Bản án số 536/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 536/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 536/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 536/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Minh H tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 536/2026/DS-PT Bản án số 536/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 536/2026/DS-PT Bản án số 536/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 536/2026/DS-PT
Ngày 29 - 7 2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Quý Chi
Phạm Thị Nga
Ông Lê Văn An
- Thư phiên tòa: Hoàng Minh Thư - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai
xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số 434/2026/TLPT-DS ngày
30/6/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do
Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 521/2026/QĐXXPT-
DS ngày 02 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đỗ Thị Minh H, sinh năm 1985; Địa chỉ thường trú: Ấp
I, xã D, tỉnh (nay là: thành Đồng Nai; Địa chỉ liên hệ: Khu phố E, phường T, tỉnh
Đồng Nai. (vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Huy V, sinh năm
1986. Địa chỉ: SD, N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản uỷ
quyền ngày 23/12/2025, có mặt).
2. Bị đơn: Ông Phan Thanh N, sinh năm 1962 và Huỳnh Minh P, sinh
năm 1964; Địa chỉ: 8, tổ B, khu phố T, phường T, tỉnh Đồng Nai. ng N,P có
mặt)
3. Người quyền lợi, nghĩa vliên quan: Ông Huỳnh Ngọc T, sinh m
1987. Địa chỉ: Khu phố E, phường T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
4. Người kháng cáo: Đỗ Thị Minh H và bà Huỳnh Minh P.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, nguyên
đơn bà Đỗ Thị Minh H trình bày:
Ngày 29/5/2018, bà H và vợ chồng bị đơn ông Phan Thanh N và bà Huỳnh
Minh P có lập giấy thỏa thuận và cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất tọa
lạc tại phường B, thành B (nay là phường T) có nội dung: Vợ chồng ông N, bà P
chuyển nhượng cho Đỗ Thị Minh H quyền sử dụng đất diện tích 100 m
2
mục đích sử dụng đất: đất trồng lúa, tại thửa đất số 78 tờ bản đồ số 11 phường B,
thành phố B, giá chuyển nhượng là 320.000.000 đồng.
H đã giao đtiền cho ông N, bà P. Do toàn bộ đất ông N, bà P được cấp
nằm toàn bộ trong phần quy hoạch mở đường quy hoạch đất nhà miệt vườn,
biệt thự nên không làm thủ tục chuyển nhượng sang n cho bà H được, vậy hai
bên đến Công ty T1 địa chỉ tại số A đường N, phường T, thành phố B (nay là
phường T), tỉnh Đồng Nai để làm giấy thoả thuận và cam kết.
Do có nhu cầu xây nhà trên đất để ở bà H đến xây nhà nhưng bị ông N, bà
P cản trở không cho sử dụng lối đi qua nhà ông bà để vào đất nên phát sinh tranh
chấp. Nguyên đơn biết đất bị đơn không lối đi nhưng thỏa thuận miệng bị
đơn sẽ mở lối đi cho nguyên đơn. Khi chuyển nhượng nguyên đơn biết đất trồng
lúa không thể tách thửa được nên việc này nguyên đơn một phần lỗi nên nguyên
đơn chỉ yêu cầu bị đơn bồi thường ½ giá trị đất theo Chứng thư thẩm định của
Công ty cổ phần T2. Cụ thH đề nghị: Hủy giấy thỏa thuận cam kết về
việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại phường B, thành phố B (nay phường
T, tỉnh Đồng Nai) lập ngày 29/05/2018 giữa bà H vợ chồng ông N, bà P do vô
hiệu; Buộc ông N, bà P phải trả lại bà H số tiền đã nhận là 320.000.000 đồng, bà
H sẽ giao trả lại cho ông N, bà P diện tích 100m
2
(theo kết quả đo vẽ là: 99,6m
2
);
Buộc ông N, bà P phải bồi thường ½ giá trị đất số tiền là 138.800.000 đồng do vi
phạm thỏa thuận và cam kết ngày 29/5/2018 (theo chứng thư thẩm định giá ngày
23/3/2026 giá trị đất là 597.600.000 đồng). Tổng số tiền là: 458.800.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà thẩm bị đơn ông Phan
Thanh N và bà Huỳnh Minh P trình bày:
Ông bà người có quyền sử dụng 1.454,9 m
2
đất thuộc thửa đất số 78, tờ
bản đồ số 11 tọa lạc tại phường B, thành phố B (nay phường T), tỉnh Đồng Nai,
đã được Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AD 024933, ngày cấp 07/12/2005, thay đổi ngày 15/9/2012 (sau
đây gọi tắt là "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất").
Tháng 5/2018, Đỗ Thị Minh H nhu cầu mua đất nên đã liên hệ ông
bà, khi ông bà cung cấp cho bà H giấy chúng nhận quyền sử dụng đất thì bà H đã
biết thửa đất này đang nằm trong quy hoạch, cụ thể trong Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nêu "Thửa đất được trích đo địa chính. Tổng diện tích thửa đất là
1.454 m
2
được công nhận, trong đó 104,l m
2
nằm trong quy hoạch mở đường
và 1350,8 m
2
nằm trong quy hoạch đất nhà vườn, biệt thự theo dự án phải thu hồi
đất". Tuy vậy H vẫn mong muốn được nhận chuyển nhượng diện tích 100m
2
đất thuộc thửa đất này.
3
Do diện tích 100 m
2
đất một phần của thửa đất nêu trên nên ông không
thể lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ng chứng hoặc chứng
thực tại quan thẩm quyền, chính thế ông bà H đã thoả thuận đến
Công ty T1 để lập giấy thỏa thuận và cam kết việc chuyển nhượng thể hiện: Bà H
đồng ý nhận chuyển nhượng 100m
2
đất thuộc thửa đất trên, gchuyển nhượng
320.000.000 đồng. Sau đó H đã cắm mốc giới đối với diện tích đất nhận chuyển
nhượng bằng cột tông dây kẽm. Ngoài ra H cũng ý kiến với ông
rằng bà H đợi đến khi nhà nước quy hoạch xong sẽ có con đường đi thì bà H mới
sử dụng. Ông không vi phạm bất kỳ nội dung nào trong Giấy thỏa thuận
cam kết ngày 29/5/2018.
Nay, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H. Đề nghị Tòa án bác
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Ngọc T ý kiến tại
bản tự khai: Ông chồng của bà Đỗ Thị Minh H, ngày 29/5/2018, vợ ông
mua miếng đất của vợ chồng ông N, bà P nhưng hiện nay ông N, bà P không cho
đường đi vào đất nên vợ ông khởi kiện ra tòa yêu cầu tuyên hiệu giấy thỏa
thuận cam kết về việc chuyển nhượng QSD đất tại phường B, thành phố B ;
Buộc ông N, P phải trả lại số tiền 320.000.000 đồng yêu cầu tính lãi suất
theo i suất ngân ng từ ngày 29/5/2018 đến ngày xét xvụ án. Tất cả ý kiến
của vợ ông cũng là ý kiến của ông.
Tại Bản án dân sthẩm số 85/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh H
về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông
Phan Thanh N và bà Huỳnh Minh P.
Hủy giấy thỏa thuận cam kết về việc chuyển nhượng quyền sử đất tại
phường B, thành phố B (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) lập ngày 29/05/2018
giữa bà Đỗ Thị Minh H với ông Phan Thanh N và bà Huỳnh Minh P.
Buộc ông Phan Thanh N Huỳnh Minh P có trách nhiệm trả cho Đỗ
Thị Minh H, ông Huỳnh Ngọc T số tiền 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu
đồng).
Đỗ Thị Minh H, ông Huỳnh Ngọc T trách nhiệm trả lại cho ông Phan
Thanh NHuỳnh Minh P diện tích đất 99,6 m
2
thuộc thửa đất số 78, tờ bản
đồ số 11 tại phường B, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai được giới
hạn bởi các mốc (3, 4, A, B, C, 3) theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất số:
2671/2026 ngày 09/3/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ phát hành.
Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn Đỗ Thị
Minh H.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vthi hành
án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 20/4/2026, bị đơn ông Phan Thanh N, Huỳnh Minh P kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm.
4
Ngày 24/4/2026, nguyên đơn Đỗ Thị Minh H kháng cáo đề nghị Tòa
phúc thẩm buộc bị đơn phải bồi thường cho bà 138.800.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn, b đơn gi nguyên kháng o. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét lại nghĩa vụ chịu chi phí ttụng án phí. Bị đơn đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại din Vin kim sát nhân dân thành ph Đồng Nai phát biu quan
đim:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án
từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng
xét xử các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: đề ngh Hội đồng xét x chp nhn kháng
cáo của nguyên đơn H, không chp nhn kháng cáo ca b đơn P; sa mt
phn Bản án thẩm theo hướng chp nhn toàn b yêu cu khi kin ca nguyên
đơn; buộc b đơn phải tr cho nguyên đơn số tiền 320.000.000 đồng đã nhận
bồi thường cho nguyên đơn thit hi do hợp đồng vô hiu vi s tin 138.800.000
đồng, tng cộng 458.800.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ vụ án được thẩm tra công
khai tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của cả
nguyên đơn Đỗ Thị Minh H và bị đơn ông Phan Thanh N, Huỳnh Minh P
Hội đồng xét xử thấy rằng:
V t tng:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh H và bị đơn ông Phan
Thanh N, bà Huỳnh Minh P làm trong thời hạn luật định, có hình thức, nội dung
phạm vi kháng cáo phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện được xem xét giải quyết theo trình
tự phúc thẩm.
Về nội dung:
[2] Nguyên đơn khởi kiện cho rằng: “Giấy thỏa thuận cam kết về việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất tọa lạc tại: Phường B, TP ., tỉnh Đồng Nai” lập
ngày 29/5/2018 giữa bà Đỗ Thị Minh H ông Phan Thanh N, bà Huỳnh Minh P
BL 171 (sau đây gọi tắt là: giấy thỏa thuận chuyển nhượng lập ngày 29/5/2018)
có nội dung ông N bà P đồng ý chuyển nhượng cho bà H 100m2 đất là một phần
trong tổng diện tích 1.454,9m2 thuộc thửa 78, tờ bản đồ 48 tọa lạc tại phường B
với giá 320.000.000đồng là vô hiệu nên yêu cầu Tòa án hủy giấy này. Đồng thời,
yêu cầu Tòa buộc bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền 138.800.000
đồng thiệt hại do hợp đồng hiệu. Qtrình tố tụng cả nguyên đơn bị đơn
đều thừa nhận: H đã thanh toán toàn bộ tiền chuyển nhượng 320.000.000 đồng
đã được giao đất. Xét thấy, tại thời điểm chuyển nhượng, nguyên đơn bị
5
đơn đều biết diện tích đất các bên thỏa thuận chuyển nhượng nằm trong quy
hoạch mở đường và quy hoạch đất nhà vườn, biệt thự theo dự án phải thu hồi đất
nên chỉ lập giấy thỏa thuận ghi nhận việc chuyển nhượng không làm thủ tục
kết hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua giấy thỏa thuận chuyển
nhượng đất lập ngày 29/5/2018 thuộc trường hợp hiệu cả về hình thức nội
dung. Tòa án cấp thẩm nhận định hợp đồng trên vô hiệu, tuyên hủy giấy thỏa
thuận chuyển nhượng lập ngày 29/5/2018 do vô hiệu; buộc bị đơn ông N-bà P
trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn H-ông T số tiền 320.000.000 đồng đã nhận
buộc nguyên đơn H trách nhiệm trả lại cho ông N-bà P 99,6m
2
thuộc thửa
đất số 78, tờ bản đồ 11 tại phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường
T, thành phố Đ) theo kết quả đo đạc thực tế là có căn cứ.
Tuy nhiên, đối với nội dung giải quyết về yêu cầu bồi thường thiệt hại của
nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: mặc dù, nguyên đơn cho rằng hai bên đã
thỏa thuận bđơn phải chừa lối đi cho nguyên đơn nhưng không cung cấp được
chứng minh việc thỏa thuận này. Song, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không xem
xét lỗi dẫn đến hợp đồng hiệu không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại
của nguyên đơn là chưa phù hợp.
Theo kết quả thẩm định giá tại Chứng thư Thẩm định giá do Công ty cổ
phần T2 thể hiện thì diện ch đất tranh chấp hiện trị giá 597.600.000 đồng. Giá
trị thiệt hại được tính bằng: 597.600.000 đồng 320.000.000 đồng = 277.600.000
đồng. Do các bên đều biết đất không đủ điều kiện để được chuyển nhượng nhưng
vẫn lập giấy thỏa thuận chuyển nhượng dẫn đến hợp đồng bị hiệu nên cả hai
bên đều lỗi ngang nhau, vì thế mỗi bên đều phải chịu ½ thiệt hại tương ứng với
277.600.000 đồng : 2 = 138.800.000 đồng/mỗi bên. Do bị đơn đã nhận tiền
được nguyên đơn trả lại đất, ngoài ½ thiệt hại bị đơn phải tự chịu thì bị đơn
trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn số tiền 138.800.000 đồng phù hợp.
Như vậy, tổng số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn 458.800.000 đồng.
Từ những phân tích trên thấy rằng, cần chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần Bản án thẩm theo
hướng buộc bị đơn phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn số tiền
138.800.000 đồng.
Do sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn nên chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại như sau:
Chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định giá 30.000.000
đồng; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ 4.000.000 đồng, tổng cộng:
34.000.000 đồng. H đã tạm nộp số tiền này, nên bđơn ông N, P phải
trách nhiệm thanh toán lại cho bà H.
Án phí dân sự thẩm: nguyên đơn không phải chịu án phí; Bị đơn ông Phan
Thanh N và bà Huỳnh Minh P phải chịu: 20.000.000 đồng + [(458.800.000 đồng
400.000.000) x 4%] = 22.352.000 đồng. Tuy nhiên, do bị đơn là người cao tuổi
và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn ông N,
P.
6
Án phí dân sự phúc thẩm: kháng cáo của H được chấp nhận nên bà H
không phải chịu; ông N, P phải chịu nhưng ông được miễn do ông
người cao tuổi và có đơn xin miễn.
Quan điểm đại diện của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng
Nai là có căn cứ, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh H;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Thanh N, Huỳnh Minh
P;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Căn c khoản 3 Điều 26 ; Điều 271, Điều 273 B lut T tng dân s; các
điều 119, 122, 123, 131, 171, 407, 408 Điều 468 B lut Dân s năm 2015; các
điu 26, 29 ca Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 ca y ban thưng v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np,
qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh H;
Tuyên bố Giấy thỏa thuận và cam kết về việc chuyển nhượng quyền sử đất
tại phường B, thành phố B (nay phường T, tỉnh Đồng Nai) lập ngày 29/05/2018
giữa bà Đỗ Thị Minh H với ông Phan Thanh N và bà Huỳnh Minh P vô hiệu;
Buộc ông Phan Thanh N Huỳnh Minh P có trách nhiệm trả cho Đỗ
Thị Minh H, ông Huỳnh Ngọc T số tiền 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu
đồng) và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Đỗ Thị Minh H, ông Huỳnh
Ngọc T số tiền 138.800.000 đồng, tổng cộng: 458.800.000 đồng;
Đỗ Thị Minh H, ông Huỳnh Ngọc T trách nhiệm trả lại cho ông Phan
Thanh N Huỳnh Minh P diện tích đất 99,6m
2
thuộc thửa đất số 78, tờ bản
đồ số 11 tại phường B, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai được giới
hạn bởi các mốc (3, 4, A, B, C, 3) theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất số:
2671/2026 ngày 09/3/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ phát hành.
Chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định giá 30.000.000
đồng; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ 4.000.000 đồng, tổng cộng:
34.000.000 đồng. Do H đã tạm nộp số tiền này nên bị đơn ông N, bà P phải
trách nhiệm thanh toán lại cho bà H.
Án phí dân sthẩm: nguyên đơn H không phải chịu; hoàn trả cho bà
Đỗ Thị Minh H số tiền 12.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu
số 0006387 ngày 31/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa
(nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai);
7
Bị đơn ông Phan Thanh N và bà Huỳnh Minh P phải chịu: 20.000.000 đồng
+ [(458.800.000 đồng – 400.000.000) x 4%] = 22.352.000 đồng. Tuy nhiên, do bị
đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí dân sự sơ thẩm
cho bị đơn ông N, bà P.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đỗ Thị Minh H không phải chịu; hoàn trả cho
H số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai
thu tiền tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0011148 ngày 13/5/2026 tại Thi hành án
dân sự thành phố Đồng Nai; P được miễn do người cao tuổi đơn
xin miễn.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trcho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND thành ph Đồng Nai;
- TAND khu vc 1 - Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vc 1 Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, T HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Quý Chi
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 536/2026/DS-PT Bản án số 536/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 536/2026/DS-PT Bản án số 536/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất