Bản án số 931/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 931/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 931/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 931/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Võ Trí H - Nguyễn Trung Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 931/2026/DS-PT Bản án số 931/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 931/2026/DS-PT Bản án số 931/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 931/2026/DS-PT
Ngày: 21-7-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Lê Thị Kim Nga
bà Huỳnh Thị Hồng Vân
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị MLinh Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông
Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 347/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng 5 m
2026 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 35/2026/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 448/2026/QĐ-PT ngày 03 tháng 6 năm
2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Võ TH, sinh năm 1951; địa chỉ: ấp 1B Thanh P, L, tỉnh
Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: ông Ngô Hoàng Q, sinh năm 1979; địa
chỉ: Ấp 7, xã L, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 31/7/2025).
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Trung Q, sinh năm 1971; địa chỉ: Ấp 2 Mỹ Y, Y, tỉnh Tây
Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Q: bà Đặng Thị Thành Đ, sinh năm 1979;
địa chỉ: ấp H, xã L, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 22/01/2025).
2
2. Lê Thị T, sinh năm 1974; địa chỉ: Số 3/11 đường S, p L5, L, tỉnh Tây
Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Thị Xuân L, sinh năm 1973;
2. Chị Nguyễn Thị Tình N, sinh năm 2000;
Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã Y, tỉnh Tây Ninh.
3. Ông Lê Văn A, sinh năm 1968;
4. Anh Lê Hoàng Nhựt G, sinh năm 1996;
Cùng địa chỉ: Số 3/11 đường S, ấp L5, xã L, tỉnh Tây Ninh.
5. Ông Phan Văn T, sinh năm 1971;
6. Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1973
Cùng địa chỉ: Ấp 3P, xã L, tỉnh Tây Ninh.
7. Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1943; địa chỉ: Ấp 1, xã Y, tỉnh Tây Ninh.
8. Bà Nguyễn Thị Thuỷ Tr, sinh năm 1955; địa chỉ: Ấp 4, Y, tỉnh Tây Ninh.
9. Bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1958; địa chỉ: Ấp 1, xã Y, tỉnh Tây Ninh.
10. Bà Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1964; địa chỉ: Ấp 7C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
11. Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp 5C, Đ, tỉnh Tây
Ninh;
12. Ông Nguyễn Trí Tr, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp 2Y, xã Y, tỉnh Tây Ninh;
13. Bà Huỳnh Hồng N, sinh năm 1960;
14. Ông Phạm Minh Nh, sinh năm 1980;
15. Bà Phạm Đài L, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: đường số 1 KDC L, ấp L9, xã L, tỉnh Tây Ninh.
16. Văn phòng công chứng L; địa chỉ trụ sở: Số 154-155 ấp P, xã L, tỉnh Tây
Ninh
Người đại diện theo pháp luật: ông Dương Tấn T (Trưởng Văn phòng).
17. Chủ tịch Ủy ban nhân dân L (kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ủy ban nhân
dân huyện L, tỉnh Long An); địa chỉ trụ sở: Số 213, Quốc lộ 1A, ấp L3, L, tỉnh
Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thành N (Chủ tịch).
18. Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh Tây Ninh; địa chtrụ sở: Số 137 Quốc
lộ 1A, phường Long An, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Minh T (Giám đốc)
3
Người đại diện theo ủy quyền: ông Bùi Thanh S (Phó Giám đốc Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai khu vực L).
- Ni kháng cáo: nguyên đơn, ông Võ Trí H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 04/6/2024, các đơn khởi kiện bổ sung ghi ngày
10/3/2025, 11/11/2025 trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, nguyên
đơn ông Võ Trí H do ông Ngô Hoàng Q đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 214, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m
2
đất thổ 213m
2
đất
vườn, địa chỉ ấp 1B, xã P, huyện L, tỉnh Long An (nay L, tỉnh Tây Ninh) của
mẹ ông Võ Trí H là cụ Lê Thị S (đã chết). Cụ S chưa được cấp giấy tờ gì về quyền sử
dụng đất. Năm 1973, cụ S tặng cho ông H thửa 214 nhưng việc tặng cho không làm
giấy tờ , không ai chứng kiến. Ông H sử dụng ổn định tnăm 1973 (thời điểm này
ông H chưa lập gia đình). Năm 1976, ông H sống cùng vợ, con trên thửa đất này. Vợ
ông H Phạm Kim T (tên thường gọi O, sinh năm 1952, chết năm 2023). Ông
H xây dựng 01 căn nhà cột gỗ mái lá, vách lá, chiều ngang khoảng 10m, dài
khoảng 15m, ngoài ra, ông H còn trồng dừa, xây 01 chuồng trại để chăn nuôi,
ngang 3m x dài 12m x cao 1,2m. Trong quá trình sử dụng, ông H sửa chữa nhà
nhưng hiện trạng vẫn là nhà mái lá, không xây dựng kiên cố. Ngoài ra, trên đất không
còn xây dựng, vật kiến trúc hoặc cây trồng nào khác.
Ngày 25/12/2001, ông H làm Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 31/7/2002, ông H được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số V646681, số vào sổ GCN: 02269 QSDĐ/0206-LA, thửa 214, tờ bản
đồ số 3, diện tích 513m
2
(gồm 300m
2
đất ONT, 213m
2
đất CLN). Việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu, trước năm 2002, ông H chưa từng
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp bất cứ giấy tờ gì về đất đai.
Do hoàn cảnh gia đình nên ông H làm ăn xa từ năm 2002 đến năm 2024, không
về thăm đất lần nào. Đến đầu năm 2024, ông H về đây phát hiện có người xây nhà
sinh sống tại thửa đất trên ông Nguyễn Trung Q Thị T. Ngày 03/5/2024,
ông H đơn gửi Ủy ban nhân dân P, huyện L, tỉnh Long An yêu cầu giải quyết.
Ngày 08/5/2024, Ủy ban nhân dân xã P tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Nay ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. hiệu “Giấy bán đất” (viết tay) ngày 23/4/1996 giữa ông Phạm Văn Đ
ông Nguyễn Trí T.
2. hiệu Văn bản thỏa thuận đứng tên quyền sử dụng đất được kết giữa
ông Nguyễn Trung Q, bà Lê Thị Xuân L ông Phan Văn T, Nguyễn Thị Thúy L
vào ngày 26/02/2014, được Văn phòng công chứng L công chứng số 1811, quyển số
01-2014-TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa 214, tờ bản đồ số 3, diện tích 480m
2
(gồm
300m
2
loại đất ONT và 180m
2
loại đất CLN).
3. Vô hiệu Hợp đồng chuyển nhưng quyền sử dụng đất gia ông Nguyễn Trung
4
Q, Thị Xuân L, Thị T o ngày 25/9/2014, đưc Văn phòng ng chứng L
ng chng số 3693, quyển số 01-2014-TP/CC-SCC/GD, đối với tha 3753 (tách từ
tha 214), tbản đsố 3, diện ch 151m
2
, loại đất ONT.
4. Hủy Giy chng nhận quyền sdụng đất sBS 907424, số vào sổ cấp giấy
chng nhận: CH 04307, do y ban nhân dân huyện L cấp cho ông Nguyễn Trung Q
ngày 14/7/2014, được Chi nhánh n phòng đăng đất đai tại huyện L cập nhật biến
động vào ny 07/10/2014, thửa đất s214, tờ bản đsố 3, diện tích 329m
2
(gồm 149m
2
loại đất ONT 180m
2
loại đất CLN).
5. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 626083, số vào sổ GCN: CS
12887 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Trung Q
ngày 22/9/2017, thửa đất 358, tờ bản đồ số 30 (tách từ thửa 214, tờ bản đồ số 3), diện
tích 149m
2
, loại đất ONT.
6. Hủy Giy chứng nhận quyền sử dụng đt số CD 480596, số vào sổ: CS 11000,
do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Long An cấp cho ThT ny 01/6/2017
tha đất 316, tbản đ số 30, diệnch 154,5m
2
(tha số 3753 ch ra từ thửa đất số
214, tờ bản đồ s3, diện tích 151m
2
), loại đất ONT.
7. Yêu cu ông Nguyn Trung Q, bà Thị Xn L phi tháo dỡ, di dời i sản, vật
kiến trúc trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Võ Trí H phần đất thuộc 214, tờ
bản đsố 3 thửa 358, tbản đsố 30.
8. Yêu cu bà Thị T phải tháo dỡ, di dời tài sản tn đất để tr lại quyền sử dụng
đất cho ông Võ T H thửa đất số 316, t bản đsố 30.
Địa chỉ các tha đất trên:p 1B, xã P, huyện L, tỉnh Long An.
(Vị trí, tứ cận, tờ bản đồ, diện tích, loại đất, tài sản trên đất được thể hiện tại
Mảnh trích đo địa chính số 339-2024 do Công ty TNHH đo đạc nđất Hưng Phú
thực hiện ngày 08/10/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện L
duyệt ngày 16/10/2024 – sau đây viết tắt là Trích đo số 339-2024).
Theo đơn phản tố ghi ngày 20/02/2025 trong quá trình giải quyết vụ án tại
cấp thẩm, bị đơn ông Nguyễn Trung Q do Đặng Thị Thành Đ đại diện theo ủy
quyền trình bày:
Ông Nguyễn Trung Q con của ông Nguyễn Trí T (đã chết năm 2004). Ông
Ttất cả 09 người con gồm: Nguyễn Thị Ngọc D, Nguyễn Thị Thủy Tr,
Nguyễn Thị Thanh Th, Nguyễn Ngọc B, Nguyễn Thị Ngọc Th, Nguyễn
Ngọc Tri (đã chết, không chồng, con), Nguyễn Thị Thuý L, ông Nguyễn Trí Tr,
ông Nguyễn Trung Q. Ngoài ra ông Tkhông còn con nuôi, con riêng.
Nguồn gốc thửa đất 214, tờ bản đồ số 3 của ông Phạm Văn Đ (đã chết năm
2014, vợ Huỳnh Hồng N, 02 con chung Phạm Minh Nh, Phạm Đài
L) quản lý sử dụng từ năm 1995. Ông Q có nghe vợ chồng ông Đ nói lại O - vợ
ông Trí H, nợ tiền của vợ chồng ông Đ nên ông H giao cho vợ chồng ông Đ
thửa đất này để khấu trừ nợ. Sau đó thì ông H và bà O bỏ đi đâu không ai biết.
5
Thời điểm đó, trên đất có một cái chòi lá, ông Đ quản lý, sử dụng đến năm 1996
thì chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trí T tại giấy bán đất lập ngày 23/4/1996, nội
dung: Tôi bán một miếng đất tại cảng P, giá tiền 7.500.000 đồng cho ông
Nguyễn Trí T, ấp 3, Mỹ Yên. Nếu sau này có ai tranh chấp, tôi hoàn trả lại số tiền nói
trên, còn phần tiền thuế từ nay về sau người mua chịu trách nhiệm, đặt trước
5.000.000đ, còn lại 2.500.000đ, từ nay đến hết năm trả đủ số tiền còn lại.” Ông T đã
giao đủ tiền cho ông Đ ông Đ cũng đã giao đất cho ông T sử dụng. Sau đó, ông T
cho ông Nguyễn Trung Q bà Nguyễn Thị Thúy L cất nhà (nhà lá) trên đất từ
năm 1996.
Ngày 23/5/2011, ông Q ông Phan Văn T (chồng Nguyễn Thị Thúy L)
được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BC 891747 BC 891748, cho cả hai cùng sử dụng chung thửa đất số 214, tờ
bản đồ số 3, diện tích 480m
2
.
Ngày 26/02/2014, vợ chồng ông T chuyển nhượng lại thửa đất trên cho ông Q
với giá là 95.000.000 đồng. Hai bên có ký kết Văn bản thỏa thuận đứng tên quyền s
dụng đất, được Văn phòng công chứng L công chứng số 1811, quyển số 01-2014-
TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 23/5/2014.
Ngày 14/7/2014, ông Q được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Long An cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BS 907424, số vào sCH 04307, thửa
đất 214, tbản đồ số 3, diện tích 480m
2
(gồm 300m
2
đất ONT 180m
2
đất trồng
cây lâu năm).
Ngày 25/9/2014, vợ chồng ông Nguyễn Trung Q, Thị Xuân L kết Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Thị T, được Văn phòng công
chứng L công chứng số 3693, quyển số 01-2014-TP/CC-SCC/HĐGD, thửa đất số
3753 (tách ra từ thửa 214), tờ bản đồ số 3, diện tích 151m
2
.
Ngày 07/10/2014, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện L cập nhật
biến động tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 907424, số vào sổ CH
04307 của ông Q, nội dung: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Thị T,
diện tích 151m
2
, số thửa 3753, diện tích còn lại 329m
2
(gồm 149m
2
loại đất ONT
180m
2
loại đất CLN), số thửa 214”.
Phần đất này, gia đình ông Q đã quản sử dụng ổn định tnăm 1996 cho đến
nay, không ai tranh chấp ngăn cản. Hiện ông Q cùng vợ, con Thị Xuân L,
chị Nguyễn Thị Tình N đang quản lý, sử dụng
Trước yêu cầu của nguyên đơn thì ông Q không đồng ý. Đồng thời, ông Q, L
yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V
646681, số vào sổ GCN 02269 QSDĐ/0206-LA, thửa đất số 214, tờ bản đồ số 3, diện
tích 513m
2
(gồm 300m
2
đất ONT 213m
2
đất CLN), do Ủy ban nhân dân huyện L
cấp cho ông Võ Trí H ngày 31/7/2002.
Theo đơn khởi kiện ghi năm 2025 trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ
thẩm, bị đơn, Lê Thị T có yêu cầu phản t và trình bày:
6
Nguồn gốc thửa đất 316, tờ bản đồ số 30, diện tích 154,5m
2
, loại đất ONT (thửa
3753, được tách ra từ thửa 214, tờ bản đsố 3) do nhận chuyển nhượng của
ông Nguyễn Trung Q bà Thị Xuân L vào ngày 25/9/2014. Giá chuyển nhượng
ghi trong hợp đồng 38.000.000 đồng, nhưng thực tế giá chuyển nhượng là
290.000.000 đồng. Hợp đồng được Văn phòng công chứng Bến Lức công chứng số
3693, quyển số 01-2014-TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 25/9/2014.
Ngay sau khi kết Hợp đồng, đã giao cho ông Q, L số tiền 290.000.000
đồng và ông Q, bà L đã giao đất cho bà sử dụng. Hiện trạng thửa đất thời điểm đó
01 nhà tole đã cũ kỹ và không còn giá trị sử dụng, còn lại là đất trống. Sau đó, bà xây
hàng rào bao quanh. Đến năm 2014, xây dựng 01 căn nhà cấp 4 trên đất. Năm
2018, bà tiến hành sửa chữa thêm cho hoàn chỉnh như hiện nay.
Ngày 21/10/2014, bà được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 3753, tờ bản đồ số 3, diện tích 151m
2
, loại đất ONT.
Ngày 21/4/2015, Đơn xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa 3753, tbản đồ số 3, diện tích 151m
2
, loại đất ONT trở thành thửa mới 316, tờ
bản đồ số 30, diện tích 154,5m
2
; loại đất ONT. Ngày 01/6/2017, được Sở Tài
nguyên i trường tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD
480596, thửa đất 316, tờ bản đồ số 30.
Hiện nhà, đất do bà cùng chồng và con bà là ông Lê Văn A, anh Lê Hoàng Nhựt
G, sinh năm 1996 đang quản lý, sử dụng. Ngoài ra, không còn ai khác.
Nay trước yêu cầu của ông H, không đồng ý, vì bà ngưi th ba ngay tình,
nhận chuyển nhượng hợp pháp thửa đất 316 t ông Nguyn Trung Q.
Trong trưng hợp a án tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nng quyền sử dụng
đất giữa ông Nguyễn Trung Q vào ngày 25/9/2014, được Văn phòng ng chứng
Bến Lức ng chứng số 3693, quyển số 01-2014-TP/CC-SCC/HĐGD, đối với thửa
3753, tờ bản đồ số 3, bà u cầu a án gii quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu theo
quy định của pp lut.
Theo đơn phản tố ghi ngày 20/02/2025 trong quá trình giải quyết vụ án tại
cấp thẩm, ngưi quyền lợi, nghĩa vliên quan có u cầu độc lập Thị
Xuân L trình bày: bà vợ của ông Nguyễn Trung Q. Hiện vợ chồngng con gái là
Nguyn Thịnh N đang sinh sống tn thửa đất 214, tờ bản đồ số 3. Tn đất có 01 căn
nhà cấp 4, do vợ chồng xây dựng từ năm 1996. Trong quá trình giải quyết, bà hoàn
toàn thống nht với ý kiến và u cầu khởi kiện của ông Q.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tnhy
Huỳnh Hồng N trình bày: bà là vợ ca ông Phạm Văn Đ (đã chết). Phần
đất tranh chấp trước đây do vông H bà O nợ tiền của vchồng , do thời
gian q lâu nên số tiền bao nhu, bà cũng không nhớ rõ. Khi bvỡ nợ, bà O b đi,
ông H giao cho vợ chồng bà thửa đất y đkhấu trừ nợ ông H cũng bỏ đi đâu
không ai biết, việc giao đất không làm giấy tờ gì, thời điểm đó ông H giấy tờ đất
hay kng thì bà kng biết. Ông, bà đến nhận đất và vào tnăm 1995, trên đất
7
một chòi . Ngày 23/4/1996, ông Đ chuyển nhượng lại thửa đất trên cho ông
Nguyễn T T. Cũng năm 1996, ông T cho ông Nguyễn Trung Q và Nguyễn Thị
Th L phần đất tn. Sviệc sau đó như thế nào t kng.
Ông Phan Văn T tnh bày: nguồn gốc thửa đất 214, tờ bản đồ số 3 của vợ
chồng ông Trí H. Khoảng trước năm 2000, vợ ông H O bvỡ hụi nợ
tiền của ông Phan Văn Đ. Sau đó, O bỏ đi, tài sản của O ông H chỉ còn lại
duy nhất là thửa đất trên nên ông Đmới lấy đất để cấn trừ nợ. Ngày 23/4/1996, ông Đ
chuyển nhượng lại thửa đất trên cho ông Nguyễn Trí T (là cha vợ của ông). Ông xác
định thửa đất ghi trong Giấy bán đất nêu trên chính thửa đất 214, tờ bản đồ s3.
Ông Tđã giao đủ tiền cho ông Đ ông Đ cũng đã giao đất cho ông T sử dụng. Thời
điểm chuyển nhượng, ông Đ chưa được cấp giấy tờ về quyền sử dụng đất, hiện
trạng đất 01 căn nhà đã mục nát 01 chuồng heo do ông H xây dựng nhưng
không còn ai sử dụng sinh sống. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông T cho lại con
trai ông Nguyễn Trung Q và con gái Nguyễn Thị Thúy L (vợ của ông) quản lý,
sử dụng thửa đất nêu trên.
Ngày 23/5/2011, ông Q và ông được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số BC 891747 và BC 891748, cùng sử dụng chung thửa đất
số 214, tờ bản đồ số 3, diện tích 480m
2
(trong đó 300m
2
đất tại nông thôn
180m
2
đất trồng cây lâu năm).
Ngày 26/02/2014, vchồng ông chuyển nhượng lại thửa đất trên cho ông Q với
giá 95.000.000 đồng theo Văn bản thỏa thuận đứng tên quyền sử dụng đất, được Văn
phòng công chứng L công chứng số 1811, quyển số 01-2014-TP/CC-SCC/HĐGD,
ngày 23/5/2014.
Ngày 14/7/2014, ông Q được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BS 907424, số vào sổ CH 04307, thửa đất 214, tờ bản đồ s3,
diện tích 480m
2
(gồm 300m
2
đất ONT và 180m
2
đất trồng cây lâu năm).
Nay ông không còn liên quan gì đối với thửa đất trên nên trước yêu cầu của ông
H về việc: Vô hiệu Văn bản thỏa thuận đứng tên quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn
Trung Q, Thị Xuân L ông, Nguyễn Thị Thúy L được Văn phòng công
chứng L công chứng số 1811, quyển số 01-2014-TP/CC-SCC/HĐGD ngày
26/02/2014 thì ông không đồng ý.
Bà Nguyễn Thị Thuý L tnh bày: bà là vợ của ông Phan Văn T. Bà thống nhất
toàn b nội dung trình bày của ông T, không bsung thêm. Trong v kiện này,
không ý kiến yêu cầu .
Ông Nguyễn Trí Tr, bà Nguyễn Thị Ngọc Th, Nguyễn Ngọc B thống nhất
trình bày: các ông, con của ông Nguyễn T T. Theo c ông, được biết t
phần đất này trước đây do O (vợ ông H) ntiền của v chồng ông Đ. Khi vỡ n,
O bđi, ông H giao cho vchồng ông Đ thửa đất y đkhấu trừ nợ ông H
ng bỏ đi đâu không ai biết. Sau khi nhận phần đất này thì ông Đ bán lại cho ông
T. Sau đó, ông T cho lại ông Q L. Các ông, thấy ông Q, bà L có cất một
căn nhà lá ở tn đất tđó đến nay. Trong vkiện này, các ông, không ý kiến
8
yêu cầu .
Ông Lê Văn A anh Hoàng Nhựt G trình bày: ông A chồng, anh G là
con của Lê Thị T, hiện đang sinh sống tại n đất thuc thửa 316, tờ bản đ
số 30, p 1B, xã P, huyện L, tỉnh Long An. Trong vụ kiện này, ông A anh G
không ý kiến và yêu cầu gì.
Tại Bản án dân sự thẩm số 35/2026/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4-Tây Ninh đã xử:
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 273
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 193, Điều 688, Điều 689 Bộ Luật Dân sự
năm 2005; Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015; c Điều 100, Điếu 101, Điều 106, Điều
167 Luật Đất đai 2003; Điều 166, Điều 170, Điều 188, Điều 202 Điều 203 của
Luật Đất đai 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Trí H, về
việc:
1.1. Vô hiệu “Giấy bán đất” (viết tay) ngày 23/4/1996.
1.2. hiệu Văn bản thỏa thuận đứng tên quyền sử dụng đất được kết giữa
ông Nguyễn Trung Q, Thị Xuân L ông Phan Văn T, Nguyễn Thị Thúy L
vào ngày 26/02/2014 được Văn phòng công chứng Bến Lức công chứng số 1811,
quyển số 01-2014-TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa 214, tờ bản đồ số 3, diện tích
480m
2
(gồm 300m
2
loại đất ONT 180m
2
loại đất CLN), tọa lạc ấp 1B, TP,
huyện L, tỉnh Long An.
1.3. hiệu Hợp đồng chuyn nhượng quyn sử dụng đất giữa ông Nguyn Trung
Q, bà Lê Thị T o ny 25/9/2014 được công chứng tại Văn phòng công chứng L, số
ng chứng 3693, quyển s01-2014-TP/CC-SCC/GD, đối với thửa 3753, tờ bản đ
số 3 (thửa cũ số 214, tbản đsố 3), din ch 151m
2
, loại đất ONT.
1.4. Hủy Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất số BS 907424, số vào s: CH 04307,
do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho ông Nguyn Trung Q ngày 14/7/2014, được Chi
nhánhn phòng đăng đất đai tại huyện L cập nhật biến độngo ngày 07/10/2014,
thửa đất số 214, tbản đồ số 3, diện tích 329m
2
(gồm 149m
2
loi đất ONT 180m
2
loại đt CLN).
1.5. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 626083, số vào sổ GCN:
CS 12887 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 22/9/2017 cho ông
Nguyễn Trung Q, thửa đất 358, tờ bản đồ số 30 (tách từ thửa 214, tờ bản đồ số 3),
diện tích 149m
2
, loại đất ONT.
1.6. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 480596, so sổ cấp giấy
chứng nhn: CS 11000, do Sở i nguyên và i trưng tỉnh Long An cấp cho bà
Thị T ngày 01/6/2017, thửa đất 316, tờ bản đồ số 30, diện ch 154,5m
2
, loại đất ONT
(thửa cũ số 3753 ch ra từ thửa đất số 214), tờ bản đồ số 3, diệnch 151m
2
, loại đất
9
ONT.
1.7. Yêu cầu ông Nguyễn Trung Q, bà Lê Thị Xuân L phải tháo dỡ, di di tài sản
trên đất đtrả lại quyền sdụng đất cho ông T H phần đất thuộc 214, tbản đsố
3 và thửa 358, t bản đsố 30.
1.8. Yêu cầu bà Thị T phải tháo dỡ, di dời tài sản tn đất để trlại quyền sử
dụng đt cho ông Võ T H thửa đất s316, tờ bản đsố 30.
Địa chỉ các thửa đất trên: p 1B, xã P, huyện L, tỉnh Long An.
(Vtrí, diện tích đất đo đạc thực tế công trình trên đất đưc th hiện tại Mảnh
trích đo địa chính số 339-2024 do Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú thực
hiện ngày 08/10/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện L duyệt
ngày 16/10/2024).
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Trung Q yêu cầu độc
lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Xuân L.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V646681, số vào sổ GCN: 02269
QSDĐ/0206-LA, thửa đất số 214, tờ bản đồ số 3, diện tích 513m² (gồm 300m² đất
tại nông thôn và 213m² đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp 1B, xã P, huyện L, tỉnh
Long An (nay là L, tỉnh Tây Ninh), do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày
31/7/2002 cho ông Võ Trí H.
3. Kể từ ngày bản án này hiệu lực pháp luật thì quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2024/QĐ-BPKCTT ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân
dân Khu vực 4 Tây Ninh và Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời số 01/QĐ-TA ngày 23/7/2024 bị hủy bỏ.
4. Vchi ptố tụng: Tổng cộng 45.676.000 đồng, ông Nguyễn Trung Q tự
nguyện chịu 15.000.000 đồng. Buộc ông Trí H chịu 30.676.000 đồng (đã nộp và
chi xong).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
5.1. Ông Võ Trí H được miễn án phí.
5.2. Hoàn trả cho bà Lê Thị T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu số 0003251, ngày 11/02/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, việc thi
hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/4/2026, nguyên đơn, ông Trí H đơn kháng o toàn bộ bản án
dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Ngô Hoàng Q trình bày: ông Đ chuyển nhượng đất cho ông T theo Giấy
tay bán đất ghi năm 1996, căn cứ vào giấy tay này thì ông Q được cấp GCNQSDĐ,
nên quy trình cấp GCNQSDĐ cho ông Q không đúng theo quy định của Nghị định
số 43/2014/NĐ-CP Thông số 24/2014/TT-BTNMT của BTài nguyên Môi
10
trường; Điều 98 và Điều 105 của Luật Đất đai năm 2013. Ông H sử dụng đất từ trước
năm 1975 cho đến khi được cấp GCNQSDĐ năm 2002 thì mới bỏ địa phương đi làm
ăn xa. Bản án sơ thẩm nhận định gia đình ông H không chứng minh được quá trình sử
dụng đất liên tục là không đúng, vì bị đơn và người liên quan đã thừa nhận nguồn gốc
đất là của ông H, được cán bộ địa chính xã là ông M và UBND xã xác nhận quá trình
sử dụng đất của ông H. Mặc dù ông H xác định có nợ nhiều người, nhưng không thừa
nhận có nợ ông Đ và có gán đất trừ nợ cho ông Đ.
Đặng Thị Thành Đ trình bày: lời khai không chứng cứ duy nhất đgiải
quyết vụ án. Bị đơn xác định đất của ông T cho, nguồn gốc đất ông Tmua của
ông Đ giấy tay, hiện nay ông Đ đã chết. Nguyên đơn không chứng minh được có
việc ngăn cản lúc ông Q sử dụng, cất nhà trên đất.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của ông Trí H đủ điu kiện để xem xét theo
trình t phúc thm.
Về nội dung: ông H căn cứ vào đất được cấp GCNQSDĐ, nhưng tại Công văn
số 3253/UBND-PKT ny 10/12/2025, Ủy ban nhân dân L, tỉnh y Ninh xác
định ông H bđịa phương đi tnăm 1996 n việc cấp GCNQS cho ông H vào
m 2002 là không đúng. Ông Q, bà T đã xây dựng nhà kiên c và s dụng ổn
định, liên tục, ông H hoàn toàn kng phản đối gì, nên Tòa án cấp thẩm bác yêu
cầu khởi kiện của ông H căn cứ. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn, ông Trí H thực hiện đúng theo quy định tại
Điều 271, Điều 272, Điều 273 Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Trí
H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; ông Nguyễn Trung Q
Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố; Thị Xuân L giữ nguyên yêu cầu độc
lập. Các đương sự không tthỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án
được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Việc xét xử vắng mặt các đương sự: ông Trí H ông Nguyễn Trung Q
vắng mặt, nhưng người đại diện theo ủy quyền ông Ngô Hoàng Q Đặng
Thị Thành Đ mặt; Thị Xuân L, ông Văn A, anh Hoàng Nhựt G, ông
Phan Văn T, Nguyễn Thị Thúy L, Nguyễn Ngọc B, Nguyễn Thị Ngọc Th,
ông Nguyn Trí Tr, Huỳnh Hồng N, Văn phòng công chứng Bến Lc, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã L và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh vng mặt, nhưng
văn bản đ ngh xét x vng mt. Bà Th T, ch Nguyn Th Tình N,
Nguyn Th Ngc D, Nguyn Th Thy Tr, Nguyễn Thị Thanh Th, ông Phm
Minh Nh, Phạm Đài L, đã được triu tp hp l ln th hai nhưng vắng mt. Căn
cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
11
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: nguyên đơn, ông Võ Trí H kháng cáo toàn b
bản án thẩm. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm
xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
[4] Về quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết: căn cứ đơn khởi
kiện của nguyên đơn ông Trí H, yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Trung Q
Lê Thị T, yêu cầu độc lập của Thị Xuân L, Tòa án cấp thẩm xác định
quan hệ pháp luật trong vụ án “tranh chấp quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thụ giải quyết, là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Căn cứ cho yêu cầu khởi kiện, kháng cáo của ông H: ông H cho rằng, thửa
đất số 214 nguồn gốc của mẹ ruột của ông H cụ Thị Stặng cho ông H
đã sử dụng ổn định, liên tục từ khi được tặng cho đất vào năm 1973, đã được Ủy
ban nhân dân huyện L, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào
ngày 31/7/2002. Do đi làm xa từ năm 2002 đến năm 2024, không địa phương
nên ông H không kịp thời phát hiện về việc ông Q, bà L, bà T sử dụng thửa 214.
Xét kháng cáo trình bày của ông Trí H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận
thấy rằng:
[6] Về nguồn gốc đất thửa 214 và quá trình quản lý, sử dụng đất:
[6.1] Ông H đã thừa nhận rằng, cụ S chưa được quan nhà nước thẩm
quyền cấp bất kỳ giấy tờ vquyền sử dụng đất đối với thửa 214 việc tặng cho đất
thửa 214 giữa cụ S ông H không giấy tờ gì. Theo hồ khai đăng cấp
GCNQSDĐ thửa 214 cho ông H vào năm 2002 thể hiện, tại “Đơn xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất” ghi ngày 25/12/2001 (bút lục số 114), ông H khai nguồn
gốc đất “đất công điền”. Như vậy, trình bày của ông H về nguồn gốc thửa 214
không nhất quán.
[6.2] Tuy nhiên, theo trình bày của những người thừa kế của ông Nguyễn Trí T
(gồm ông Nguyễn Trung Q, ông Nguyễn Trí Tr, bà Nguyễn Thị Ngọc Th,
Nguyễn Ngọc B, Nguyễn Thị Thúy L) người thừa kế của ông Phạm Văn Đ
Huỳnh Hồng N (vợ của ông Đ), thì khoảng năm 1995-1996 do vcủa ông H (n
thường gọi Hai Oanh) nợ tiền của ông Đ, n ông H giao đất thửa 214 cho
ông Đđkhấu trnợ; sau đó, vợ chồng ông H bỏ đa phương đi đâu không rõ. Bà
Huỳnh Hồng N ng thừa nhận, việc giao đất trừ n không làm giấy tờ gì, nhưng
vợ chồng bà đã nhận đất o từ năm 1995, trên đất một chòi lá của chủ
(bút lục s 230). Nvậy, mốc thời gian và tình tiết các n đương sự đã thng
nhất theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng n sự, là từ năm 1996 trở v trước
thì thửa 214 do ông H quản, sử dng.
[6.3] Huỳnh Hồng N xác định rằng, ông Tđã trả đủ tiền vợ chồng đã
giao đất cho ông T sử dụng từ năm 1996 (bút lục số 229, 230). Cho đến khi ông Đ
chết hiện nay, thì N hoàn toàn không tranh chấp về việc chuyển nhượng đất
cho ông T được xác lập theo giấy tay “Giấy bán đất” ngày 23/4/1996. Các con của
12
ông T thống nhất trình bày, sau khi nhận chuyển nhượng, ông T giao lại cho 2 con
ông Nguyễn Trung Q Nguyễn Thị Thúy L cùng sử dụng đất. Tòa án cấp
thẩm đã thu thập lời khai của những người dân sinh sống gần thửa đất 214 gồm ông
Hoàng M, ông Phạm Văn B, thì những người này đều trình bày rằng, phần đất
thửa 214 gia đình ông H sử dụng đến khoảng năm 1995-1996 do vợ ông HO bị
vỡ hụi nợ tiền ông Đ, khi vỡ hụi O bỏ đi, ông H giao thửa đất này cho ông Đ để
cấn trừ nợ, sau đó ông Đ bán lại đất cho ông T; ông T cho ông Q, L (vợ ông T)
phần đất này sử dụng đến nay; vài năm sau thỉnh thoảng vợ, con ông H về đi
ngang qua đất nhà vợ của ông H gần đó (các bút lục 213, 214). Kết quả xem
xét, thẩm định tại chhiện trạng đất tranh chấp do Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện vào
ngày 16/8/2024 kết quả đo đạc tại Trích đo số 339-2024 thể hiện trên phần đất
tranh chấp có nhà và công trình vật kiến trúc do ông Nguyễn Trung Q và bà Lê Thị T
xây dựng và đang trực tiếp quản lý sử dụng (các bút lục số 259-261, 318).
[6.4] Thời điểm năm 1996 khi ông Đ lập giấy tay “Giấy bán đất” cho ông T, thì
ông H vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ và chưa phát sinh tranh chấp gì với ông T, ông
Đ ông H. Theo ông H trình bày, cho đến năm 2002 ông mới bỏ địa phương đi,
nhưng, hồ sơ vụ án thể hiện, từ năm 1996 đến năm 2002 ông H không cung cấp được
bất kỳ giấy tờ, tài liệu chứng minh tranh chấp đối với việc ông Đ sử dụng đất
thửa 214 sau đó chuyển nhượng lại cho ông T. Như vậy, việc ông T nhận chuyển
nhượng thửa 214 tại thời điểm năm 1996 từ ông Đ là hoàn toàn ngay tình.
[7] Vquá trình kê khai, đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
[7.1] Theo hồ cấp GCNQScho ông H thể hiện: ngày 25/12/2001, ông H
làm Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 31/7/2002, ông H được
Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
phát hành V646681, số vào s02269 đối với thửa 214, tờ bản đồ số 3 P, diện tích
513m
2
(gồm 300m
2
đất ONT, 213m
2
đất CLN). Việc cấp GCNQSDĐ cho ông H căn
cứ vào đơn khai của người dân, không đo đạc thực tế, không biên bản thẩm tra
hiện trạng sử dụng đất (các bút lục số 114, 365, 378-384).
[7.2] Theo hồ cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Trung Q thể hiện: nguồn gốc
đất thửa 214 là của cha ruột của ông Q ông Nguyễn Trí T nhận chuyển nhượng từ
ông Phạm Văn Đ, theo giấy viết tay “Giấy bán đất” ghi ngày 23/4/1996 (bút lục số
195). Theo Bản tường trình nguồn gốc đất của ông Phan Văn T (chồng L) ông
Q ghi cùng ngày 16/6/2010, được Ủy ban nhân dân xã tên đóng dấu xác nhận, các
đương sự khai nhận sử dụng đất ổn định từ ngày 19/3/1999 (các bút lục số 370, 371).
Đến ngày 23/5/2011, ông Q ông Phan Văn T được Ủy ban nhân dân huyện L cấp
GCNQSDĐ số BC 891747 và BC 891748, cùng sử dụng chung thửa đất số 214, gồm
300m
2
đất tại nông thôn 180m
2
đất trồng cây lâu năm (các bút lục số 367, 368),
trong đó, “công nhận quyền sử dụng đất như giao đất thu tiền sử dụng đất (300)
và công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất (180)”.
[8] Tại Công văn số 1598/CV-UBND ngày 24/12/2024, UBND P, huyện L,
tỉnh Long An xác định “1/ Nguồn gốc quá trình sử dụng phần đất thuộc thửa đất
số 214 tờ bản đồ số 3, tại ấp 1B, P. Trước năm 2000 ông Trí H sinh sống tại
13
phần đất trên, sau đó ông bỏ dịa phương đi nơi khác sinh sống. Khoảng từ năm 2000
đến nay ông Nguyễn Trung Q sinh sống tại phần đất trên,…”.
[9] Tại Công văn số 3253/UBND-PKT ngày 10/12/2025 (t lục số 365), Ủy
ban nhân dân xã Bến Lức, tỉnhy Ninh cung cấp thông tin và kết quả xác minh v
quá trình cấp GCNQS cho ông H và ông Q như sau:
[9.1] sở để UBND huyện L cấp GCNQSDĐ thửa 214 cho ông Võ Trí H
“căn cứ vào đơn xin đăng cấp giấy CNQSDĐ ngày 25/12/2001 của ông TH,
biên bản xét duyệt của hội đồng đăng đất đai P, văn bản số 134/TT-UB ngày
20/5/2002 của UBND P, danh sách ngày 13/05/2002 của UBND P.” Tuy
nhiên, cũng tại Công văn số 3253/UBND-PKT thể hiện kết quả c minh cho thấy
“Trước đây gia đình ông H sinh sống tại thửa đất 214 tờ bản đồ số 3, tuy nhiên
sau khi gia đình ông H vỡ nợ (bể hụi), thì gia đình ông H đã rời khỏi địa phương đi
nơi khác sinh sống. Ông Phạm Văn Đ liên hệ gia đình ông H để đòi nợ ông Đ đã
đưa thêm cho gia đình ông H một số tiền để lấy phần đất của gia đình ông H, từ đó
gia đình của ông Đ sinh sống trên thửa đất đó từ trước năm 1990, đến năm 1996 ông
Đ chuyển lại thửa đất trên cho ông Nguyễn Văn Tiết. Do đó, vào năm 2002 ông
Trí H thực hiện đăng ký cấp giấy CNQSDĐ là không đúng quy trình, không đúng quy
định pháp luật tại thời điểm cấp giấy CNQSDĐ.”
[9.2] Đối với việc cấp GCNQSDĐ cho ông Q, t UBND L đãc minh thể
hiện: Ngày 16/6/2010 ông Nguyễn Trung Q và Phan Văn T đến UBND P lập
thtục cấp giấy CNQSDĐ thửa đất s 214 tbản đồ 3, diện ch 480 m
2
(300m
2
đất ONT, 180m
2
đất CLN). Sau khi kiểm tra hồ sơ cấp giy c minh t nguồn
gốc thửa đất trên là của ông Nguyễn Văn T nhận chuyển nhượng của ông Phạm
n Đ ngày 23/4/1996 sau đó ông Nguyễn Văn T cho lại ông Nguyễn Trung Q
ông Phan Văn T đăng cấp giấy CNQSDĐ. Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Võ Trí
H; ông Nguyễn Trung Q và ông Phan Văn T đã bị trùng nhau về số thửa, số tờ bản đồ
vị trí thửa đất, theo văn bản giải trình từ ông Trần Hoàng M (năm 2010 công
chức địa chính P) do vào năm 2010 Văn phòng đăng đất đai tại huyện L thu
tất cả các sổ địa chính sổ mục đất để chỉnh biến động nên không kiểm tra
được thửa 214 tờ bản đồ số 3 có cấp giấy cho ai chưa.
[10] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp kết quả thu
thập chứng cứ do Tòa án cấp thẩm thực hiện, tại đoạn [4], [5] đoạn [6] phần
nhận định của bản án thẩm, Tòa án cấp thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện v
nguồn gốc đất, quá trình quản sử dụng, khai đăng cấp GCNQSDĐ, từ đó
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, căn cứ, đúng quy định
tại khoản 1 Điều 100, Điều 101, Điều 167 của Luật Đất đai m 2013; Điều 117 của
Bộ luật Dân sự m 2015. Ông H kháng o, nhưng không cung cấp được chứng cứ
mới để chng minh, n không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận
kháng cáo ca ông H.
[11] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, được chấp nhận.
[12] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận, lẽ ra ông
Trí H phải chịu án phí phúc thẩm, nhưng do ông H người cao tuổi yêu
14
cầu xét miễn nộp tạm ứng án phí án phí, nên thuộc trường hợp được miễn án phí
theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Ông H đã được miễn nộp tạm
ứng án phí phúc thẩm nên không tuyên hoàn trả.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12,
Điều 29 của Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, ông Võ Trí H.
3. Giữ nguyên Bản án dân sthẩm số 35/2026/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4-Tây Ninh.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Võ Trí H được miễn toàn bộ.
5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
6. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo
quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân snăm 2025 thì người được thi hành án,
người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7
36 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 4-Tây Ninh;
- Phòng
THADS
khu vực 4-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
15
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 931/2026/DS-PT Bản án số 931/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 931/2026/DS-PT Bản án số 931/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất