xác định ông T4H4 là bị đơn nhưng Tòa
án cấp sơ thẩm không tuyên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện liên quan
đến ông T4, H4 xác định lại cách tham gia tố tụng của ông T4 H4 trở
thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đúng. Song, xét thấy việc sai
sót này không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của các
bên đương sự; sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát
không kháng nghị về nội dung này nên Tòa án cấp phúc thẩm không lấy làm căn cứ
để hủy, sửa Bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh
nghiệm.
[10] Ngoài ra, Tòa án cấpthẩm đã sai sót trong việc áp dụng pháp luật. Cụ
thể, các bên giao dịch chuyển nhượng đất năm 2008, lúc này Luật đất đai năm 2003
Bộ luật Dân sự năm 2005 đang hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án cấp thẩm lại
áp dụng các quy định của Luật đất đai năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải
quyết nội dung là không đúng. Tuy nhiên, xét thấy việc giải quyết của Tòa án cấp sơ
thẩm đã đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự nên Tòa án cấp phúc
thẩm thấy chỉ cần điều chỉnh lại điều luật áp dụng trong phần quyết định không
cần thiết phải hủy, sửa bản án sơ thẩm vì lý do này. Nhưng, Tòa án cấp sơ thẩm cũng
cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[11] Từ những phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn căn cứ nên kháng cáo của các bđơn không căn cứ
để được chấp nhận, Bản án sơ thẩm được giữ nguyên.
[12] Chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn
ông T4, bà P phải chịu các chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc tổng
cộng 7.989.000 đồng và buộc ông T4 bà P phải chịu án phí sơ thẩm là đúng.
[13] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn
ông T4 bà P mi người phải chịu 300.000 đồng.
10
[14] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vviệc
cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng pháp luật không đúng là có căn cứ, được chấp
nhận; đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại không được chấp nhận.
[15] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị Hồng P;
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 25/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 13-Đồng Nai.
Căn cứ Điều 122, Điều 124, Điều 127, Điều 128, Điều 137, Điều 689, của Bộ
luật dân sự năm 2005; Điều 106 của Luật Đất đai năm 2003; Khoản 3 Điều 26; Điều
147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015; các điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H về tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Buộc bị đơn ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hồng P nghĩa vụ liên đới tr
cho ông H số tiền 229.873.487 đồng, trong đó bao gồm số tiền 124.073.500 đồng
giá trị của diện tích đất 3260, 5 m
2
và tài sản gắn liền với đất toạ lạc tại thôn K, xã P,
thành phố Đ stiền 105.799.987 đồng tiền sản lượng hạt điều từ mùa vnăm
2018 đến hết mùa vụ năm 2023 mà ông H không được thu hoạch.
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc tổng cộng 7.989.000 đồng, bị
đơn ông T1, P phải chịu, do ông H đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông T1, P
có nghĩa vụ trả lại cho ông H.
Án phí dân sự thẩm: Bị đơn ông T1, P phải chịu 11.493.674 (ba trăm
nghìn) đồng; Ông H không phải chịu án phí, trả lại ông H số tiền tạm ứng án phí
300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007556 ngày 12/01/2021 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Gia Mập, tỉnh Bình Phước, nay Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 13-Đồng Nai.
Án phí dân sự phúc thẩm: bị đơn ông T1, P mỗi người phải chịu 300.000
đồng, được khấu trừ vào các khoản tiền tạm ứng án phí mà ông T1, bà P đã nộp theo
các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án do Thi hành án tỉnh thành phố
Đồng Nai lập số 0014061 ngày 12/6/2026 và số 0000636 ngày 09/7/2026.
11
Kiến nghị quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ xem xét trách nhiệm
của ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị Hồng P về hành vi đã bán đất cho ông H, sau
đó lại bán cho người khác.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhn:
- VKSND thành phố Đồng Nai;
- TAND khu vực 13 – Đồng Nai;
- VKSND khu vực 13 – Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 13 - Đồng
Nai;
- THADS thành phố Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ vụ án, Tổ HCTP, Tòa
DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Quý Chi
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất