Bản án số 230/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 230/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 230/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 230/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà N kiện và T trả lại đất đã được cấp GCNQSDĐ cho bà N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 230/2026/DS-PT Bản án số 230/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 230/2026/DS-PT Bản án số 230/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH BC NINH
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp T do Hnh phúc
Bn án s: 230/2026/DS-PT
Ngày: 20 tháng 7 năm 2026
V/v Kiện đòi quyền s dụng đất và
tài sn gn lin vi đt
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Phạm Thị Chuyền
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú
Bà Triệu Thị Luyện
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường- Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Hà Thị Hải - Kim sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2026, ti tr s Tòa án nhân n tnh Bc Ninh m
phiên tòa xét x phúc thm công khai v án dân s th lý s 100/2026/TLPT-DS
ngày 14 tháng 5 năm 2026 v vic Kiện đòi quyền s dụng đất tài sn gn
lin với đất; do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 01 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vc 1- Bc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa án ra xét xử s 186/2026/QĐ-PT ngày 16 tháng 6 năm
2026, gia các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Phương N, sinh năm 1989; HKTT: Số nhà B,
phố T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: P, tòa N, chung cư
Đ, phường H, Thành phố Hà Nội.
- Bị đơn:Lương Thị T, sinh năm 1952; Địa chỉ: Số nhà E, ngõ I, đường
L, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Triệu Hạnh H, sinh năm 1954; địa
chỉ: số I H, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Trần Thị Bích N1, sinh năm 1960; Địa chỉ: P, tòa N, chung Đ,
phường H, thành phố Hà Nội.
2. Ông Nguyễn Bình D, sinh năm 1951; Địa chỉ: Số nhà E, ngõ I, đường L,
phường B, tỉnh Bắc Ninh.
2
3. Chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1979; Địa chỉ: tổ dân phố H, phường
B, tỉnh Bắc Ninh.
4. Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số E, ngõ I, đường L,
phường B, tỉnh Bắc Ninh.
5. Bà Đỗ Thị Thúy H1, sinh năm 1945;
6. Ông Nông Bằng R, sinh năm 1944;
7. Anh Nông Bằng S, sinh năm 1976;
8. Chị Vũ Thị H2, sinh năm 1978;
Cùng địa chỉ: Số I, đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
9. Ông Nông Văn B, sinh năm 1947;
10. Bà Tạ Thị H3, sinh năm 1955;
Cùng địa chỉ: Số B, ngách A, ngõ A đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
11. Ông Lương Xuân T1, sinh năm 1969;
12. Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1970;
13. Chị Lương Thị H4,
14. Anh Đinh Văn T3,
15. Chị Lương Thị H5,
16. Chị Lương Thị H6,
17. Chị Lương Thị Hồng T4,
Đều địa chỉ: Số A, ngách A, ngõ A đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
18. Bà Hà Thị H7, sinh năm 1963;
19. Anh Lương Xuân D1, sinh năm 1983;
20. Chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: Số B, ngách A, ngõ A đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
21. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1957;
22. Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1957;
Cùng địa chỉ: Số G, ngõ I, đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
23. Ông Đỗ Thành L1, sinh năm 1963;
24. Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1971
Cùng địa chỉ: Số I, đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị Lương Phương N
Trần Thị Bích N1 là: Luật sư Giáp Tuấn T8 Luật sư thuộc ng ty L3.VN; Địa
chỉ: Số B, đường Đ, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
3
- Người kháng cáo: Bị đơn Lương Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Bình D.
ơng Phương N, Lương Thị T, ông Triệu Hạnh H, Trần Thị Bích
N1, ông Nguyễn Bình D, chị Nguyễn Thị Hồng V, anh Nguyễn Thành L, Luật sư
Giáp Tuấn T8 có mặt; các đương sự khác vắng mặt.
NI DUNG V N
Theo các tài liệu trong hồ vụ án thì nội dung vụ án được xác định như
sau:
* Nguyên đơn chị Lương Phương N trình bày:
Sinh thời ông nội chị là cụ Lương Văn N2 (sinh năm 1920) và cụ Trần
Thị S1 sử dụng thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
tại thôn P,
phường D, TP . (nay phường B, tỉnh Bắc Ninh) từ những năm 1968 không
giấy tờ gì. Ngày 05/11/1975, ông nội chị là cụ Lương Văn N2 qua đời, đến ngày
02/3/1986 bà nội chị là cụ Trần Thị S1 qua đời, khi ông bà chị qua đời (không đ
lại di chúc) thì bố chị là người tiếp tục sử dụng thửa đất số 21 nói trên. Vì bố chị
được hưởng thừa kế toàn bộ đất của bố mẹ đ lại nên cuối năm 1995, sau khi anh
chị em bàn bạc, bố mẹ chị đã mua cho T thửa đất tại địa chỉ số nhà D đường
L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đ bà T ở. Đến ngày 18/4/2013, lập biên bản họp
gia đình đ đăng k thừa kế đất: Bố chị ông Lương Ngọc H8 và bác chị
Lương Thị T (là 02 người duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ N2 và cụ
S1) đã biên bản họp gia đình thống nhất giao cho bố mẹ chị ông Lương Ngọc
H8, bà Trần Thị Bích N1 được toàn quyền định đoạt, sử dụng đối với thửa đất số
21 đứng tên làm thủ tục đề nghị cấp thẩm quyền cấp GCNQSDĐ đối với
thửa đất số 21 mà ông bà nội chị đ lại.
Tháng 10/2016, bố mẹ chị là ông Lương Ngọc H8 và bà Trần Thị Bích N1
làm đơn đăng k cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 21,
tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
tại thôn P, phường D, TP . (nay là phường B,
tỉnh Bắc Ninh). Ngày 26/7/2018, UBND thành phố B đã cấp GCNQSDĐ số CM
663695, số vào sổ cấp GCN: CH 01907 Q25T123 mang tên bố mẹ chị - ông Lương
Ngọc H8 Trần Thị Bích N1 đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích
848,7m
2
nói trên. Sau khi bố mẹ chị được cấp GCNQSDĐ, vì bố mẹ chị công tác
tại Hà Nội, cuối tuần hoặc các dịp giỗ, tết, ngày nghỉ mới về quê nên bà T (chị gái
ông H8) đề nghị cho bà T nhờ trên thửa đất số 21 đ trông nom đất và tài sản
trên đất (gồm có: 01 ngôi nhà kiu cổ, gỗ xoan, lợp ngói; 01 nhà bếp; sân; cây cối
(nhãn, xoài, sung,...)) giúp bố mẹ chị. Vì  kiến của T hợp tình, hợp l nên
bố mẹ chị đồng , tuy nhiên sau này bố mẹ chị nhiều lần đề nghị T trả lại đất
nhưng T không trả. Ngày 11/3/2022, bố chị ông Lương Ngọc H8 đã chết,
khi chết bố chị không đ lại di chúc. Sau khi bố chị chết, mẹ chị - Trần Thị
Bích N1 và chị đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất
số 21, tờ bản đồ số 16 nói trên. Ngày 04/7/2022, Chi nhánh VPĐK đất đai thành
phố B đã đăng k chuyn tên chủ sử dụng đất trên GCNQSDĐ số CM 663695 từ
4
tên ông Lương Ngọc H8 Trần Thị Bích N1 sang tên mẹ chị - Trần Thị Bích N1
và chị - Lương Phương N.
Năm 2022, mẹ chị nghỉ công tác theo chế độ, nên nói với T là mẹ chị
có nguyện vọng về quê sinh sống, trông nom ncửa, thờ cúng tổ tiên nên đã yêu
cầu T trả lại nhà đất cho mẹ con chị nhưng T cố tình không trả lại đất, không
cho mẹ con chị vào nhà đ quản l nhà đất. Tháng 9/2022, mẹ chị là N1 làm
đơn đề nghị UBND phường D tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai với bà T. Ngày
15/11/2022, UBND phường D tổ chức hòa giải giữa mẹ chị (bà N1) và bà T. Ti
buổi hòa giải này mẹ chị đồng  tách cho bà T 400m
2
đất trồng cây lâu năm. Sau
đó, mẹ chị có thông báo lại kết quả hòa giải cho chị nhưng chị không đồng  như
vậy, vì vậy ngày 18/11/2022 mẹ chị và chị đã có đơn gửi UBND phường D trình
bày không đồng kết quả hòa giải ngày 15/11/2022. Ngày 23/11/2022, Trần
Thị Bích N1 đã lập hợp đồng tặng cho chị toàn bộ phần quyền sử dụng đất của
mẹ chị tại thửa đất s21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
, chị đã tiến hành đăng
k tại Chi nhánh VPĐK đất đai thành phố B, ngày 05/12/2022, Chi nhánh Văn
phòng đăng k đất đai thành phố B đã chỉnh l tên chủ sử dụng đất sang tên
nhân chtại mục IV của GCNQSDĐ số CM 663695. Sau đó, chị đã làm đơn đề
nghị UBND phường D tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai giữa chị và bà Lương
Thị T. Vào các ngày 20/4/2023 và ngày 15/6/2023, UBND phường D đã tổ chức
hòa giải giữa chị bà T, nhưng đều không thành. Ngày 20/6/2023, UBND
phường D công văn số 45/UBND-ĐC hướng dẫn chị khởi kiện đến Tòa án.
Nay chị khởi kiện yêu cầu bà Lương Thị T trả lại cho chị quyền sử dụng thửa đất
số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
(trong đó có 200m
2
đất ở và 648,7m
2
đất
trồng cây lâu năm) cùng
toàn bộ tài sản gắn liền với, tại TDP Kế, phường D, thành
phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn bà Lương Thị T trình bày:
Bố bà cụ Lương Văn N2, sinh năm 1920 mẹ là cụ Trần Thị S1,
sinh 1912 quản l, sử dụng thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16 tnăm 1967 do Hợp
tác xã giao cho nhưng không có giấy tờ gì về đất. Cụ S1, cụ N2 sinh thành được
02 người con ông Lương Ngọc H8, sinh năm 1953 (chết ngày 11/3/2022).
Trong quá trình quản l, sử dụng đất thì cụ N2 và cụ S1 có xây 01 căn nhà cấp 4
đ ở. Đến năm 1975 cụ N2 chết, năm 1986 cụ S1 chết; bà đã sinh sống cùng với
02 cụ ở trên thửa đất từ khi sinh ra đến thời đim hiện tại. Năm 1978 lấy chồng
cùng chồng ông Nguyễn Bình D quản l, xây dựng lại căn nhà cấp 4 cùng
toàn bộ công trình trên đất cũng như trồng toàn bộ cây cối trên thửa đất, vợ
chồng vẫn đóng thuế đất hàng năm. Em trai bà ông Lương Ngọc H8 sinh
sống và làm việc tại Hà Nội từ năm 1971. Trước khi chết cụ N2, cụ S1 không đ
lại di chúc. Đến ngày 18/4/2013, do sức khỏe của bà không đảm bảo, không hiu
biết nên ông H8 thỏa thuận với nhau đ ủy quyền cho ông H8 đi
khai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai chị em.
Đến năm 2018, thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lương Ngọc H8, bà Trần Thị
Bích N1 thì không được biết, vẫn nghĩ rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng
5
đất mang tên cả 02 chị em ông H8. Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì vợ chồng vẫn đang quản l, sử dụng. không nhất trí yêu cầu
khởi kiện của chị Lương Phương N bà xác định thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16
đất của bmẹ đ lại, tài sản chung của ông Lương Ngọc H8. Đối
với toàn bộ tài sản trên đất là vợ chồng bà quản l, sử dụng, xây dựng lên nên chị
N yêu cầu khởi kiện không nhất trí. Gia đình bà, chồng ông Nguyễn
Bình D, các con Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1979 lấy chồng năm 2005 đã
chuyn khẩu đến phường T và con Nguyễn Thành L, sinh năm 1981 hiện vẫn còn
hộ khẩu tại Số E, ngõ I, đường L, tổ dân phố K. xác định 02 con không
công sức đóng góp gì đối với tài sản trên thửa đất 21, tờ bản đồ số 16.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Thị Bích N1 trình bày:
vợ của ông Lương Ngọc H8, vợ chồng 01 người con gái
Lương Phương N. Ông Lương Ngọc H8 là con của cụ Lương Văn N2 và cụ Trần
Thị S1. Sinh thời bố, mẹ chồng cụ Lương Văn N2 (sinh năm 1920) cụ
Trần Thị S1 sử dụng thửa đất số 21, tbản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
tại thôn
P, phường D, TP . (nay số E ngõ I đường L, tổ dân phố K, phường D, thành phố
B) từ những năm 1968 không có giấy tờ gì về quyền sử dụng đất. Ngày
05/11/1975, cụ Lương Văn N2 chết; đến ngày 02/3/1986, cụ Trần Thị S1 qua đời,
khi cụ N2 và cụ S1 chết đều không đ lại di chúc. Sau khi cN2 cụ S1 chết thì
ông H8 là người tiếp tục sử dụng thửa đất số 21 nói trên. Vì ông H8 được hưởng
thừa kế toàn bộ đất đai, tài sản trên đất của bố mẹ đ lại. Cuối năm 1995, sau khi
anh, chị, em trong gia đình bàn bạc thống nhất, vợ chồng bà (H8 -N1) đã bỏ tiền
mua cho vợ chồng bà Lương Thị T, ông Nguyễn Bình D thửa đất tại địa chỉ số D
đường L, thành phố B đ vợ chồng T ở. Đến ngày 18/4/2013, ông H8
Lương Thị T đã họp gia đình đ phân chia di sản thừa kế đ đăng k kê khai thừa
kế đất, đã thống nhất: Ông Lương Ngọc H8 và bà Lương Thị T (là 02 người duy
nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ N2 cụ S1) thống nhất giao cho vợ
chồng được toàn quyền định đoạt sử dụng đối với thửa đất số 21 đứng tên
làm thủ tục đnghị cấp thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa
đất số 21 tại thôn P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang cụ N2 cụ S1
có sử dụng một phần sau khi chết đi đ lại.
Tháng 10/2016, vợ chồng Lương Ngọc H8 làm đơn đăng k cấp
GCNQSDĐ đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
tại thôn P,
phường D, TP . (nay là tổ dân phố K, phường D, TP .). Hồ sau đó được UBND
phường D niêm yết công khai, trong thời gian niêm yết vợ chồng T, ông D
địa phương biết rõ nhưng không có  kiến gì. Ngày 26/7/2018, UBND thành phố
B đã cấp GCNQSDĐ số CM 663695, số vào sổ cấp GCN: CH 01907 Q25T123
mang tên vợ chồng - Lương Ngọc H8, Trần Thị Bích N1 đối với thửa đất số
21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
tại thôn P, phường D, TP . nêu trên. Sau
khi vợ chồng bà được cấp GCNQSDĐ, do vợ chồng bà công tác tại Hà Nội, cuối
tuần hoặc các dịp giỗ, tết, ngày nghỉ mới về quê nên bà T (chị gái của chồng bà)
có đề nghị cho vợ chồng bà T ở nhờ trên thửa đất số 21 (vì thửa đất tại địa chỉ số
6
D đường L, thành phố B bà T đã cho thuê kinh doanh) đ trông nom đất tài sản
trên đất (gồm có: 01 ngôi nhà kiu cổ, gỗ xoan, lợp ngói; 01 nhà bếp; sân) gp
vợ chồng bà. Ý kiến của T hợp tình, hợp l nên vợ chồng đồng , tuy
nhiên sau này vợ chồng bà nhiều lần đề nghị vợ chồng bà T trả lại đất nhưng vợ
chồng bà T không trả. Ngày 11/3/2022, ông Lương Ngọc H8 chết, trước khi chết
không đ lại di chúc. Sau khi ông H8 chết, bà và con gái là Lương Phương N đã
làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế quyền sử dụng thửa đất s21, tờ bản đồ
số 16 nói trên. Ngày 04/7/2022, Chi nhánh VPĐK đất đai thành phố B đã đăng k
chuyn tên chủ sử dụng đất trên GCNQSDĐ số CM 663695 từ tên vợ chồng
sang tên bà - Trần Thị Bích N1 và con gái - Lương Phương N. Năm 2022, nghỉ
công tác theo chế độ, nên có nói với bà T bà có nguyện vọng về quê sinh sống,
trông nom nhà cửa, thờ cúng tổ tiên nên đã yêu cầu vợ chồng bà T trả lại nhà đất
cho mẹ con nhưng T cố tình không trlại đất, không cho mẹ con vào nhà
đ quản l nhà đất nữa. Tháng 9/2022, làm đơn đề nghị UBND phường D tổ
chức hòa giải tranh chấp đất đai với bà T. Ngày 15/11/2022, UBND phường D t
chức hòa giải giữa T. Tại buổi hòa giải này đồng tách cho bà T
400m
2
đất trồng cây lâu năm. Sau đó bà thông báo lại kết quả hòa giải cho chị N
nhưng chị N không đồng , vậy ngày 18/11/2022 và chị N đơn gửi UBND
phường D trình bày không đồng kết quả hòa giải ngày 15/11/2022. Ngày
23/11/2022, đã lập hợp đồng tặng cho chị Lương Phương N toàn bộ phần quyền
sử dụng đất của bà tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
, chị N đã
tiến hành đăng k tại Chi nhánh VPĐK đất đai thành phố B. Ngày 05/12/2022,
Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai thành phố B đã chỉnh l tên chủ sử dụng
đất của thửa đất số 21 sang tên nhân chị Lương Phương N tại mục IV của
GCNQSDĐ số CM 663695. Sau đó, chị N đã làm đơn đề nghị UBND phường D
tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai giữa chị N Lương Thị T. Vào các ngày
20/4/2023 và 15/6/2023, UBND phường D đã tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai
giữa chị N và T nhưng đều không thành. Nay chị N khởi kiện đến TAND thành
phố Bắc Giang (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh) đề nghị Tòa án:
Buộc Lương Thị T, ông Nguyễn Bình D trả lại cho chị Lương Phương N quyền
sử dụng thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
(trong đó 200m
2
đất
ở, 648,7m
2
đất trồng cây lâu năm) cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất (gồm: 01
ngôi nhà kiu cổ gỗ xoan lợp ngói, 01 nhà bếp; sân) tại tổ dân phố K, phường D,
thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố K, phường B, tỉnh Bắc Ninh) thì
bà hoàn toàn đồng với yêu cầu khởi kiện của chị N vì hiện nay chị N là chủ sử
dụng đất hợp pháp.
Ông Nguyễn Bình D trình bày: Nhất trí với quan đim trình bày của bà
Lương Thị T, ngoài ra ông không bổ sung  kiến nào khác.
Chị Nguyễn Thị Hồng V anh Nguyễn Thành L trình bày: Về nguồn
gốc thửa đất: Ông ngoại anh chị cụ Lương Văn N2 cụ Trần Thị S1
quản l, sử dụng thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16 từ năm 1967 do Hợp tác xã giao
cho nhưng không giấy tờ về đất. Cụ S1, cụ N2 sinh thành được 02 người con
Lương Thị T ông Lương Ngọc H8, sinh năm 1953 (chết ngày 11/3/2022).
Trong quá trình quản l, sử dụng đất thì cụ N2 và cụ S1 có xây 01 căn nhà cấp 4
7
đ ở. Đến năm 1975 cụ N2 chết, năm 1986 cụ S1 chết; T đã sinh sống cùng vi
02 cụ ở trên thửa đất từ khi sinh ra đến thời đim hiện tại. Năm 1978, ông Nguyễn
Bình D Lương Thị T lấy nhau sinh được 02 người con Nguyễn Thị
Hồng V và Nguyễn Thành L. Ông D bà Thực quản L2, xây dựng lại căn nhà cấp
4 cùng toàn bộ công trình trên đất cũng như trồng toàn bộ cây cối trên thửa đất,
hàng năm ông D T vẫn đóng thuế đất. Trước khi chết cụ N2, cụ S1 không đ
lại di chúc. Đến ngày 18/4/2013, do T sức khỏe không đảm bảo, T đã ủy
quyền cho ông H8 đi kê khai và đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng
tên hai chị em. Đến năm 2018, thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lương Ngọc H8,
Trần Thị Bích N1 thì anh chị không được biết, anh chị vẫn nghĩ rằng Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mang tên T ông H8. Khi cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì gia đình anh chị vẫn đang quản l, sử dụng. Anh chị không
nhất trí yêu cầu khởi kiện của chị Lương Phương N vì xác định thửa đất số 21, tờ
bản đồ số 16 là đất là tài sản chung của ông D, bà T và ông Lương Ngọc H8. Đối
với toàn bộ tài sản trên đất là ông D bà Thực quản L2, sử dụng, xây dựng nên chị
N yêu cầu khởi kiện anh chị không nhất trí. Anh chị xác định không có công sức
đóng góp đối với tài sản trên thửa đất 21, tờ bản đồ số 16 vì toàn bộ tài sản trên
đất là do ông D, bà Thực quản L2, sử dụng, xây dựng.
Quá trình giải quyết vụ án ngày 20/12/2023 Tòa án đã tiến hành xem xét
thẩm định tại chỗ và định giá tài sản có tranh chấp kết quả như sau:
* Định giá đất: Thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, tổ dân phố K đường L
(đoạn từ hết đường L đến đường V ng ty TNHH T10):
+ Đất ở: trị giá đất chuyn nhượng tại địa phương là 15.000.000 đồng/m
2
.
+ Đất trồng cây lâu năm: trị giá đất chuyn nhượng tại địa phương bằng
50% giá trị đất ở theo giá nhà nước quy định là 2.500.000 đồng/m
2
.
* Định giá tài sản trên đất:
- 01 nhà ở áp nhà cấp 4 loại 2 xây năm 1970 cải tạo lần cuối năm 1999 đã
hết khấu hao.
- Nbếp, nhà vệ sinh, kho bếp xây năm 1970 cải tạo lần cuối năm 1999
đã hết khấu hao.
- Mái che tôn dựng năm 2021 áp nhà tạm loại C còn 85% = 1.070.000 đồng
x 12,5m
2
x 85% = 11.368.750 đồng
- Cổng tường rào xây năm 2022 gạch chỉ 110cm bổ trụ (Có chiều cao
1,85m, chiều dài (1-26;26-25) = 18,13m) diện tích là 33,5m
2
còn 95% =
430.000 đồng x 95% x 33,5m
2
= 13.684.750 đồng.
- Tường rào phía sau khu vực bán mái xây dựng năm 1970 đã hết khấu hao.
- 02 cây nhãn đường kính 24cm = 1.364.000 đồng/01 cây x 2 cây =
2.728.000 đồng.
8
- 02 cây nhãn đường kính tán từ 5m-6m = 1.790.000 đồng/01 cây x 2 cây
= 3.580.000 đồng.
- 01 cây vải đường kính tán 3-3,5m = 2.281.000 đồng.
- 02 cây sung đường kính gốc >30cm = 519.000 đồng.
- 01 cây ổi đường kính 15cm = 1.270.000 đồng
- 02 cây xoài đường kính gốc >40cm = 1.118.000 đồng/cây x 2 = 2.236.000
đồng.
- 01 cây ổi đường kính 15cm = 1.270.000 đồng.
- 01 cây mít đường kính gốc 7cm = 353.000 đồng.
- 01 cây nhãn đường kính tán 1-1,5m = 318.000 đồng.
- 02 cây dâu đường kính >5cm = 25.000 đồng/cây x 2 = 50.000 đồng.
- 01 cây khế đường kính 10cm = 235.000 đồng.
- 02 cây khế đường kính 20cm = 415.000 đồng/cây x 2 = 830.000 đồng.
- 01 cây nhãn đường kính tán 7-8m = 2.642.000 đồng.
* Kết quả thẩm định đo vẽ hiện trạng thửa s21, tờ bản đồ số 16 (nay
thửa đất số 98, tbản đồ số 43) địa chỉ thửa đất: TDP Kế, phường D, thành phố
B; diện tích 816,4m
2
, diện tích giảm 32,3m
2
. Thửa đất có chiều dài các cạnh như
sau: 1-2 = 5,27m; 2-3 = 5,21m; 3-4 = 18,87m; 4-5 = 28,90m; 5-6 = 0,39m; 6-7 =
2,62m; 7-8 = 0,65m; 8-9 = 0,61m; 9-10 = 0,26m; 10-11 = 0,28m; 11-12 = 0,34m;
12-13 = 0,22m; 13-14 = 0,27m; 14-15 = 0,22m; 15-16 = 6,81m; 16-17 = 7,80m;
17-18 = 4,62m; 18-19 = 4,9m; 19-20 = 1,14m; 20-21 = 9,47m; 21-22 =0,73m; 22-
23 = 0,8m; 2324 = 2,93m; 24-25 = 5,91m; 25-26 = 10,51m; 26-1 = 7,62m.
Tại Bản án dân sự thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 01 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận cầu khởi kiện của chị Lương Phương N. Buộc bà Lương Thị
T ông Nguyễn Bình D phải trả lại cho chị Lương Phương N diện tích đất
816,4m2 thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16 Địa chỉ thửa đất: Tdân phố K,
phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang có hình thửa như sau: (1; 2; 3; 4; 5; 6; 7;
8; 9; 10; 11; 12; 13; 14; 15; 16; 17; 18; 19; 20; 21; 22; 23; 24; 25; 26).
Có kích thước cụ thnhư sau: 1-2 = 5,27m; 2-3 = 5,21m; 3-4 = 18,87m; 4-
5 = 28,90m; 5-6 = 0,39m; 6-7 = 2,62m; 7-8 = 0,65m; 8-9 = 0,61m; 9-10 = 0,26m;
10-11 = 0,28m; 11-12 = 0,34m; 12-13 = 0,22m; 13-14 = 0,27m; 14-15 = 0,22m;
15-16 = 6,81m; 16-17 = 7,80m; 17-18 = 4,62m; 18-19 = 4,9m; 19-20 = 1,14m;
20-21 = 9,47m; 21-22 =0,73m; 22-23 = 0,8m; 2324 = 2,93m; 24-25 = 5,91m;
25-26 = 10,51m; 26-1 = 7,62m.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
Giao cho chị Lương Phương N các tài sản gắn liền với diện tích 816,4m
2
thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16 cụ th gồm:
9
- 01 nhà áp nhà cấp 4 loại 2 xây năm 1970 cải tạo lần cuối năm 1999;
Nhà bếp, nhà vệ sinh, kho bếp xây năm 1970 cải tạo lần cuối năm 1999; Mái che
tôn dựng năm 2021; Cổng tường rào xây năm 2022 gạch ch110cm; Tường rào
phía sau khu vực bán mái xây dựng năm 1970; 02 cây nhãn đường kính 24cm; 02
cây nhãn đường kính tán từ 5m-6m;- 01 cây vải đường kính n 3-3,5m; 02 cây
sung đường kính gốc >30cm; 01 cây ổi đường kính 15cm; 02 cây xoài đường kính
gốc >40cm; 01 cây ổi đường kính 15cm; 01 cây mít đường kính gốc 7cm; 01 cây
nhãn đường kính tán 1-1,5m; 02 cây dâu đường kính >5cm; 01 cây khế đường
kính 10cm; 02 cây khế đường kính 20cm; 01 cây nhãn đường kính tán 7-8m.
- Chị Lương Phương N phải trả cho ông Nguyễn Bình DLương Thị
T số tiền: 43.884.500 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ
chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/4/2026, bị đơn Lương Thị T người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bình D kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm; đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
- Nguyên đơn chị Lương Phương N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không
đồng  với kháng cáo của bà T, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị đơn bà Lương Thị T do ông Triệu Hạnh H đại diện theo ủy quyền giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án thẩm do
nhiều vi phạm. T xác định k vào biên bản họp gia đình ngày 18/4/2013,
việc k vào biên bản này tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc gì. Tuy nhiên
cho rằng việc này chỉ y quyền đ cho ông H8 làm thủ tục xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông H8, N1 không đúng trình tự, thủ tục, đối tượng sử dụng, mục đích sử
dụng đất và nguồn gốc đất nên thuộc trường hợp phải thu hồi. Bà xác định bà sử
dụng thửa đất tranh chấp liên tục, ngay tình, công khai nên đủ điều kiện được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bình D giữ nguyên
kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Ông có k văn bản ngày 18/4/2013, chữ
viết trong văn bản là do ông H8 viết, việc ông k vào văn bản là tự nguyện.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành L chị
Nguyễn Thị Hồng V nhất trí với yêu cầu kháng cáo của Tông D.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Bích N1 nhất tvới
yêu cầu khởi kiện của chị N. Bà không đồng  với kháng cáo của bà T và ông D.
Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn luật Giáp
Tuấn T8 trình bày bản luận cứ đnghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của ông D và bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
10
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc
giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử Thư k phiên tòa đã thực hiện đúng quy
định của BLuật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp
luật dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 B
luật tố tụng dân sự, xử: không chấp nhận đơn kháng cáo của Lương Thị T
ông Nguyễn Bình D; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 01 tháng
4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh.
Lương Thị T ông Nguyễn Bình D được miễn án phí dân sự phúc
thẩm.
NHN ĐNH CA TÒA N
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm: Một số người tham gia tố tụng không kháng
cáo được triệu tập hợp llần thứ hai nhưng vắng mặt không l do bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ theo quy định tại Điều 296 Bộ luật ttụng
dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương
sự này.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn chị Lương Phương N yêu cầu Lương
Thị T và ông Nguyễn Bình D trả lại quyền sử dụng đất số CM 663695, số vào sổ
cấp CH 01907 đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích đất 848,7m
2
(trong
đó có 200m
2
đất ở, 648,7m
2
đất trồng cây lâu năm); Địa chỉ thửa đất: tổ dân phố
K, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay phường B, tỉnh Bắc Ninh) được
UBND thành phố B cấp cho ông Lương Ngọc H8 và bà Trần Thị Bích N1 trả
lại toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16.
[3] Về nguồn gốc thửa đất trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích đất 848,7m
2
(trong
đó có 200m
2
đất ở, 648,7m
2
đất trồng cây lâu năm); Địa chỉ thửa đất: tổ dân phố
K, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố K, phường B, tỉnh
Bắc Ninh): các bên đương sự đều xác định về nguồn gốc thửa đất nêu trên là của
cụ Lương Văn N2, cụ Trần Thị S1. Cụ N2 và cụ S1 sinh ra được 02 người con là
Lương Thị Tông Lương Ngọc H8. Ngoài ông H8Thực R1 thì cụ N2,
cụ S1 không có người con nào khác. Sau khi cụ N2 và cụ S1 chết không đ lại di
chúc.
Ngày 18/4/2013, Lương Thị T ông Lương Ngọc H8 đã biên bản
họp gia đình. Tại biên bản trên th hiện nội dung: “Bố mẹ chúng tôi đã mất hiện
để lại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
tại thôn P, D, thành
phố B. Đất ở nguồn gốc bố mẹ tôi sử dụng từ năm 1968, không giấy tờ. Nay
chúng tôi thống nhất giao cho ông Lương Ngọc H8 vợ là Trần Thị Bích N1
11
đứng tên làm thủ tục đề nghị cấp thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16, diện tích 848,7m
2
tại thôn P, xã
D, thành phố B được toàn quyền định đoạt thửa đất nêu trên”. Tại biên bản
ngày 18/4/2013 ông H8 và bà T đều đã k và có xác nhận của UBND xã D.
Tại đơn đề nghị ngày 18/4/2013 của ông Nguyễn Bình D th hiện: “Bố mẹ
vợ tôi có thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16 tại thôn P, xã D (tờ bản đồ năm 1998).
Sau khi bố mẹ vợ tôi chết gia đình tôi thống nhất để vợ tôi là Lương Thị T và tôi
trông nom. Năm 2009, đo đạc bản đồ địa chính thì thửa đất trên thuộc thửa đất
số 98, tờ bản đồ số 43 quy chủ tên Nguyễn Bình D. Nay tôi làm đơn đề nghị cơ
quan nhà nước thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trên cho em ruột vợ tôi Lương Ngọc H8. Biên bản trên xác nhận của
UBND xã D.
Tại công văn số 46/BC-UBND ngày 16/6/2016 của UBND phường D th
hiện về quan đim của UBND phường: Toàn bộ diện tích đất 847,7m
2
thuộc thửa
đất số 21, tờ bản đồ số 16 do hộ ông Lương Ngọc H8 quản l sử dụng ổn định từ
năm 1970 1980 đến nay. Về hồ sơ quản l đất quỹ đất công ích do UBND
phường quản l không có đất công ích nằm trong thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16,
diện tích 847,7m
2
UBND phường không căn cứ tranh chấp diện tích đất nêu
trên đối với hộ ông Lương Ngọc H8.
Tại công văn số 185/UBND-ĐC ngày 20/10/2016 của UBND phường D
th hiện: Ngày 20/6/2014, UBND phường tổ chức hội nghị lấy  kiến khu dân
về nguồn gốc thửa đất đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16. Tại hội nghị xác
định: Nguồn gốc đất do Hợp tác xã cấp đất ở cho hộ cN2 bố đẻ của ông Hiền
T9 trước năm 1970, không giấy tờ, sử dụng ổn định không tranh chấp. Ngoài
diện tích được Hợp tác xã cấp đất ở hộ cụ N2 có cơi nới thêm 12 thước = 288m
2
đất ùng vũng đã sử dụng ổn định tnăm 1980 đến nay, xung quanh thửa đất đã
xây dựng tường bao, sử dụng ổn định.
Tại công văn số 185/UBND-ĐC ngày 20/10/2016 của UBND phường D
cũng th hiện: Các ngày 14/01/2015 và ngày 23/9/2016, UBND phường tổ chức
hội nghị làm việc, giải quyết tranh chấp giữa ông Lương Ngọc H8 chủ sử dụng
đất và cán bộ ngành đoàn th tổ dân phố Kế, tại buổi làm việc tập th Tổ dân ph
Kế vẫn bảo lưu  kiến không cấp phần diện tích đất 288m
2
, tuy nhiên Tổ dân phố
Kế không cung cấp được hồ sơ tài liệu. Qua rà soát, về hồ sơ quản l đất quỹ đất
công ích do UBND phường quản l không có đất công ích nằm trong thửa đất số
21, tờ bản đồ số 16.
Tại quyết định số 576/QĐ-UBND ngày 12/02/2018 của UBND thành phố
B về việc công nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Ngọc H8, Trần Thị
Bích N1 trên địa bàn phường D. Tại Điều 1 của quyết định nêu trên th hiện: Công
nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Ngọc H8, Trần Thị Bích N1, địa chỉ
thường trú tại: phường T, T, Thành phố Nội, thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16
diện tích 848,7m
2
(Trong đó: 200m
2
đất ở, 648,7m
2
đất trồng cây lâu năm).
[4] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 21,
tờ bản đồ số 16. Hội đồng xét xử thấy: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
12
đất đối với thửa đất nêu trên đúng theo trình tự, thủ tục của pháp luật, sau khi
ông H8 N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có kiến
hay khiếu kiện về việc cấp giấy này. Việc T cho rằng chỉ k biên bản họp
gia đình với mục đích đ ông H8 làm thủ tục kê khai xin đăng k cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nhưng bà T không cung cấp được chứng cứ chứng minh.
Do đó, ông D T đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 21 là không căn cứ đ xem xét theo quy định tại Điều 34 Bộ luật t
tụng dân sự.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: ông Lương Ngọc H8 và bà Trần
Thị Bích N1 người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16; địa chỉ thửa đất: tổ dân phố K, phường D, thành
phố B; diện tích 848,7m
2
; nguồn gốc sdụng: Nhà nước công nhận quyền sdụng
đất. Ngày 11/3/2022, ông Lương Ngọc H8 chết. Ông H8 N1 01 người
con là chị Lương Phương N. Sau khi ông H8 chết, ngày 04/7/2022, bà N1 và chị
N đã đính chính trang 4 theo văn bản khai nhận di sản số 1204, quyn
02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD được văn phòng C công chứng ngày 06/6/2022.
Ngày 05/12/2022, chị Lương Phương N nhận tặng cho theo hợp đồng tặng cho s
6007, quyn số 05/2022/TP/CC-SCC/HĐGD được văn phòng C1 công chứng
ngày 23/11/2022. Như vậy chị Lương Phương N được quyền sử dụng đất đối với
toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 16.
Tại phiên tòa thẩm, chị Lương Phương N thay đổi nội dung yêu cầu khởi
kiện như sau: Chị yêu cầu T ông D phải trả cho chị diện tích đất 816,4m
2
.
Còn đối với diện tích đất được cấp trên giấy chứng nhận quyền sdụng đất
các hộ liền kề đang sử dụng thì chị sẽ khởi kiện bằng vụ án khác nếu không thỏa
thuận được.
Từ nhận định trên đây, thấy chị Lương Phương N yêu cầu T ông D
phải trả lại cho chị Lương Phương N diện tích đất 816,4m
2
căn cứ đ chấp
nhận.
[6] Đối với tài sản trên đất: Theo lời trình bày của các đương sự thì xác định
các tài sản trên đất do ông D và bà T tạo lập. Theo kết quả xem xét thẩm định tại
chỗ và định giá tài sản thì các tài sản trên đất có tổng trị giá 43.884.500 đồng. Do
yêu cầu khởi kiện của chị N được chấp nhận nên cần buộc chị N trả cho ông D và
bà T toàn bộ giá trị toàn bộ tài sản trên đất là phù hợp.
[7] Tuy nhiên, cấp thẩm thiếu sót khi thu thập tài liệu chứng cứ cần
nhắc tới, cụ th: khi tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, Tòa
án ghi nhận các hoạt động tố tụng trên trong cùng một biên bản là không phợp
với quy định của bộ luật tố tụng dân sự; nhưng xét thấy việc này không làm thay
đổi bản chất nội dung vụ án. Mặt khác, các đương sự có mặt tại buổi làm việc đều
đồng k vào biên bản, không khiếu nại hay yêu cầu xem xét, thẩm định, định
giá lại tại cấp sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần nhắc nhở, đề
nghị cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[8] Xét kháng cáo của bà Lương Thị T và ông Nguyễn Bình D:
13
Từ các nhận định trên đây, Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm tuyên
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Phương N phù hợp quy định của
pháp luật. Bà Lương Thị T và ông Nguyễn Bình D kháng cáo bản án sơ thẩm, đề
nghị Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do có nhiều vi phạm là không có căn
cứ đ chấp nhận. Cần giữ nguyên bản bản thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 01
tháng 4 năm 2026 của a án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh theo quy định tại
khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự như đề nghị của đại diện Viện kim sát
tại phiên tòa.
[9] Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bà
Lương Thị T ông Nguyễn Bình D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng
được miễn vì thuộc trường hợp người cao tuổi.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bđơn Lương Thị T người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bình D; giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực
1 - Bắc Ninh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Lương Thị T và ông Nguyễn Bình D được
miễn.
Bn án phúc thm có hiu lc k t ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Phạm Văn Triệu Thị Luyện
THẨM PHN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Chuyền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 230/2026/DS-PT Bản án số 230/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 230/2026/DS-PT Bản án số 230/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất