Bản án số 203/2026/DS-PT ngày 06/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 203/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 203/2026/DS-PT ngày 06/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 203/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 203/2026/DS-PT Bản án số 203/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 203/2026/DS-PT Bản án số 203/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Ông Nguyễn Quang Tuấn
Bà Hoàng Ngọc Liễu
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Phương Anh - Thư ký TAND tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Phú Thọ: Khà Thị Liên -
Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ -
sở 3, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ s114/2026/TLPT- DS
ngày 13/5/2026 về việc Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2026/DS - ST ngày 24 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 192/2026/QĐ-PT ngày
13 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Phạm Thanh H, sinh năm 1982; địa chỉ: phòng A,
nhà A, tập thể ủy ban K1, phường N, TP Hà Nội.
2. Bị đơn: Chị Bùi Thị B, sinh năm 1976; địa chỉ: xóm B, phường T, tỉnh
Phú Thọ.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Sinh D, sinh năm 1993; địa chỉ: TDP số A T, phường X,
TP Hà Nội.
+ Anh Nguyễn Hồng K, sinh năm 1973; địa chỉ: xóm B, phường T, tỉnh
Phú Thọ.
+ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; địa chỉ: xóm B, phường T, tỉnh Phú
Thọ.
4. Người kháng cáo: Bị đơn chị Bùi Thị B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Phạm Thanh H trình bày:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 203/2026/DS - PT
Ngày: 06 - 8 - 2026
V/v: Tranh chấp HĐ đặt cọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Ngày 07/3/2022 anh anh Nguyễn Sinh D cùng góp vốn nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất:
- Thửa số 539, tờ bản đồ số 60, diện tích 700m² (Trong đó 200m² đất
ở, 500m² đất trồng cây lâu năm), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB
775863 do UBND thành phố H cấp ngày 07/9/2010, số vào số cấp GCN
CH00019 đứng tên chị Bùi Thị B.
- Thửa số 44, tờ bản đồ số 14 do tỉnh Hòa Bình cấp ngày 20/9/1996 nguồn
gốc sử dụng nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B1 (Sau khi cấp đổi sổ
là thửa đất số 833, tờ bản đồ số 2 diện tích 4996,5m2 mục đích sử dụng đất rừng
sản xuất đứng tên Nguyễn Thị T, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI
770292 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 03/2/2023)
Cả hai thửa đều có địa chỉ xóm B, xã Y, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (Nay
m B, phường T, tỉnh PThọ). Hai bên đồng ý việc mua bán với giá
1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng) và anh đã đặt cọc cho chị Bùi
Thị B 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) trước, việc đặt cọc này được lập
thành văn bản, anh H đã giao số tiền 200.000.000 đồng cho chị Bùi Thị B ngay
sau khi ký hợp đồng đặt cọc, số tiền 900.000.000 đồng n lại sẽ được anh
anh D thanh toán khi các bên kết hợp đồng chuyển nhượng quyền dụng đất,
trong hợp đồng đặt cọc chỉ anh và chị Bùi Thị B tên xác nhận, anh D
không trực tiếp ký vào hợp đồng.
Tại hợp đồng đặt cọc hai bên thống nhất về các điều khoản có trong hợp
đồng phải thực hiện những điều khoản đã quy định. Đặc biệt là về quyền
nghĩa vụ của các bên. Đối với quyền nghĩa vụ của bên nhận đặt cọc (chị i
Thị B) “... bất cứ do nào không chuyển nhượng các diện tích đất nêu trên
nữa thì sẽ phải bồi thường cho anh anh D số tiền gấp ba lần số tiền đặt cọc,
cụ thể số tiền phải trả 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng). Thời hạn đặt
cọc là 45 ngày kể từ ngày các bên lập và ký Hợp đồng đặt cọc này.
Khi làm giấy tờ đặt cọc mua 02 thửa đất trên, chị B có nói với anh và anh
D thửa đất rừng diện tích 0,43ha chị đã mua của T nhưng chưa sang tên.
Chị B đã cho anh xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất đó. Anh
đã tìm hiểu hỏi hàng xóm xung quanh thì họ xác nhận chị B đã mua của bà T và
ông B1 thửa đất đó và hiện nay đang trồng cây tạp. Chị B nói khi nào làm thủ
tục công chứng thì chị sẽ bảo T chuyển nhượng sang thẳng cho anh
được, khi anh và anh D hỗ trợ chị B làm thủ tục sang tên thì mới biết chồng bà T
là ông B1 đã chết, sổ được cấp từ lâu nay phải chuyển sang sổ hồng mới làm thủ
tục chuyển nhượng được. Trong khi đó thời gian làm lại sổ theo quy định nhà
nước rất lâu không thể đảm bảo 45 ngày hoàn thành thủ tục chuyển nhượng đến
khi gần hết thời hạn đặt cọc vào ngày 19/4/2022 anh có nhắn tin cho chị B đề
nghị lùi lại thời hạn (hai bên không lập văn bản không làm lại hợp đồng đặt
cọc chỉ thỏa thuận miệng) để làm thủ tục ng chứng chuyển nhượng thửa số
44, tờ bản đồ số 14, cũng lúc đó anh đề nghị chị B cho làm thủ tục công chứng
trước thửa đất số 539, tờ bản đồ số 60 thanh toán gần hết số tiền như đã thỏa
3
thuận nhưng chị B không đồng ý (anh bằng chứng trong các tin nhắn zalo
với chị B) và cố tình né tránh nên cung cấp cho anh chứng minh thư nhân dân đã
hết hạn nên anh không thể thực hiện được, anh đã nhắn tin yêu cầu chB cung
cấp chứng minh thư để làm thủ tục chuyển nhượng nếu không thì không thể
chuyển nhượng được, bản thân anh rất muốn mua hai thửa đất nêu trên nên hai
bên không đề cập đến việc chấm dứt hợp đồng mặc dù đã quá thời hạn 45 ngày,
lúc đó chị B vẫn phối hợp với anh và anh D làm các thủ tục cho đến khi ra được
sổ nhà bà T vào năm 2023.
Khi thửa số 44, tờ bản đồ số 14 đã sổ mới chị B không nói sẽ không
bán nữa và cũng không nói sẽ không trả cọc, lấy lý do chứng minh thư chưa
làm xong không sang tên được. Sự việc kéo dài cả năm nhưng chị B vẫn bảo
chưa có chứng minh thư, anh và anh D đã nhiều lần liên hệ trao đổi với chị B để
tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng nhưng chị B trả lời không chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho anh nữa. Việc các bên thương lượng, đàm phán
đặt cọc hoàn toàn thiện chí, tự nguyện, anh anh D cũng đã thực hiện đúng
nghĩa vụ thanh toán số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng cho chị B. Nay anh yêu
cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt buộc hợp đồng và buộc chị B phải trả cho anh và
anh Nguyễn Sinh D số tiền 500.000.000 đồng( Bao gồm tiền cọc
200.000.000đ và phạt cọc 300.000.000đ )
Việc chị B khai anh anh D đi làm thủ tục chuyển nhượng cho chị B là
không đúng mà anh chỉ nhận hỗ trợ đi làm sổ và làm thủ tục trích đo, vì anh biết
khi đi làm hồ sang tên tông B1 đã chết sang T sẽ phát sinh thêm nhiều
thủ tục như phân chia di sản thừa kế. vậy chị B bảo anh nhận trách nhiệm đi
làm sổ trong 45 ngày là không có căn cứ.
Bị đơn chị Bùi Thị B trình bày:
Chị vanh Nguyễn Hồng K, vợ chồng chị kết hôn năm 1997, đăng
kết hôn tại UBND Y, tỉnh Hòa Bình. Ngày 07/3/2022 chđứng ra kết
hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh Phạm
Thanh H, hai thửa đất sau
- Thửa đất số 539, tờ bản đồ số 60, diện ch 700m², Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BB 775863 do UBND thành phố H cấp ngày 07/9/2010
đứng tên chị Bùi Thị B địa chỉ tại xóm B, Y, thành phố H, tỉnh Hòa
Bình (Nay là Xóm B, phường T, tỉnh Phú Thọ).
- Thửa đất số 44, tờ bản đồ số 14 (nay thửa đất số 833, tờ bản đồ số 2
đứng tên Nguyễn Thị T) diện tích 0,43 ha đất lâm nghiệp, địa chỉ tại xóm B,
Y, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (Nay là m B, phường T, tỉnh Phú Thọ),
thửa đất trên vợ chồng chị mua của chị Nguyễn Thị T anh Nguyễn Văn B1
(anh B1 đã chết) nhưng chưa thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang
tên chị và anh K.
Khi ký kết hợp đồng đặt cọc với anh H và anh D chỉ một mình chị ký, anh
K không nhưng anh thừa nhận đồng ý với việc ký hợp đồng đặt cọc của
chị. Khi thực hiện hợp đồng đặt cọc chị nói thửa đất lâm nghiệp số 44, tờ
4
bản đồ 14 vợ chồng chị mua của Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn B1 vào
năm 2010 nhưng hai bên chỉ lập giấy tờ viết tay với nhau mà chưa làm thủ tục
chuyển nhượng từ vợ chồng ông B1 sang tên vợ chồng chị, tkhi mua đất gia
đình chị có trồng keo và sử dụng liên tục đến nay không có tranh chấp gì.
Khi ký hợp đồng chị có thỏa thuận bằng miệng với anh H, anh H có trách
nhiệm làm Giấy chứng nhận quyền sdụng đất từ ông B1 sang tên T trong
thời hạn 45 ngày, chị sẽ hỗ trợ giấy tờ tại xóm, xã, phối hợp với nhà T và các
con T cung cấp giấy tđể làm thủ tục sang tên từ ông B1 sang T. Khi hết
thời hạn đặt cọc vợ chồng chị cũng trao đổi với anh H về việc vợ chồng chị cho
thêm thời gian để hoàn tất thủ tục, hai bên không làm lại hợp đồng chỉ nói
bằng miệng, thời gian đó chị vẫn hỗ trợ anh H làm bìa đất.
Tuy nhiên, quá thời hạn trên anh H không hoàn tất được việc sang tên bìa
đất từ ông B1 sang T, nay anh H làm đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị trả
cho anh H 500.000.000đ chị không đồng ý, do vì trong thời gian 45 ngày anh
H đã không làm được bìa đất, gia đình chị vẫn cho thêm thời gian để anh H đi
làm a, chị biết thực tế phát sinh nhiều vướng mắc trong quá trình làm thủ
tục nhưng vợ chồng chị nhà T cũng đã hỗ trợ anh H hết sức để ra được
bìa, tuy nhiên thời gian làm quá u, anh H thay đổi nhiều đề nghị, lúc thì anh
nói do việc làm hồ thửa đất nhà T khó khăn nên anh đnghị mua thửa
khác, lúc thì anh đ nghị trả trước cho vợ chồng chị 600.000.000đ, lúc thì
700.000.000đ, 900.000.000đ nhưng với điều kiện lúc nào bìa sang được tên anh
H thì anh mới trả nốt số tiền n lại, chính vậy nên vợ chồng chị không đồng
ý bán nữa, việc anh H đề nghị công chứng làm hợp đồng trước thửa đất đứng tên
chị, còn thửa nhà bà T khi nào làm xong thủ tục thì làm hợp đồng sau, chị không
đồng ý quan điểm của chị phải mua bán cùng một lúc hai thửa chứ không
thửa bán trước, thửa bán sau. Nay anh H đề nghị vợ chồng chị trả số tiền cọc và
phạt cọc là 500.000.000 đồng, chị nhận thấy chị không sai nên không trả lại tiền
cọc và không chịu phạt cọc.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Sinh D trình bày:
Việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc như anh H trình bày hoàn toàn đúng sự
thật, anh thống nhất với ý kiến của anh H về việc đề nghị Tòa án chấm dứt hợp
đồng đặt cọc buộc bà Bùi Thị B phải trả cho anh anh Phạm Thanh H số
tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) B đã vi phạm Hợp đồng
theo Điều 2 của Hợp đồng đặt cọc đã ký. Toàn bộ chứng cứ là tin nhắn zalo giữa
anh H và bà B đã thể hiện rõ các anh luôn có nguyện vọng được giao dịch mảnh
đất, đến khi sổ nhà T thì gia đình B cố tình tránh, không muốn bán,
các anh đi lại rất nhiều lần, tốn kém chi phí nên anh đề nghị chị B và anh K phải
trả cho anh và anh H số tiền đã đặt cọc 200.000.000đ phạt cọc
300.000.000đ.
- Anh Nguyễn Hồng K trình bày: Anh là chồng chị B, vợ chồng anh kết
hôn năm 1997, đăng kết hôn tại UBND Y, tỉnh Hòa Bình. Anh biết
việc anh Phạm Thanh H khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp Hợp đồng đặt
5
cọc với vợ anh đối với hai thửa đất trên, tuy nhiên chỉ một mình vợ anh ký trong
Hợp đồng, anh không được n trong hợp đồng nên anh không ý kiến gì.
Anh xác nhận hai thửa đất trên tài sản chung của vợ chồng anh. Nay anh H
làm đơn khởi kiện, anh thừa nhận có việc giao dịch mua bán và ký hợp đồng đặt
cọc giữa vợ anh và anh H, còn giải quyết như thế nào thì do vợ anh giải quyết.
- Nguyễn Thị T trình bày: Năm 2008 vợ chồng bán cho chị B
anh K một thửa đất diện tích 0,43 ha đất lâm nghiệp thuộc thửa đất số 44, tờ
bản đsố 14 (nay thửa đất số 833, tờ bản đồ số 2 diện ch 4996,5m2 đứng
tên bà Nguyễn ThT) địa chỉ tại xóm B, Y, thành phố H, tỉnh Hòa Bình,
nhưng chưa thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên vợ chồng anh
K, chị B. Thửa đất đó đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông
Nguyễn Văn B1 - chồng bà, khi bán đất hai vợ chồng cùng bán, hai bên chỉ
lập giấy tờ viết tay, các bên thỏa thuận chị B và anh K phải làm thủ tục sang tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên đến năm 2013 ông B1 mất, chị B
anh K vẫn chưa làm thủ tục sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thửa đất vẫn đứng tên ông B1.
Năm 2022 bà chị B đã hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ ông B1 sang tên bà, nhưng chưa chuyển từ sang vợ chồng chị B
và anh K. Quan điểm của bà nếu chị Bình bán đất cho ai bà sẽ hợp tác.
Kết quả xem xét thẩm định tại ch ngày 30/12/2025 xác định:
- Tại thửa đất số 539, tờ bản đồ số 60, diện tích 700m² (Trong đó
200m² đất ở, 500m² đất trồng cây lâu năm) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số BB 775863 do UBND thành phố H cấp ngày 07/9/2010 đứng tên chị Bùi
Thị B địa chỉ tại xóm B, Y, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (Nay m B,
phường T, tỉnh Phú Thọ): Hội đồng đã xem xét, đo đạc toàn bộ diện tích thửa
đất trên, các cạnh đúng như trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện
tích 700m2 trong đó đất 200m2, đất trồng cây lâu năm 500m2, trên đất trồng
một số cây tạp và không có tường rào, thửa đất không có biến động gì, không có
tranh chấp với các hộ xung quanh.
- Tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số 14 (nay là thửa đất số 833, tờ bản đồ số
2 đứng tên Nguyễn Thị T) địa chỉ tại xóm B, Y, thành phố H, tỉnh Hòa
Bình (Nay Xóm B, phường T, tỉnh Phú Thọ): Các cạnh đúng như trong Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trên, diện tích 4996,5m2 đất rừng sản xuất,
trên đất trồng một số cây tạp, không có tường rào xung quanh, thửa đất không
có biến động gì, không tranh chấp với các hộ xung quanh.
Bản án số 09/2026/DS-ST ngày 24/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
12 - Phú Thọ, quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1
Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 16, 17, 116, 117, 275, 328, 401 Điều 422 của Bộ luật
dân sự năm 2015;
6
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1. Chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày 07/3/2022 giữa anh Phạm Thanh H
và anh Nguyễn Sinh D với chị Bùi Thị B;
1.2. Buộc chị Bùi Thị B trả lại cho anh Phạm Thanh H, anh Nguyễn Sinh
D số tiền đặt cọc đã nhận là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và
300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) tiền phạt cọc.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí quyền kháng cáo của các đương
sự.
Ngày 08/4/2026, bị đơn Bùi Thị B kháng cáo toàn bbản án dân sự
thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự tnguyện thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết toàn bộ vụ án. Cụ thể: Nguyên đơn anh Phạm Thanh H, yêu cầu
bị đơn chị i Thị B phải thanh toán 265.000.000 đồng. (Trong đó: 200.000.000
đồng tiển đặt cọc; 65.000.000 đồng tiền chi phí khác). Về án phí: Bị đơn
chị Bùi Thị B phải chịu toàn bộ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Xét thấy các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết
vụ án, việc thỏa thuận không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức hội. Căn
cứ Điều 300; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 09/2026/DS - ST ngày 24/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ. Công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự.
Về án phí dân sự phúc thẩm thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được xem xét,
thẩm tra tại phiên tòa cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự (chị Bùi Thị B; anh Phạm Thanh
H; anh Nguyễn Hồng K; anh Nguyễn Sinh D thỏa thuận được với nhau vviệc
giải quyết toàn bộ vụ án. Cụ thể:
Chị i Thị B phải thanh toán cho anh Phạm Thanh H anh Nguyễn
Sinh D. Tổng số tiền 265.000.000 đồng ( Trong đó 200.000.000 đồng tiền đặt
cọc và 65.000.000 đồng tiền chi phí khác )
Về án phí: Do các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án, căn cứ khoản 5 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH, do vậy cấp
phúc thẩm xác định lại án phí theo thỏa thuận là đúng quy định.
7
Chị Bùi Thị B phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm
13.250.000 đồng, tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Xét thấy: Các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết toàn bộ vụ án. Việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa
thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo
đức hội, nên được Hội đồng t xử ghi nhận. Do vậy cần sửa bản án dân sự
thẩm số 09/DSST ngày 24/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú
Thọ. Phù hợp với đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 300; Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số
09/DSST ngày 24/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ. Cụ thể:
Chị Bùi Thị B phải thanh toán cho anh Phạm Thanh H anh Nguyễn
Sinh D. Tổng số tiền 265.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu đồng) -
(Trong đó 200.000.000 đồng tiền đặt cọc và 65.000.000 đồng tiền chi phí khác)
Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với c trường hợp
quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về án phí: Chị Bùi Thị B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sphúc thẩm, được đối tr với 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tm
ng án phí, l phí tòa án s 0003621 ngày 22/4/2026 tại Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 12 - Phú Thọ.
Chị Bùi Thị B phải chịu 13.250.000đ (Mười ba triệu, hai trăm, năm mươi nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho anh Phạm Thanh H 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí a án số 0002685 ngày 03/10/2025 tại
Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 9 Luật
8
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (06/8/2026)./
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 12- Phú Thọ
- TAND khu vực 12 - Phú Thọ
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- Phòng THADS KV12- Phú Thọ
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Mạnh Hùng
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 203/2026/DS-PT Bản án số 203/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 203/2026/DS-PT Bản án số 203/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất