Bản án số 56/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 56/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 56/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Nông
Số hiệu: 56/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 56/2025/DS-PT
Ngày 25 - 3 - 2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh
Các Thẩm phán: Ông Dương Hà Ngân và ông Nguyễn Hồng Chương
- Thư phiên a: Ông Nguyễn T - Thư ký a án nn n tỉnh
Đắkng
- Đi diện Viện kim sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phn toà:
Vương Thị Bc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 133/2024/TLPT-DS, ngày 08 tháng 11
năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của Tòa án
nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 118/2024/QĐ-PT ngày
20-12-2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn Quảng Q,
xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Q: Phạm Thị H, sinh
năm 1954; địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (Giấy
ủy quyền ngày 29-4-2022); có mặt.
2. Bị đơn: Trương Thị H, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Q, N, huyện
Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Uỷ ban nhân dân xã N, huyện Đ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Huy C, chức vụ: Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân xã N, huyện Đ.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc H, chức vụ: Công chức
địa chính, xây dựng Uỷ ban nhân dân N, huyện Đ (Văn bản ủy quyền số
37/UBND-VX ngày 15-4-2024); đơn xin xét xử vắng mặt.
3.2. Nguyễn Thị M, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn Q, N, huyện Đ,
tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị M: Phạm Thị H, sinh
năm 1954; địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (Giấy
ủy quyền ngày 29-4-2022); có mặt.
3.3. Anh Phạm Văn Thành V, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện
Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
4. Người làm chứng: Ông Hoàng T, sinh m 1952; địa chỉ: Thôn 2, N,
huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin vắng mặt.
5. Người kháng cáo: Phạm Thị H người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn.
NI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
người đại diện theo ủy quyền trình bày: m 2006, gia đình ông Trần Văn Q
nhận chuyển nhượng đất của ông Hoàng T thửa đất 355, tờ bản đồ s7, giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) cấp ngày 31-12-2010. Năm
2012, ông Q bà M chuyển nhượng cho ông Phạm Văn P và Trương Thị H
diện tích 120m
2
ất chiều rộng giáp đường 6m chiều dài 20m). Năm
2012, ông P H xây nhà lấn chiếm phần diện tích đất phía sau khoảng
300m
2
(chiều rộng 6m x chiều dài 42,5m).
Ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị M chỉ chuyển nhượng cho ông Phạm Văn
P Trương Thị H diện tích 120m
2
mặt phía trước giáp đường, còn đất phía
sau có diện tích 300m
2
, ông Q, bà M không chuyển nhượng và đã kê khai, có tên
trong bản đồ địa chính nhưng chưa được cấp GCNQSDĐ.
Sau đó, Trương Thị H và ông Phạm Văn P tự ý đổ đất xây dựng nhà
phần diện tích đất phía sau đất nhận chuyển nhượng có diện tích khoảng 300m
2
,
Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND) N cho rằng đất của UBND N cho ông
Phú làm, khi nào UBND N thu hồi thì ông P phải trả lại, đây lỗi của
UBND xã N.
vậy, ông Trần Văn Q khởi kiện yêu cầu Trương Thị H phải trả diện
tích đất lấn chiếm 300m
2
, phía sau thửa đất số 355, tờ bản đồ số 7.
Bị đơn Trương Thị H trình bày: Ngày 26-5-2012, Trương Thị H
chồng là ông Phạm Văn P (đã chết năm 2022) nhận chuyển nhượng của ông
Trần Văn Q một thửa đất diện tích 120m
2
(đất chiều rộng giáp đường 6m
3
chiều dài 20m), giá chuyển nhượng 150.000.000 đồng, khi nhận chuyển
nhượng đất của ông Q đã GCNQSDĐ (đất nông nghiệp, chưa có thổ cư), bên
nhận chuyển nhượng đã giao đủ tiền, nhận đất sử dụng và hiện nay H đã
chuyển đổi sang đất thổ cư, xây nhà và ổn định từ năm 2012 đến nay. Bà H
ông P được cấp GCNQSDĐ số CS 560117, ngày 07-10-2020, thửa đất số 474,
tờ bản đồ số 48, diện tích 120m
2
.
Diện tích đất phía sau thửa đất số 474, tờ bản đồ số 48 đất sình lầy tự
nhiên, gia đình H đã khai hoang, đổ đất, xây nhà ổn định từ năm 2012
đến nay. Ông Trần Văn Q khởi kiện yêu cầu Trương Thị H diện tích 300m
2
,
phía sau thửa đất số 355, tờ bản đồ số 7 thì bà H không đồng ý và yêu cầu ông Q
phải cung cấp chứng cứ liên quan đến thửa đất này nếu không thì yêu cầu a
án không chấp nhận đơn khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M và người đại diện
theo ủy quyền trình bày: Bà M là vcủa ông Trần Văn Q. M đồng ý với ông
Trần Văn Q khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị H phải trả diện tích đất lấn chiếm
300m
2
, phía sau thửa đất số 355, tờ bản đồ số 7.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã N và người đại diện theo
ủy quyền trình bày: Thửa đất đang tranh chấp giữa nguyên đơn bị đơn chưa
được cấp GCNQSDĐ, đất hoang do UBND N quản lý theo bản đồ đo đạc
sổ mục đất đai năm 1992. Ngày 27-6-2019, ông Trần Văn Q Nguyễn
Thị M đăng ký kê khai xin cấp GCNQSDĐ. Ngày 12-10-2020, UBND xã N ban
hành Công văn số 92/UBND-NC, xác định đất không đủ điều kiện cấp
GCNQSDĐ. Diện tích đất này bà Trương Thị H ông Phạm Văn P tự ý khai
hoang, cơi nới đổ đất và xây dựng nhà năm 2013, khi xây dựng nhà thì ông P và
H không được cấp giấy phép xây dựng và không được phép của chính quyền
địa phương. Diện tích đất này hiện nay đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ.
Người làm chứng ông Hoàng T trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp do ông T
khai hoang từ năm 1980. Ông T được cấp GCNQSDĐ tại tha đất số 355, tbản
đồ 7. Năm 2006, ông T chuyển nhượng cho ông Trần Văn Q và bà Nguyễn ThM
một phần diện tích đất trong thửa đất 355, đất chuyn nhượng có chiều rộng mặt
đường là 19,70m, chiềuu 30m. Ông T xác định chỉ chuyển nhượng cho ông Q
M diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ.
Ti Bản án n sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của T án
nhân dân huyện Đắk R’Lấp, quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 97,
Điều 99, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 177, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụngn sự; áp dụng Điều 166 của
4
Bộ luật Dân sự; Điều 203 của Luật Đất đai; Điều 2 của Luật Nời cao tuổi; điểm
đ khoản 1 Điu 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mc thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ pa án.
Tuyên xử: Kng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn
Q đối với bđơn Trương Thị H, về việc yêu Trương Thị H phải trlại din
ch đất 300m
2
(diện ch đo đạc thực tế 247,7m
2
), phía sau thửa đất số 474, tờ
bản đồ số 48 (liền k thửa đt s 355, tờ bản đồ số 07), đất tọa lc tại thôn Q, xã N,
huyện Đ, tỉnh Đắk ng.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự
thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 11-10-2024, Phạm Thị H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm: Huỷ bản án sơ thẩm và buộc bà Trương Thị H phải trả lại diện tích đất lấn
chiếm khoảng 300m
2
cho ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị M.
Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo. Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị M đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông:
Về thủ tục tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s.
V nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ, đại din Viện
kiểm t nhân dân tỉnh Đắk ng đề nghHội đồng t xử n ckhoản 3 Điều
308; Điều 310 của B luật Tố tụng n sự, chấp nhận một phần kháng cáo của
Phạm Thị H, hủy Bản án thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của T án
nhân dân huyện Đắk R’Lấp để giải quyết lại ván theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, kết quả hỏi, tranh
tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của Phạm Thị H nộp trong thời hạn
luật định, nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí phúc
thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Bị đơn bà Trương Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh
Phạm Văn Thành V, Uỷ ban nhân dân N, người làm chứng ông Hoàng T đã
được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng H và anh V vắng mặt lần thứ
5
hai không có lý do. Uỷ ban nhân dân xã N và ông Hoàng T có đơn xin vắng mặt.
Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng
xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định ca pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Hội
đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Theo nội dung trình bày của UBND N thì
nguồn gốc đất tranh chấp là do bị đơn lấn chiếm và khai hoang. Năm 2012, bà H
xây nhà ổn định trên đất. Ngoài ra, diện tích đất đang tranh chấp giữa
nguyên đơn bị đơn thì chưa ai được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất,
đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án ông Q không đưa ra được chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Việc ông Trần Văn Q khởi kiện yêu cầu
Trương Thị H phải trả diện tích đất khoảng 300m
2
nhưng không chứng cứ
chứng minh. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào tài liệu, hồ thu thập
được, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Từ những nhận định và phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có
căn cứ để chấp nhận kháng o của bà Phạm Thị H và quan điểm đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Đắk Nông, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm
số 62/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của T án nhân dân huyện Đắk R’Lấp.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn Q được miễn án phí dân sự
phúc thẩm theo quy định ca pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
yêu cầu kháng cáo của Phạm Thị H. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm s
62/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 97, Điều 99, Điều 147, Điều 157,
Điều 165, Điều 177, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 203
Luật Đất đai; Điều 2 của Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sdụng án phí, lệ phí
Tòa án. Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Q đối
với bị đơn Trương Thị H, về việc yêu Trương Thị H phải trả lại diện tích
đất 300m
2
(diện tích đo đạc thực tế 247,7m
2
), phía sau thửa đất số 474, tờ bản đ
số 48 (liền kề thửa đất số 355, tờ bản đồ số 07), đất tọa lạc tại thôn Quảng Q,
N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
6
2. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ thẩm
định giá tài sản: Ông Trần Văn Q phải nộp số tiền 15.650.000đ (mười lăm triệu
sáu trăm năm mươi nghìn đồng), được trừ số tiền 15.650.000đ (mười lăm triệu
sáu trăm năm mươi nghìn đồng) ông Q đã nộp tại Tòa án.
3. Ván phí: Ông Trần Văn Q đưc miễn án p n sự thẩm và phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC tại Tp. H;
- VKSND tỉnh Đắ k Nông;
- TAND huyện Đắk R’Lấp;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- Các đương sự;
- Lưu: HS, THCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Võ Văn Vinh
Tải về
Bản án số 56/2025/DS-PT Bản án số 56/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 56/2025/DS-PT Bản án số 56/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất