Bản án số 590/2026/DS-PT ngày 11/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 590/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 590/2026/DS-PT ngày 11/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 590/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị N tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 590/2026/DS-PT Bản án số 590/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 590/2026/DS-PT Bản án số 590/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 590/2026/DS-PT
Ngày 11 - 8 2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến
Bà Phạm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2026, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai xét xử công
khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số 513/2026/TLPT-DS ngày 14/7/2026 về “Tranh
chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày
06 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai bị kháng o.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 576/2026/QĐ-PT ngày 15/7/2026,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Huỳnh Thị N, sinh năm: 1964; Địa chỉ: thôn N, phường P,
tỉnh (nay là: thành phố) Đồng Nai. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Trần Thị N1, sinh năm: 1983; Địa chỉ: F
Q, khu phố T, phường B, tỉnh (nay là: thành phố) Đồng Nai. (có mặt)
2. Bị đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1972 và ông Ngô Đức T1; sinh năm:
1973; Địa chỉ: Khu phố I, phường P, tỉnh (nay là: thành phố) Đồng Nai. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1, bà T: ông Ngô Đa N2
Luật sư thuộc Văn phòng L, Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
3. Người làm chứng: Anh Ngô Hoài C, sinh năm: 2001; Địa chỉ: Khu phố I,
phường P, tỉnh (nay là: thành phố) Đồng Nai. (có mặt)
4. Người kháng cáo: bị đơn ông Ngô Đức T1, bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 02 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án
đại diện nguyên đơn trình bày:
Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến tháng 01/2025 vợ chồng ông Ngô
Đức T1, Nguyễn Thị T mua gạo bột năng của Huỳnh ThN. Đến ngày
07/02/2025 hai bên chốt công nợ, ông T1 bà T n nợ N tổng số tiền
408.000.000đ (Bốn trăm lẻ tám triệu đồng). Quá trình đối chiếu công nợ, ông T1
người xác nhận công nợ vào sổ ghi chép công nợ do bà N giữ. Kể từ thời điểm ngày
07 tháng 2 năm 2025 đến nay vợ chồng ông T1 T không trả. Do vậy, N yêu
cầu vợ chồng ông T1 T nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ từ hợp đồng mua bán
tài sản với số tiền là 408.000.000đ (Bốn trăm lẻ tám triệu đồng) và lãi do chậm thực
hiện nghĩa vụ trả tiền theo múc lãi suất 10%/năm/số nợ tính từ ngày 07/02/2025 đến
ngày xét xử sơ thẩm (tính tròn 11 tháng).
Bị đơn ông Ngô Đức T1 và bà Nguyễn Thị T trình bày:
Ông Ngô Đức T1 và bà Nguyễn Thị T thừa nhận, vào khoảng thời gian từ năm
2022 đến tháng 01 năm 2025 vợ chồng ông bà mua hàng là gạo bột năng của
Huỳnh Thị N. Nhưng hiện tại vợ chồng ông bà chỉ nợ bà N số tiền là 28.200.000
đồng không phải số nợ 408.000.000đ (Bốn trăm lẻ tám triệu đồng) như phía nguyên
đơn N trình bày. Tại thời điểm ngày 02/01/2024 vợ chồng ông chỉ nợ N
107.800.000 đồng và do bận công việc gia đình nên đã đưa tiền cho con trai ông bà
là Ngô Hoài C trả dùm, khi trả nC đã xác nhận đã trả nợ vào sổ ghi nợ của N
chụp lại nh ảnh o máy điện thoại của C. Đến thời điểm tháng 12 năm 2024 vợ
chồng ông nợ N 139.300.000đ, sau đó tháng 12/2024 trả 61.100.000đ; ngày
07/2/2025 âm lịch trả 50.000.00(năm mươi triệu đồng). Số nợ còn lại 28.200.000đ.
Do đó vợ chồng ông T1 bà T chỉ đồng ý trả cho bà N số tiền nợ là 28.200.000đ.
do ông T1 xác nhận nợ cho N vào trang số 14, 15 (BL 27.14 và 27.15)
của cuốn sổ ghi nợ của bà N là do tại thời điểm này nhà ông chỉ có mình ông ở nhà,
bà T vợ ông không có nhà nên ông ghi theo yêu cầu của bà N. Sau khi gia đình tính
toán các khoản đã thanh toán thì thực tế số nợ chỉ còn 28.200.000 đồng hai bên
đã xảy ra tranh chấp nên số công nợ chốt đến ngày 07 tháng 2 năm 2025 ông T1 viết
nhưng không ký xác nhận.
Người làm chứng Ngô Hoài C Công trình bày:
Anh là con của ông Ngô Đức T1Nguyễn Thị T, trong số công nợ của bà
Huỳnh Thị N thì anh đã hai lần được ông T1 bà T nhờ cầm tiền đến trả nợ cho bà N
dùm cho ông T1 T. Cụ thể trước ngày 02 tháng 01 năm 2024 trả số tiền
100.900.000 đồng, đến ngày 01 tháng 01 năm 2024 trả số tiền 107,800.000 đồng sau
đó anh ký xác nhận và đều ghi ngày 02/01/2024 và chụp màn hình này lại vào máy
điện thoại và sau đó gửi hình ảnh vào tài khoản Z có tên “Cục nợ” vợ anh. Anh C
cho rằng khoản nợ của năm 2024 ông T1 T đã đưa tiền cho anh trả cho N nhưng
bà N vẫn yêu cầu ông T1 xác nhận nợ.
Tại Bản án dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 06/02/2026, Tòa án nhân dân
khu vực 11 Đồng Nai đã quyết định:
3
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị N. Buộc
bị đơn ông Ngô Đức T1 và bà Nguyễn Thị T nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh
Thị N số tiền 445.400.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng).
Trong đó số nợ gốc 408.000.000 đồng, số nợ lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh
toán là 37.400.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án p
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/02/2026, bị đơn ông Ngô Đức T1, Nguyễn Thị T kháng cáo, đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ Bản án theoớng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị đơn giữ nguyên kháng cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: Bản án sơ thẩm
nhận định số dư nợ là không đúng vì chưa nhận định số tiền anh C đã trả choN.
Do khi xác nhận nông N không tìm hiểu vợ con dẫn đến ông N xác nhận nợ như
vậy. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, a án đã tiến
hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật giải quyết vụ án đúng thẩm
quyền. Về những người tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quy định.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ vụ
án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông T1, T, giữ
nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra công khai tại
phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của ông Trần Văn T2, Nguyễn Thị T được thực hiện
trong hạn luật định, có nội dung hình thức phù hợp với quy định tại các điều 271,
272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để xét xử theo thủ tục
phúc thẩm.
Về nội dung:
[2] Xét kháng o của bị đơn ông T2 T thấy rằng: Tại phiên tòa, các bên
đều thừa nhận năm 2025 trở về trước gia đình ông T2 làm nghề sản xuất bún
nhiều lần mua các sản phẩm như gạo, bột năng của N làm nguyên liệu sản xuất.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn bà N cung cấp chứng
cứ cuốn sổ ghi nợ. Trong cuốn sổ này thể hiện các n nhiều lần tiến hành mua
bán và thanh toán tiền cho nhau, những khoản ông T2 bà T thanh toán xong sẽ được
gạch bỏ ghi chữ R” lên trên các con stính toán, còn những khoản chưa thanh
4
toán thì ông T2 sẽ tên xác nhận và ghi chữ “Thành bún” phía dưới. Tại cuốn sổ
nợ trên thể hiện, ngoài các khoản đã được gạch bỏ thì hiện còn các khoản hai đã bên
tính toán, cụ thể như sau: Ngày 20/2/2024, ông T2 xác nhận còn nợ N 289.800.000
đồng (BL 27.3); Ngày “01/6”, ông lấy hàng trị giá 145.170.000đồng, thanh toán
54.070.000đồng còn nợ 91.100.000 đồng (BL 27.7); Ngày 29 tháng 12 năm 2024
(AL) chốt ông T2 còn nợ 458.000.000 đồng (số tiền này gồm các khoản nợ: ngày
20/2/2024 còn n 289.800.000đồng, ngày 1/6: nợ 91.100.000đồng, ngày
05/01/2025 (tương ứng F) nợ 71.000.000đồng, ngày 19/01/2025 nợ 67.200.000 đồng
tổng cộng 519.100.000đồng; ngày 29/12/2024 AL trả 61.100.000 đồng) (BL 27.14);
Ngày 07/2/2025, ông T2 xác nhận 519.100.000đ – 50.000.000đ (số tiền này ông T2
cho rằng ngày 07/2/2025 ông trả N) còn lại 408.000.000 đồng. Hiện N khởi
kiện yêu cầu ông T2 bà P phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ 408.000.000 đồng.
[3] Tại Tòa án cấp thẩm bị đơn ông T2 T cho rằng: tính đến ngày
02/01/2024, ông chỉ còn nợ N số tiền 107.800.000 đồng, do bận công việc nên
ông bà đã đưa tiền cho con trai Ngô Hoài C trả dùm, khi trả nợ anh C ghi vào
sổ nợ và chụp lại hình ảnh biên nhận bằng điện thoại. Đến tháng 12/2024, ông bà có
nợ N 139.300.000 đồng nhưng sau đó ông đã trả được 61.100.000đ âm lịch vào
tháng 12/2024, 50.000.000 đồng vào ngày 07/02/2025 nên hiện chỉ còn nợ
28.200.000 đồng chứ không phải 408.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm thì ông
bà lại cho rằng sau khi xét xử sơ thẩm, ông bà có tính toán lại và xác định mình chỉ
còn nợ N 44.200.000 đồng. Xét, trình bày của ông T2 T mâu thuẫn, bởi lẽ:
ông không xuất trình được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày trên của
mình đúng, trong khi ông T2 thừa nhận toàn bộ chữ viết các con số nh toán
chữ tên xác nhận “Thành bún” dưới các khoản tính toán như liệt tại đoạn [2]
trên của ông viết ra. Bên cạnh đó, ông T2 T không thừa nhận còn nợ
408.000.000đồng củaN nhưng lại xuất trình cuốn sổ ghi mà ông bà cho rằng đây
là cuốn sổ ông bà tự ghi để nhớ thì cuốn này cũng có nội dung: “7/2/2025
458.000.000đ 50.000.000đ = 408.000.000đ” (BL 75), nội dung này bố cục, cách
viết nội dung tương tự như nội dung biên nhận do chính ông T2 ghi trong cuốn sổ
nợ của N đã cung cấp cho Tòa án. Đối với các khoản mà ông T2 bà P cho rằng đã
nhờ anh C trả giùm thì thấy rằng: nh ảnh từ điện thoại của anh Nguyễn Hoài C1
chụp và có gửi qua tài khoản Zalo có tên tài khoản “Cục nợ” có nội dung:
“12/12/2023 còn 139.900.000đồng - 100.900.000đồng = 39.000.000đồng. T3
2/1/2024”. Song, không có căn cứ chứng minh đây các khoản tiền anh C1 thanh
toán cho N thay ông T2T trong số tiền ông còn nợ N đang khởi kiện,
hơn nữa nếu đúng các biên nhận thể hiện troong hình ảnh chụp do anh C1 cung cấp
biên nhận để ghi nhận việc anh trả nợ cho N thì các khoản này được thể hiện
các bên trả từ năm 12/12/2023, như vậy nếu đã trà ngày 12/12/2023 đến ngày
20/2/2024 ông T2 vẫn chốt vợ chồng ông còn nợ N 289.800.000đồng không
phù hợp. Trình bày của ông T2, P về việc trong các lần nhập hàng thì ông T2
người nhập hàng từ bà N, còn khi trả nợ thì có khi vợ ông, con ông tự mang tiền trả
cho bà N mà không trao đổi với ông là mâu thuẫn trong khi lúc thì ông bà cho rằng
mình còn nợ 28.200.000 đồng, khi lại cho rằng mình còn nợ 44.200.000 đồng. Do
đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc ông T2T phải thanh toán cho bà N số tiền hàng
còn nợ 408.000.000 đồng là có căn cứ.
5
[4] Đối với yêu cầu tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: xét thấy,
mặc các bên chốt nợ vào ngày 07/02/2025, vào ngày 14/02/2025 N có làm văn
bản thông báo yêu cầu ông T2T đến ngày 16/02/2025 phải thanh toán nợ cho bà.
Đáng lẽ, khi chấp nhận tính lãi suất chậm trả thì thời hạn tính chậm trả phải tính từ
ngày 17/02/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm 06/02/2026 (11 tháng 19 ngày) là
39.395.120đồng. Nếu tính tròn 11 tháng ttiền lãi 37.250.400 đồng chứ không
phải 37.400.000 đồng. Song, xét thấy việc Tòa án cấp thẩm buộc bị đơn phải trả
37.400.000 đồng trong số 39.395.120 đồng bị đơn phải trả là đã đảm bảo quyền lợi
cho các bên.
[5] Từ những phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông T2 và bà T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà
N stiền 445.400.000 đồng gồm 408.000.000 đồng nợ gốc 37.400.000 đồng lãi
chậm trả là có căn cứ nên kháng cáo của bị đơn ông T2 bà T không được chấp nhận.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải chịu là đúng
quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị
đơn phải chịu.
[8] Đnghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bđơn không
được chấp nhận.
[9] Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T3, Nguyễn
Thị T; Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 06/02/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai;
Căn cứ các Điều 26; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 429, 430, 431, 433,
440, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân
gia đình; các điều 26, 29 của Nghị Quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án,
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị N.
Buộc bị đơn ông Ngô Đức T1 Nguyễn Thị T nghĩa vụ liên đới trả
cho Huỳnh Thị N số tiền 445.400.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi lăm triệu bốn
trăm nghìn đồng), trong đó, gồm: 408.000.000 đồng tiền hàng còn nợ và 37.400.000
đồng tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Ngô Đức T1 và bà Nguyễn Thị T nghĩa vụ liên
đới chịu số tiền 21.816.000 đồng; Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị N số tiền tạm ứng án
phí 10.569.000 đồng, theo biên lai thu s0003448 của Chi cục thi hành án dân sự thị
xã Phước Long, tỉnh Bình Phước ngày 20 tháng 3 năm 2025 (nay là Thi hành án dân
sự tỉnh Đ).
6
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông T1, bà T mỗi người phải chịu, được khấu trừ
vào các khoản tiền tạm ứng án phí ông T1, bà T đã nộp theo các Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án do Thi hành án tỉnh (nay là: thành phố) Đồng Nai lập
số 0004540 ngày 05/3/2026 và số 0004924 ngày 10/3/2026.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án
theo mức lãi quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đồng Nai;
- TAND khu vực 11 – Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 11 – Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án, VP, TDS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC
THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
Đinh Thị Quý Chi
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 590/2026/DS-PT Bản án số 590/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 590/2026/DS-PT Bản án số 590/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất