Bản án số 14/2026/HC-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 14/2026/HC-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 14/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Giữ nguyên án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 14/2026/HC-PT Bản án số 14/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2026/HC-PT Bản án số 14/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 14/2026/HC -PT
Ngày: 12 - 8 - 2026
V/v Kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản
đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hà.
Các thẩm phán: 1. Bà Lê Thị Thái Lan.
2. Bà Nguyễn Thị My My.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Khánh Chi Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa Đặng
Thị Mỹ Xuân - Kiểm sát viên .
Ngày 12 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét x
phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ số: 11/2026/TLPT-HC ngày 25/6/2026
về việc “Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số: 03/2026/DS-ST ngày 08/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Đ bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13/2026/QĐPT-HC ngày
31/7/2026 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lê Thị Đ; địa chỉ: Buôn K, xã C, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của Đ là: Ông Trung Hoàng G; địa chỉ: 1
Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk
- Người bị kiện: Chủ tịch UBND xã C, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn P Chức vụ: PHó Chtịch
UBND xã C, tỉnh Đắk Lắk
Cùng địa chỉ: K, Quốc lộ A, xã C, tỉnh Đắk Lắk
2
- Người quyền nghĩa vụ liên quan: Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ
đất khu vực Q
Nay là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Buôn Hồ
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Tấn B Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đường Văn C Chức vụ: Phó Giám đốc.
Cùng địa chỉ: Số 05 Nguyễn Hữu Thọ, phường Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk
4. Người kng cáo: Người bị kiện Chủ tịch UBND xã C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình tham gia tố tụng người đại diện
theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Ngày 29/8/2025, Thị Đ (Viết tắt Đ) nhận được Quyết Định số
434/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (Viết tắt UBND) C, tỉnh Đắk
Lắk quyết định thu hồi 173,5m
2
trong đó có 26,8m
2
đất thổ cư tại thửa đất số 21, tờ
bản đồ số 65 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt GCNQSDĐ) số
DĐ 810090 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 23/12/2021 với diện
tích 350m
2
đất ở nông thôn (Viết tắt là thửa đất số 21). Theo quyết định Đ nhận
được thì diện tích đất đo đạc thực tế 496.7m
2
thu hồi 173,5m
2
vậy nghĩa đất gia
đình Đ còn lại 323,2m
2
nhưng từ năm 1993 khi gia đình bà Đ chuyển về đây mua
đất sinh sống đến giờ qua 3 lần cấp đổi GCNQSDĐ thì diện tích đất vẫn đủ 350m
2
đất tại nông thôn (đất thổ cư). Vậy chiếu theo quyết định thu hồi 173,5m
2
đất
tài sản trên đất không đủ điều kiện bồi thường đất thuộc hành lang giao thông.
Nhưng sau khi thu hồi theo quyết định đất gia đình Đ mất 26,8m
2
đất thổ cư theo
GCNQSDĐ diện tích này dựa vào căn cứ pháp nào của pháp luật mà không đền
cho gia đình Đ. Qua đối chiếu với các quy định của pháp luật cũng như tình
hình thực tế đền bù tại khu vực ví dụ cạnh nhà bà Đ có hai hộ:
Hộ ông Thái Huy Đ1 (bên trái nhà Đ) bị thu hồi 45,4m
2
đất thổ cư thuộc chỉ
giới quy hoạch giao thông nhưng ngày 23/9/2022 được đền 910.224.720 đồng
theo quyết định số 2754/QĐ-UBND ngày 04/8/2022 của UBND huyện C. Đ
đính kèm hồ sơ đền bù theo đơn.
Hộ ông Nguyễn Duy T (hàng xóm) bị thu hồi 50,5m
2
đất thổ cư thuộc chỉ giới
quy hoạch giao thông nhưng ngày 08/9/2022 được đền số tiền 1.387.700.860
đồng theo Quyết định số 2754/QĐ-UBND ngày 04/8/2022 của UBND huyện C, bà
Đ có đính kèm hồ sơ đền bù theo đơn.
Đ nhận thấy việc ban hành Quyết định số 434/QĐ-UBND của Chủ tịch
UBND C, tỉnh Đắk Lắk quyết định thu hồi 173,5m
2
trong đó 26,8m
2
đất thổ
3
tại thửa đất số 21 không giải quyết đền bù là trái pháp luật bất hợp lý, thể hiện
sự hời hợt trong công tác nghiên cứu pháp luật và sự quan liêu trong công tác quản
lý hành chính, theo những lẽ sau:
Năm 1993 gia đình Đ nhận chuyển nhượng đất của ông Y K ngày
28/9/1993 được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số B148508 thuộc thửa đất số 30a,
tờ bản đồ số 19, diện tích 350m
2
khu dân cư ổn định (Viết tắt thửa đất số 30a), sau
khi chồng Đ mất thì ngày 14/4/2010 Đ được UBND huyện C cấp đổi thành
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất sBA 922169,
thửa đất số 30a, tờ bản đồ số 19, diện tích 350m
2
đất tại nông thôn, đến ngày
23/12/2021 Đ được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp lại GCNQSDĐ,
quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất mới số DĐ810090, thửa đất số
21, tờ bản đồ số 65, diện tích 350m
2
đất nông thôn tại C, tỉnh Đắk Lắk. Như
vậy, sau 3 lần cấp đổi lại GCNQSDĐ thì diện tích đất ở của bà Đ vẫn đúng diện tích
là 350m
2
đất ở tại nông thôn (thổ cư) diện tích nàyĐ sở hữu hợp pháp hoàn toàn
theo quy định của pháp luật.
Tháng 6/2022 Trung tâm phát triển quỹ đất huyện C gửi cho gia đình Đức
B1 tính chi tiết chi phí bồi thường, hỗ trợ i định dự án xây dựng đường H
trong đó ghi rõ gia đình bà Đ được đền bù 26,8m
2
đất thổ cư giá 789.126.000 đồng
và công trình trên đất được định giá 368.881.172 đồng tổng là 1.181.007.172 đồng.
Gia đình Đ đồng ý không ý kiến nhưng sau đó không thấy đơn vị nào
liên lạc lại cho đến nay (đính kèm). Đầu năm 2025 gia đình Đ nhận được dự
thảo phương án chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định ghi thu hồi 173,5m
2
trong phần ghi chú ghi 27,6m
2
đất đã được cấp GCNQSDĐ. Cùng với đó
bảng kê chi tiết nhà vật dụng và kiến trúc nhưng tất cả đều ghi không bồi thường hỗ
trợ đất và tài sản nằm trong hành lang giao thông nhưng thực tế tất cả tài sản đó
được xây dựng từ năm 1993 trên diện tích 27,6m
2
đất thổ đã được cấp
GCNQSDĐ.
Đất gia đình Đ sdụng từ năm 1993 được cấp GCNQSDĐ. Tháng 6/2022
đã phê duyệt phương án bồi thường, gia đình bà Đ không được xây dựng, mua bán
hay tặng cho sang nhượng gì thửa đất trên đến nay vậy chiếu theo pháp luật phải áp
dụng các quy định của luật đất đai năm 2013 vào phương án đền bù. Tuy nhiên theo
Quyết Định số 434/QĐ-UBND thu hồi 173,5m
2
trong đó 26,8m
2
đất thổ của
Đ không đền bù lại ghi căn cứ theo Điều 101 Luật Đất Đai năm 2024, nhà và vật
kiến trúc khi không bồi thường theo Điều 105 Luật đất đai 2024 hai vấn đề cần
làm rõ:
Vấn đề thứ 1: Theo các quy định pháp luật và Luật đất đai 2013 các nghị
định trước năm 2022 (ngày bà Đ nhận được phương án đền bù) không có quy định,
4
điều khoản nào khi nhà nước thu hồi đất của nhân dân đã được cấp GCNQSDĐ đúng
pháp luật mà không đền bù.
Vấn đề thứ 2: Theo Quyết Định số 434/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND xã C,
tỉnh Đắk Lắk áp dụng Điều 101 Điều105 Luật Đất đai năm 2024 thu hồi 173,5m
2
trong đó có 26,8m
2
đất thổ cư nhưng không đền bù 26,8m
2
đất thổ cư và tài sản cho
Đ ngoài việc áp dụng sai luật còn sai cả nội dung một người dân bình
thường như bà Đ còn không thấy, khoản nào, điểm nào trong hai điều trên nói rằng
đất bà Đ không đủ điều kiện bồi thường.
Từ những lẽ trên gia đình Đ quyết không thực hiện theo Quyết định số
434/QĐ-UBND như bàn giao mặt bằng, giao bản chính GCNQSDĐ đến khi các cơ
quan chức năng có phương án hợp lý hay Quý Tòa có bản án theo đúng pháp luật.
Từ những lẽ trên bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết những yêu cầu sau đây:
Thứ nhất: Tuyên hủy Quyết Định số 434/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ
tịch UBND xã C về việc thu hồi đất của bà Lê Thị Đ để thực hiện dự án Đầu tư xây
dựng đường H đoạn tránh phía đông thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (đoạn qua địa bàn
xã C) (Viết tắt là Quyết định số 434).
Thứ hai: Buộc Chi nhánh trung tâm phát triển quỹ đất khu vực Q lên phương
án thiết lập bảng kê chi tiết bồi thường cho Đ theo đúng quy định của pháp luật
như bảng kê tháng 6/2022 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện C (cũ).
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Đ
đồng ý với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc triển khai và thực hiện dự
án đầu tư xây dựng đường H đoạn tránh phía đông thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (đoạn
qua địa bàn C). Tháng 10 năm 2025, Đ đã tự nguyện bàn giao mặt bằng để
đảm bảo tiến độ của dự án. Tuy nhiên, việc bàn giao mặt bằng không đồng nghĩa với
việc bà Đ đồng ý với phương án bồi thường.
Người đại diện theo y quyền của người khởi kiện đề nghị rút một phần yêu
cầu khởi kiện đối với yêu cầu hủy Quyết Định số 434/QĐ-UBND.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bổ sung yêu cầu khởi kiện
tuyên hủy một phần Quyết định số 108/QĐ-UBND ngày 18/7/2025 của UBND
C về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất để thực hiện dự án: Đầu tư xây dựng Đường H đoạn tránh phía đông thành phố
B (Đoạn qua địa bàn C) 03 hộ đối với phần liên quan đến hộ Đ (Viết tắt
Quyết định số 108) và yêu cầu bồi thường với diện tích 27,6m
2
đất thuộc quy hoạch
giao thông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường toàn bộ công
trình xây dựng nhà và vật kiến trúc trên diện tích đất 27,6m
2
đã thu hồi.
5
- Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Trần Văn P (Viết tắt
là ông P) trình bày:
- Về nội dung thứ nhất bà Đ yêu cầu: Tuyên hủy Quyết định số 434/QĐ-UBND
ngày 29/8/2025 của Chủ tịch UBND xã C:
Về nội dung này, qua kiểm tra, soát hồ do các đơn vị tham mưu, cung cấp,
đối chiếu với các quy định liên quan, tổng hợp, có ý kiến như sau:
Kết quả kiểm tra, rà soát, xem xét các nội dung liên quan:
Về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất của bà Đ tại thửa đất số 21 (số hiệu thửa
đất cũ 30a), tờ bản đồ địa chính số 65 (số hiệu tờ bản đồ cũ 19), xã C: Theo kết quả
kiểm tra, đối chiếu hồ sơ, ý kiến của người dân thì bà Đ sử dụng đất tại thửa đất nêu
trên năm 1993; theo hồ khai đăng do các quan liên quan, người dân cung
cấp thì nguồn gốc ban đầu thửa đất nêu trên thuộc trường hợp không giấy tờ theo
quy định của pháp luật đất đai (các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 137 Luật Đất
đai năm 2024).
Về quy định hành lang bảo vệ đường Quốc lộ 14; việc xây dựng, xử các công
trình thuộc hành lang bảo vệ đường Quốc lộ 14: Qua soát hồ sơ, ý kiến của các
đơn vị liên quan tphạm vi hành lang bảo vệ, chỉ giới quy hoạch đường Quốc l
14 (rộng 50m) đã được quan Nhà nước thẩm quyền ban hành các văn bản công
bố, xác định từ năm 1982, cắm mốc, bàn giao mốc giới và quy định rõ việc sử dụng
đất, xây dựng các công trình thuộc phạm vi hành lang bảo vệ qua các thời kỳ; cụ thể
tại các văn bản sau:
Ngày 21/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 203-HĐBT về
việc ban hành điều lệ bảo vệ đường bộ. Tại Nghị định này đã quy định các nội dung,
như sau: (1) Hành lang bảo vệ các công trình giao thông đường bộ như sau:Đối với
đường tỉnh từ mép chân mái đường đắp và từ mép đỉnh mái đường đào hoặc từ mép
ngoài rãnh dọc hay rãnh đỉnh của đường trở ra hai bên, cụ thể:
Hệ thống đường quốc lộ là 20m (Tại Điều 7); (2) Trong phạm vi hành lang bảo
vệ đường bộ: Nghiêm cấm xây dựng nhà cửa, liều quán, kho tàng, công trình (tạm
thời hoặc vĩnh cửu) hay lấy cắp đất, đá, … (tại Điều 8).
Ngày 03/01/1990, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng ban hành Quyết định s06-CT
về việc thực hiện Nghị định số 203-HĐBT ngày 21/12/1982 về việc điều lệ bảo vệ
đường bộ đối với đường Quốc L. Tại Phần I, Quyết định nêu trên đã quy định cụ thể
các nội dung: (1) + 1. …, phạm vi đường bộ hành lang bảo vđường bộ lưu
không, thuộc tuyến đường để bảo vệ, đảm bảo an toàn giao thông và dự phòng khi
mở rộng. Đất đai thuộc hành lang bảo vệ đường chỉ sử dụng trồng trọt, lương thực,
hoa màu và cây xanh theo chỉ dẫn của Bộ G1; (2) + 2.Trên các quốc lộ, kể từ ngày
6
ban hành Điều lệ bảo vệ đường bộ, tất cả các công trình như đường điện, đường bưu
điện, …, các sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, nhà ở, liều quán của nhân, đã
làm trong lưu không do các cấp chính quyền, phường, xã, quận, huyện hoặc tỉnh,
thành phố cấp đất hoặc tự ý xây dựng là vi phạm luật lệ. Trong thời gian 6 tháng, kể
từ ngày ký Quyết định này, các cơ quan nhân vi phạm phải di chuyển các công
trình nói trên ra khỏi hành lang của lưu không (từ chân mái đường đắp hoặc đỉnh
mái đường đào ra mi bên 20 mét). Nhà nước miễn phạt và không đền bù.
Triển khai thực hiện Nghị định số 203-HĐBT, Quyết định số 06-CT nêu trên.
Hạt quản Q (đơn vchủ trì, bàn giao) bàn giao bảo quản cột mốc lgiới theo Biên
bản lập ngày 22/11/1995. Tại Biên bản này xác định nội dung bàn giao và nhận tại
chỗ các cột mốc lộ giới; chỉ giới hành lang bảo vđường bộ; thuộc trình
KM367+43; nằm phía: Trái, phải cách mép đường chân đường 20 mét; bên giao
trách nhiệm kiểm tra tình trạng các cột “Mốc lộ giới”, khi thay đổi cần sự
thông tin, bàn bạc với bên nhận kịp thời.
Theo Công văn 360/VPQLĐBIII.4 ngày 09/9/2025 của Văn phòng Q1.4 và h
sơ tài liệu gửi kèm theo:
Việc xác định phạm vi hành lang an toàn đường bộ Quốc lộ 14 đoạn qua xã C,
tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn trước năm 2000) được xác định tại khoản 1 điều 7 (1) Nghị
định số 203-HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng (Ban hành “Điều lệ
bảo vệ đường bộ”) “Hành lang bảo vệ các công trình giao thông đường bộ tính từ
mép chân mái đường đắp từ mép đỉnh mái đường đào hoặc từ mép ngoài rãnh
dọc hay rãnh đỉnh của đường trở ra hai bên, cụ thể: Hệ thống đường quốc lộ 20m”.
(kèm biên bản bàn giao bảo quản cột mốc lgiới ngày 22/11/1995 ghi mốc ch
giới).
Việc xác định phạm vi hành lang an toàn đường bộ Quốc lộ 14 đoạn qua xã C,
tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn 2000-2010) được xác định như sau: Căn cứ Nghị định số
172/1999/NĐ-CP ngày 07/12/1999 và Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày
05/11/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ công trình
giao thông đối với công trình giao thông đường bộ; Thông s 213/2000/TT-
BGTVT ngày 31/5/2000 của Bộ G1 về hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định
số 172/1999/NĐ-CP ngày 07/12/1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp
lệnh bảo vệ công trình giao thông đối với công trình giao thông đường bộ cụ thể tại
M: “Đối với các tuyến đường bộ đã xác định cắm mốc có bề rộng hành lang bảo vệ
theo Nghị định 203/HĐBT rộng hơn bề rộng được xác định theo Nghị định
172/1999/NĐ-CP thì vẫn giữ nguyên bề rộng như đã xác định cắm mốc” (kèm biên
bản bàn giao bảo quản cột mốc lộ giới ngày 13/3/2002).
7
Theo hồ sơ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 xã C (quy hoạch sử dụng đất
giai đoạn 2000-2010) được UBND huyện C phê duyệt tại Quyết định số
733/2003/QĐ-UB ngày 11/7/2003 Quy hoạch (quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch
xây dựng), kế hoạch sử dụng đất của địa phương được quan nhà nước thẩm
quyền phê duyệt thì đường Quốc l14 quy hoạch rộng 50m. Theo kết quả đo đạc
lập bản đồ địa chính được nghiệm thu, đưa vào sử dụng, Trích lục bản đồ địa chính
do Văn phòng Đăng đất đai lập, thể hiện quy hoạch đường Quốc lộ 14 rộng 50
mét.
Theo Công văn số 4054/UBND-CN ngày 24/8/2009 của UBND tỉnh về chỉ giới
đường đỏ quốc lộ A qua các đô thị phía bắc tỉnh Đắk Lắk. Theo đó, tại điểm e, khoản
1 quy định chỉ giới đường đỏ đối với đường Quốc lộ 14 Trung tâm C, huyện C,
từ Km697+000 đến Km701+000, chiều dài 4,0km là 50 mét.
Quy định pháp luật liên quan việc quản lý, sử dụng đất; xem xét, cấp Giấy
chứng nhận quyền quyền sử dụng đất thuộc phạm vi bảo vệ, chỉ giới quy hoạch
đường Quốc lộ 14:
Quy định Luật Đất đai năm 1987: Việc lấn, chiếm đất đai, sdụng đất không
đúng mục đích thuộc trường hợp nghiêm cấm (Điều 5); Việc sử dụng đất khu dân
cư ở nông thôn phải theo quy hoạch (Điều 35).
Tại Điều 64 Luật Đất đai năm 1993 quy định:
Điều 64: Việc sử dụng đất để xây dựng các hệ thống giao thông, thuỷ lợi, đê
điều, thuỷ điện, hệ thống dẫn nước, dẫn điện, dẫn dầu, dẫn khí, phải tuân theo quy
định sau đây:
1- Thực hiện đúng thiết kế thi công, tiết kiệm đất, không gây hại cho việc sử
dụng đất vùng lân cận;
2- Thực hiện đúng quy định về việc sử dụng đất trong hành lang an toàn thuộc
hệ thống các công trình này;
3-
Tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 của Chính phủ
về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai quy định “… Trong
trường hợp tổ chức, hộ gia đình, nhân sử dụng đất không có giấy tờ nêu tại khoản
này đất đó nằm trong quy hoạch xây dựng đã được quan nhà nước thẩm
quyền phê duyệt thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.”
Quy định pháp luật đất đai năm 2013: Tại khoản 1 Điều 157 Luật Đất đai năm
2013 quy định “1. Đất xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn
bao gồm đất xây dựng các hệ thống giao thông, thủy lợi, đê điều, hệ thống cấp nước,
hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống dẫn điện, dẫn xăng dầu, dẫn
8
khí, thông tin liên lạc và đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn các công trình này. Tại
khoản 1 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi
hành một sđiều, khoản của Luật Đất đai số 45/2013/QH13 quy định “1. Trường
hợp sử dụng đất lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sau khi
Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ hoặc lấn, chiếm lòng đường, lề
đường, vỉa sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng hoặc lấn, chiếm đất
sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở quan, công trình sự nghiệp, công trình
công cộng khác thì Nhà nước thu hồi đất đtrả lại cho công trình không cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất đối với diện tích đất đã lấn, chiếm. Trường hợp đã có điều chỉnh quy hoạch
sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
nay diện tích đất lấn, chiếm không còn thuộc hành lang bảo vệ an toàn công
trình công cộng, không thuộc chỉ giới xây dựng đường giao thông; không mục
đích sử dụng cho trụ sở quan, công trình sự nghiệp công trình công cộng khác
thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất phải thực hiện nghĩa vụ tài
chính theo quy định của pháp luật.”
Quy định pháp luật đất đai năm 2024: Tại Khoản 1 Điều 139, Luật đất đai 2024
quy định “1. Trường hợp sử dụng đất do lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công
trình công cộng sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ hoặc lấn,
chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng
hoặc lấn đất, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình
sự nghiệp, công trình công cộng khác thì Nhà nước thu hồi đất để trả lại cho công
trình mà không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn
liền với đất đối với diện tích đất đã lấn, chiếm.”
Quy định liên quan bồi thường, hỗ trợ:
Theo quy định của pháp luật đất đai thì đối với đất do quan, tổ chức của Nhà
nước quản quy định tại Điều 217 của Luật đất đai thì không được bồi thường về
đất khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 101 Luật Đất đai); tài sản tạo lập trái quy định
của pháp luật thì không được bồi thường (Điều 105 Luật Đất đai).
Trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: Qua kiểm tra, soát thì hồ
bồi thường, hỗ trợ, tái định đối với diện tích 173,5m
2
đất thuộc thửa đất s21, tờ
bản đồ địa chính số 65 (diện tích đất hiện trạng bà Đ sử dụng) đã lập, thẩm định, p
duyệt thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 28 Nghị định số
102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Đất đai, Điều 87 Luật Đất đai năm 2024, Điều 105, Điều 101 Luật Đất
đai 2024;
9
Như vậy: Căn cứ nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, quy định pháp luật nêu
trên thì phần diện tích 173,5m
2
đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ địa chính số 65,
C nằm trong hành lang bảo vệ đường, chỉ giới quy hoạch đường Quốc lộ 14 (rộng
50m) theo quy định tại Nghị định số 203-HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ
trưởng ban hành, Quyết định số 06-CT ngày 03/1/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng, Nghị định số 172/1999/NĐ-CP ngày 07/12/1999 Nghị định số
186/2004/NĐ-CP ngày 05/11/2004 của Chính phủ, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
qua các thời kỳ của địa phương được quan thẩm quyền phê duyệt. Như vậy,
phần diện tích này do quan nhà nước quản lý, thuộc trường hợp sử dụng vào mục
đích công cộng (đất giao thông); Đ sử dụng phần diện tích đất nêu trên sau thời
điểm quan Nnước đã ban hành quy định về phạm vi bảo vệ đường, chỉ giới
quy hoạch đường Quốc lộ 14 (sử dụng sau năm 1982), nguồn gốc đất ban đầu thuộc
trường hợp không có giấy tờ sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai; pháp
luật đất đai qua các thời kỳ chưa quy định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với phần diện tích 173,5m
2
nêu trên. Trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ đối
với diện tích đất nêu trên các đơn vị đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và quy
định của pháp luật.
Từ những nội dung, quy định, căn cứ pháp lý nêu trên thì việc Đ khởi kiện
yêu cầu tuyên hủy Quyết định s 434/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch
UBND xã C là không có cơ sở xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk bác đơn khởi kiện của bà Lê Thị
Đ về việc yêu cầu tuyên hủy Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ
tịch UBND xã C
Về nội dung thứ hai Thị Đ yêu cầu: Buộc Chi nhánh Trung tâm phát triển
quỹ đất khu vực Q n phương án thiết lập bảng kê chi tiết bồi thường cho bà Đ theo
đúng quy định của pháp luật như bảng tháng 6/2022 của Trung tâm phát triển quỹ
đất huyện C (cũ)
Như nội dung đã trình bày nêu trên, hồ do Chi nhánh Trung tâm phát triển
quỹ đất khu vực Q cung cấp thì hồ sơ phương án bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích
173,5m
2
đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ địa chính số 65, C đã lập, thực hiện
theo đúng trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật.
Do vậy, việc bà Đ khởi kiện yêu cầu nội dung nêu trên là không có cơ sở xem
xét, xử theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk
Lắk bác đơn khởi kiện của bà Đ về nội dung nêu trên.
Ông P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện bổ sung của người đại diện theo ủy
quyền của người khởi kiện.
10
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Chi nhánh Trung tâm P1 (nay là Ban Q2) ông Đường Văn C (Viết tắt là ông C)
trình bày:
Về nội dung có bảng kê chi tiết giá trị bồi thường tháng 6/2022 theo ý kiến của
Đ:
Tại khoản 2 điều 69 Luật đất đai năm 2013 quy định: 2. Lập, thẩm định
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:
a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trách nhiệm lập
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất
thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định theo hình
thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực đất thu hồi, đồng thời
niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định tại trụ sUBND cấp
xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.
Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện
UBND xã, đại diện Ủy ban M cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trách nhiệm tổng
hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến
không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư; phối hợp với UBND cấp nơi đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường
hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn
chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền;”
b) Cơ quan thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
trước khi trình UBND có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.”
Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ,
quy định: 2. Việc lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định
tại Khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 của Luật Đất đai
và phải niêm yết, tiếp nhận ý kiến đóng góp của người dân trong khu vực có đất thu
hồi ít nhất là 20 ngày, kể từ ngày niêm yết.
Từ những quy định trên, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện C (nay Chi
nhánh Trung tâm Phát triển quỹ đất khu vực Q), đã lập dự thảo phương án bồi
thường, hỗ trợ và tổ chức công khai theo quy định.
Ngày 27/6/2022, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện C đã phối hợp với UBND
xã C, tổ chức buổi họp công khai trực tiếp dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư dự án đầu xây dựng Đường H đoạn tránh phía đông thành phố B (đoạn
qua địa bàn huyện C), trong đó phương án chi tiết của Đ, theo giấy mời số
25/GM-TTPTQĐ ngày 24/6/2022 của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện C.
11
Phương án dự thảo do Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện C lập căn cứ các quy
định của Luật đất đai năm 2013.
Bồi thường về đất: căn cứ điều 95 Luật đất đai năm 2013: 1. Hộ gia đình, cá
nhân đang sử dụng đất không phải đất thuê trả tiền thuê đất hằng năm, có Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử
dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất (sau đây gọi chung Giấy chứng nhận) hoặc đủ điều kiện để
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc
đối tượng được sở hữu n gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà
Giấy chứng nhận hoặc đđiều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này
mà chưa được cấp.
Theo hồ bà Đ cung cấp thì một phần diện tích thửa đất số 21, trong đó: 117,1
thể hiện diện tích thuộc quy hoạch giao thông. Căn cứ điều 95 Luật đất đai
năm 2013, Trung tâm Phát triển quỹ huyện C đã lập dự thảo phương án bồi thường
26,8 m² đất ở trong diện tích thu hồi 173,5 m².
Tuy nhiên, sau khi xem xét lại GCNQSDĐ của bà Đ đã được cấp đổi lại thể
hiện diện tích thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông, không như trường hợp của các
thửa đất lân cận (trên GCNQSDĐ không thể hiện chỉ giới quy hoạch giao thông).
Do đó, trường hợp của bà Đ để lại trình thẩm định sau.
Về nội dung bà Đ yêu cầu bồi thường theo bảng tính chi tiết bồi thường tháng
6/2022:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 87 Luật đất đai năm 2024: “Phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định phải được thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân
cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất”, Chi nhánh Trung tâm Phát triển quỹ đất
khu vực Q đơn vị lập phương án bồi thường phương án bồi thường được hội
đồng thẩm định trước khi có Quyết định phê duyệt. Do đó, Chi nhánh Trung tâm P1
không thể thực hiện theo yêu cầu của bà Đ là bồi thường theo bảng tính chi tiết bồi
thường tháng 6/2022.
Ông C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện bổ sung của người đại diện theo ủy
quyền của người khởi kiện.
Tại bản án số 03/2026/DS-ST ngày 08/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
3 - Đ đã quyết định:
12
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 31; điểm
a khoản 2 Điều 116; Điều 157; Điều 158; Điều 173; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều
193 Luật Tố tụng hành chính.
Áp dụng Điều 10, Điều 91, Điều 95, Điều 102, Điều 105, Điều 210 Luật đất
đai năm 2024; Điều 97 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính
Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chgiải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ về việc: hủy
Quyết Định số 434/QĐ-UBND ngày 29/08/2025 của Chủ Tịch UBND C, tỉnh
Đắk Lắk về việc thu hồi đất của Thị Đ để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng
đường H đoạn tránh phía Đông thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (đoạn qua địa bàn xã C).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ:
Hủy một phần Quyết định s108/QĐ-UBND ngày 18/7/2025 của Chủ tịch
UBND C về việc pduyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định khi Nhà
nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Đầu tư xây dựng Đường H đoạn tránh phía đông
thành phố B (Đoạn qua địa bàn C) 03 hộ, phần nội dung liên quan đến
Thị Đ.
Buộc Chủ tịch UBND C, tỉnh Đắk Lắk phải phê duyệt phương án bồi thường
cho Thị Đ, trong đó: Bồi thường diện ch 27,6m
2
đất thuộc chỉ giới quy hoạch
giao thông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giá đất ở nông thôn và
vật kiến trúc trên diện tích đất 27,6m
2
đã thu hồi.
Ngoài ra bản án thẩm n tuyên về án phí quyền kháng cáo cho các đương
sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/5/2026, người bị kiện đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản
án sơ thẩm và sửa án sơ thẩm theo hướng không bồi thường về đất, tài sản, vật kiến
trúc đối với phần diện tích đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ địa chính số 65, tại xã
C nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ, chỉ giới quy hoach đường Quốc lộ 14 rộng
50 m (Đất giao thông do Nhà nước quản lý) theo quy định của pháp luật hiện hành.
Tại phiên tòa:
Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện người bị kiện vẫn giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
13
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa hôm nay, HĐXX
các đương sự thực hiện đúng quy định của luật tố tụng hành chính;
- Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ
án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho rằng kháng cáo của Chủ tịch
UBND xã C, tỉnh Đắk Lắk là không có cơ sở để xem xét. Do vậy, đề nghị Hội đồng
xét xcăn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính không chấp nhận kháng
cáo của Chủ tịch UBND C Giữ nguyên bản án thẩm của Tòa án nhân dân
khu vực 3 – Đắk Lắk.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ vụ án, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người bị kiện nằm trong hạn luật định đã
nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét đơn kháng cáo của người bị kiện đề nghị sửa án thẩm theo hướng
không bồi thường về đất, tài sản, vật kiến trúc đối với phần diện tích thuộc thửa đất
số 21, tờ bản đồ số 65 tại C trong phạm vi hành lang bảo vệ, chỉ giới quy hoạc
đường quốc lộ 14 rộng 50 (đất giao thông do Nhà nước quản lý), HĐXX thấy rằng:
[2.1] Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Lê Thị Đ sử dụng
đất n định từ năm 1993 và được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
lần đầu ngày 28/9/1993 với diện tích 350m² đất ở; sau đó được cấp đổi Giấy chứng
nhận các năm 2010 2021. Đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s810090
cấp ngày 23/12/2021 mới thể hiện nội dung “thửa đất 117,1m² thuộc quy hoạch
giao thông”. Tuy nhiên, diện tích đất của Đ vẫn được Nhà nước công nhận
350m² và chưa có quyết định nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy
hoặc chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với diện tích đất này.
Theo ng văn số 225/CNCM-KTĐC ngày 14/3/2023 của Chi nhánh Văn
phòng Đăng ký đất đai huyện C, trong tổng diện tích 173,5m² đất bị thu hồi để thực
hiện dự án thì có: 27,6m² là diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất 145,9m² diện tích chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Quyết định số 108/QĐ-UBND ngày 18/7/2025 không bồi thường toàn bộ diện tích
173,5m² với do đất thuộc hành lang giao thông là chưa phân biệt phần diện tích
đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và phần diện tích chưa được công
nhận.
14
[2.2] Xét quan điểm của người bị kiện cho rằng: Phần diện tích 27,6m² thuộc
hành lang bảo vệ, chỉ giới quy hoạch Quốc lộ A nên là đất giao thông do Nhà nước
quản không được bồi thường, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành lang bảo vệ
công trình giao thông không đồng nhất với việc Nhà nước đã xác lập quyền quản lý,
sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất của người sử dụng đất hợp pháp. Tại khoản 3
Điều 210 Luật Đất đai năm 2024 quy định người sdụng đất thuộc hành lang bảo
vệ an toàn công trình vẫn được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đã được xác
định; trường hợp Nhà nước thu hồi đất đbảo đảm an toàn công trình thì việc bồi
thường được thực hiện theo quy định của pháp luật. Đồng thời, điểm a khoản 2 Điều
95 Luật Đất đai năm 2024 quy định: Người sử dụng đất có Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thuộc trường hợp được bồi thường về đất khi Nnước thu hồi đất, nếu
không thuộc trường hợp pháp luật quy định không được bồi thường.
[2.3] Người bị kiện viện dẫn Điều 101 và Điều 105 Luật Đất đai năm 2024 để
xác định phần diện tích đất và tài sản của bà Đ không đủ điều kiện được bồi thường.
Tuy nhiên, các quy định này được áp dụng đối với trường hợp đất do Nhà nước quản
hoặc tài sản được tạo lập trái quy định của pháp luật. Trong khi đó, đối với diện
tích 27,6m² đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ quan có
thẩm quyền chưa chứng minh được việc cấp Giấy chứng nhận là trái pháp luật hoặc
đã bị thu hồi, hủy bỏ theo trình tự luật định; đồng thời cũng không căn cứ xác
định các công trình trên đất được xây dựng trái phép hoặc thuộc trường hợp không
được bồi thường theo Điều 105 Luật Đất đai năm 2024.
[2.4] Đối với yêu cầu bồi thường nhà ở, kiến trúc trên đất thu hồi:
Trên diện tích đất thu hồi nhà ở và một số kiến trúc khác đều được xây dựng
từ năm 1993. Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện không có ý kiến gì
về kết quả kiểm đếm tài sản. Gia đình Đ đã sử dụng đất hợp pháp, liên tục, ổn
định, công khai, không tranh chấp từ năm 1993 và được cấp GCN QSD đất. Từ khi
cấp GCN QSD đất cho đến nay chưa bị quan thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích tiếp tục vi phạm, không
thuộc trường hợp không được bồi thường quy định tại Điều 105 Luật đất đai năm
2024. Như phân tích ở trên thì phần diện tích đất 27,6m² của Đ đủ điều kiện bồi
thường nên căn cứ chấp nhận yêu cầu bồi thường đối với công trình xây dựng
trên đất và các tài sản khác gắn liền với phần đất bị thu hồi.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xcó căn cứ xác định Tòa án cấp
thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thị Đ, hủy một phần Quyết
định số 108/-UBND ngày 18/7/2025 đối với nội dung không bồi thường diện tích
27,6m² đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất buộc quan
thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường đối với diện tích đất cùng tài sản, vật
kiến trúc trên phần diện tích này là căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kháng
15
cáo của người bị kiện không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản
chất vụ án nên không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí: Do không được chấp nhận đơn kháng cáo nên Chủ tịch UBND
C, tỉnh Đắk Lắk phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp
luật.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
và không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu
kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 4 Điều 225, khoản 1 Điều 241; khoản 1 Điều 349 Luật
tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch UBND xã C, tỉnh Đắk
Lắk. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đ.
Tuyên xử:
1. Đình chgiải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ về việc: hủy
Quyết Định số 434/QĐ-UBND ngày 29/08/2025 của Chủ Tịch UBND C, tỉnh
Đắk Lắk về việc thu hồi đất của Thị Đ để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng
đường H đoạn tránh phía Đông thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (đoạn qua địa bàn C).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Thị Đ: Hủy một phần
Quyết định số 108/QĐ-UBND ngày 18/7/2025 của Chủ tịch UBND C vviệc
phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định khi Nhà nước thu hồi đất để
thực hiện dự án: Đầu xây dựng Đường H đoạn tránh phía đông thành phố B (Đoạn
qua địa bàn xã C) 03 hộ, phần nội dung liên quan đến bà Lê Thị Đ. Buộc Chủ tịch
UBND xã C, tỉnh Đắk Lắk phải phê duyệt phương án bồi thường cho Thị Đ,
trong đó: Bồi thường diện tích 27,6m
2
đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giá đất nông thôn vật kiến trúc
trên diện tích đất 27,6m
2
đã thu hồi.
[2] Về án phí hành chính phúc thẩm: Chủ tịch UBND xã C, tỉnh Đắk Lắk phải
chịu 300.000đ án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí
hành chính phúc thẩm theo biên lai số 0005640 ngày 20/5/2026 đã nộp tại Thi hành
án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
16
[3] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TPT –TANDTC tại Đà Nẵng;
- VCT &KSXXPT tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 3;
- THA DS tỉnh Đắk Lắk;
- Đương sự;
- Lưu Vp; lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Bùi Quốc Hà
17
18
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 14/2026/HC-PT Bản án số 14/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2026/HC-PT Bản án số 14/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất