Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 40/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 40/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đoàn Văn M với ông Đoàn Văn K
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 40/2025/DS-ST Bản án số 40/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 40/2025/DS-ST Bản án số 40/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – M ĐỒNG
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 40/2025/DS-ST
Ngày: 19-9-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản; tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Luân;
2. Ông Phạm Ngọc Diện.
- Thư phiên tòa: Ông Hoàng Rung K’Nhuận thư Tòa án nhân dân khu
vực 3 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - m Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại tr sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng xét
xử thẩm ng khai vụ án thụ lý số: 17/2025/TLST-DS ngày 20/01/2025 về việc:
“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 61/2025/QĐXXST-DS ngày 03
tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Vợ chồng ông Đoàn Văn M, sinh năm 1962. Nguyễn Thị T,
sinh năm 1973.
Địa chỉ: thôn P, xã T, tỉnh Lâm Đng.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Phạm Huyền T1, sinh năm 2000.
Địa chỉ: thôn H, xã N, tỉnh Lâm Đồng. Tham gia tố tụng theo văn bản y quyền lập
ngày 08/01/2025. Có mặt.
2. Bị đơn: Vợ chồng ông Đoàn Văn K, sinh năm 1990. Nguyễn Thị H, sinh năm
1992.
Địa chỉ: thôn P, P, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt, đơn đề nghị giải quyết vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo nội dung đơn khởi kiện lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn chị Phạm Huyền T1 thì:
Xuất phát từ mối quan hệ quen biết với nhau nên ông Đoàn Văn K, Nguyễn
Thị H vay của vợ chồng ông Đoàn Văn M, Nguyễn Thị T số tiền gốc là:
1.500.000.000đ. Hai bên viết Giấy tờ vay tiền vào ngày 12/3/2022, có chữ đầy
đủ của các bên. Mức lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,5%/tháng (tương ứng số tiền lãi là
22.500.000đ/tháng) thanh toán theo từng tháng. Thời gian trả nợ gốc đến cuối
tháng 12/2023. Sau khi viết giấy tờ thì hàng tháng vợ chồng ông K, bà H có thanh toán
lãi cho vợ chồng ông M, T bằng hình thức chuyển khoản và đưa tiền mặt. Khi đưa
tiền mặt thì hai bên không viết giấy tờ nhận tiền lãi, chỉ có ông M, T đánh dấu vào
sổ ghi chú; còn về chuyển khoản thì ông M, T chỉ sao kê thấy ngày 17/4/2023 ông
K chuyển khoản số tiền lãi là 22.500.000đ. Tính đến nay vợ chồng ông K, bà H đã
trả cho ông M, T số tiền lãi đến hết tháng 9/2023. Từ tháng 10/2023 thì ông K,
H không trả lãi cho vợ chng ông M, bà T nữa.
Đến ngày 06/01/2024 thì các bên thống nhất cấn trừ đất vào khoản tiền đã vay
trên bao gồm cả gốc lãi. Tính ttháng 10/2023 đến tháng 01/2024 thì tiền lãi
100.000.000đ. Diện tích đất các bên thống nhất cấn trừ 1500m
2
thuộc thửa đất số
581, tờ bản đồ 29; giá là 2.100.000.000đ. Hai bên lập “Đơn xin chuyển nhượng quyền
sử dụng đấtngày 06/01/2024. Nội dung trong văn bản thể hiện: ông M, T đã đặt
cọc số tiền là 1.600.000.000đ (nguồn gc là từ tiền gốc và lãi mà ông K, bà H đang nợ
ông M, bà T tính đến ngày 06/01/2024). Còn lại số tiền 500.000.000đ ông M, bà T sẽ
thanh toán sau khi các bên tiến hành sang tên theo quy định của pháp luật. Sau khi lập
văn bản thỏa thuận thì ông K, H cũng đã bàn giao diện tích đất trên cho ông M, bà
T. Gia đình ông M, bà T cũng tiến hành canh tác, quản lý, sử dụng đất. Để thuận tiện
cho việc canh tác thì ông M, T đào 01 giếng khoan trên đất. Tại thời điểm lập
văn bản vợ chồng ông M, bà T rất tin tưởng ông K, bà H đang c gắng thực hiện h
tách sổ để sang tên cho vợ chồng ông M, bà T. Tuy nhiên, gần đây ông M, T tìm
hiểu thì biết được hiện nay ông K, H đang gặp khó khăn về tài chính. Bị một số
người khởi kiện ra Tòa án. Mặt khác, ông M, Thu N được thông tin phần diện tích
đất ông M, bà T xác định dùng để cấn trừ khoản vay cũng đang thế chấp tại Ngân hàng
vay khoảng 5.000.000.000đ. Vợ chồng ông M, T cũng rất thiện chí muốn thanh toán
nợ trong Ngân hàng để lấy sổ ra sang tên nhưng ông K, H luôn tìm cách trốn
tránh, không hợp tác để giải quyết cho vợ chồng ông M, bà T.
Đến nay các bên không thể thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết
tranh chấp. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ông M, bà T đề nghị Tòa án
nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng giải quyết những vấn đề sau:
Buộc ông K, bà H phải trả cho ông M, bà T số nợ gốc là 1.500.000.000đ.
Yêu cầu ông K, H phải thanh toán tiền lãi cho ông M, T với mức lãi suất
theo thỏa thuận 1,5%/tháng kể từ ngày ông K, bà H vi phạm nghĩa v trả lãi cho ông
M, T từ tháng 10/2023 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án là:
1.500.000.000đ x 1,5% x 23 tháng = 517.500.000đ.
Cộng chung cả gốc và lãi là: 2.017.500.000đ.
Tuyên hủy Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đấtlập vào ngày 06/01/2024
giữa ông M, bà T ông K, bà H đối với diện tích đất 1500m
2
thuộc một phần thửa đất
3
số 581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, diện tích đất trên
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K, bà H.
Ông M, bà T yêu cầu ông K, bà H phải bi thường cho ông M, bà T giá trị: 01 cái
giếng đào sâu khoảng 20m; 45 trụ tông cao 2m; 121.85m lưới thép B40 chiều
cao 1,5m; 19 cây tiêu và 285 cây cà phê loại xanh lùn có tổng gtrị theo kết quả thẩm
định giá tài sản là 53.320.000đ.
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Đoàn Văn K, bà Nguyễn Thị H trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày
21/3/2025 thì:
Ông K, bà H quen biết vợ chồng ông M, T. Vợ chồng ông, vay của
vợ chồng ông M, T số tiền 1.500.000.000đ nhưng vay làm 02 lần, lần thứ nhất
vay 1.000.000.000đ thì H không ký giấy vay tiền, thời gian vay tiền, thời hạn trả n
thì H không nhớ. Lần thứ 2, vợ chồng ông, vay là 500.000.000đ thì H
giấy vay tiền, thời hạn vay 01 năm, trả lãi theo tháng. Khi vay tiền tH không
được cầm giấy vay tiền nên không nhớ rõ ngày, tháng, năm vay. Còn giấy vay tiền ghi
ngày 12/3/2022, vay 1.500.000.000đ có thể là do ông K ghi gộp lại, chữ ký trong giấy
vay tiền ngày 12/3/2022 chữ của ông K, còn chữ ghi họ tên Nguyễn Thị H
không phải là chữ ký của bà H. Khi vay số tiền 1.000.000.000đ thì một mình ông K đi
vay, n vay 500.000.000đ thì cả ông K, bà H cùng ký giấy vay tiền. Ông K, bà H xác
định khoản vay 1.500.000.000đ là khoản vay chung của vợ chồng. Quá trình vay tiền,
thì ông K, bà H chưa trả tiền gốc, tiền lãi thì vẫn đóng hàng tháng đến khi vợ chồng
ông K, bà H cấn đất cho ông M, bà T thì ông K, bà H không đóng lãi nữa. Khi cấn đất,
thì ông M, bà T là người trực tiếp canh tác, sử dụng diện tích đất 30 mét ngang đường
nhựa, việc cấn đất để trừ nợ trên thực tế. Ông M, bà T đã sử dụng từ tháng 01/2024
và ông M, bà T đã múc đất trồng cà phê, đào giếng trên thửa đất.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông M, bà T yêu cầu vchồng ông K, bà H trả
tiền lãi và tiền gc với số tiền là 1.837.500.000đ thì vợ chồng ông K, bà H không đồng
ý vì ông M, T đã nhận đất canh tác, sử dụng; đồng thời ông K, bà H không có tiền
để trả nợ cho ông M, bà T.
Đối với đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất đúng chvà chữ viết của
bà H, ông K. Việc, ông M, bà T đề nghị hủy giấy này thì ông K, bà H không đồng ý vì
đất đã giao cho ông M, bà T. Nếu Tòa án giải quyết trả lại đất cho ông K, bà H thì ông
K, bà H đồng ý.
Khi cấn đất thì ông M, T biết ông K, H đang vay ngân hàng E tại Đ, Lâm
Đồng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện đang thế chấp tại ngân hàng nên không
thể làm thtục sang tên. Khi cấn đất ông M, T cũng đồng ý khi nào trả xong nợ
ngân hàng lấy sổ thì sẽ làm thủ tục sang tên cho ông M, bà T.
Ngoài ra, ông K, bà H không trình bày gì thêm.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng vắng mặt một bên đương sự nên không tiến
hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, trong phần hỏi người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay
đổi một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo “Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất” lập ngày
4
06/01/2024; buộc ông Đoàn Văn K, Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông Đoàn Văn
M, Nguyễn Thị T số tiền chuyển nhượng 1.600.000.000đ, buộc ông Đoàn Văn K,
Nguyễn Thị H phải trả bồi thường cho ông Đoàn Văn M, Nguyễn Thị T giá trị
tài sản trên đất là 53.320.000đ; đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải chịu toàn bộ
chi phí tố tụng.
Bị đơn vắng mặt nên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ
nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của
người tham gia tố tụng và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án theo hướng đề
nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn M,
Nguyễn Thị T về tranh chấp hợp đồng n sự vay tài sản tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bị đơn ông Đoàn Văn K, bà Nguyễn Thị H.
Hủy “Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất” lập vào ngày 06/01/2024 giữa
ông Đoàn Văn M, Nguyễn Thị T và ông Đoàn Văn K, Nguyễn Thị H đối với
diện tích đất 1500m² thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc tại
L, huyện L, tỉnh Lâm Đng.
Buộc ông Đoàn Văn K, Nguyễn Thị H phải trả cho ông Đoàn Văn M,
Nguyễn Thị T số tiền là 1.600.000.000đ.
Buộc ông Đoàn Văn K, Nguyễn Thị H phải thanh toán lại toàn bộ giá trị tài
sản, cây trồng theo Chứng thư thẩm định giá là 53.320.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu về lãi suất của nguyên đơn trên số tiền gốc 1.500.000.000đ
với lãi suất 1,5%/tháng tính từ tháng 10/2023 đến ngày Tòa án xét xử xong.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị
đơn phải chịu toàn bộ số tiền chi phí đo đạc, thẩm định tài sản và định giá tài sản.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên
đơn và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ
đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tng tại phiên tòa, Hội đồng
xét xử nhận đnh:
[1] Về thủ tục t tụng:
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, đơn đề nghị xét xử
vắng mặt nên áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền:
Xuất phát từ việc ông M, bà T cho ông K, H vay số tiền 1.500.000.000đ vào
ngày 12/3/2022. Đến ngày 06/01/2024, ông K, bà H thỏa thuận cấn trừ cho ông M,
T diện tích đất 1500m
2
thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc tại
L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đtrừ nợ, theo đó hai bên xác lập Đơn xin chuyển
nhượng quyền sử dụng đất” đề ngày 06/01/2024. Nay việc cấn trừ nợ bằng đất không
thành nên nguyên đơn ông M, T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy
Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đấtlập vào ngày 06/01/2024 giữa ông M,
5
T và ông K, bà H đối với diện tích đất 1500m
2
thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản
đồ số 29, đất tọa lạc tại L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; buộc ông K, H phải trả lại
cho ông M, bà T s tiền chuyển nhượng là 1.600.000.000đ.
Ông M, bà T yêu cầu ông K, bà H phải bi thường cho ông M, bà T giá trị: 01 cái
giếng đào sâu khoảng 20m; 45 trụ tông cao 2m; 121.85m lưới thép B40 chiều
cao 1,5m; 19 cây tiêu và 285 cây cà phê loại xanh lùn có tổng giá trị theo kết quả thẩm
định giá tài sản là 53.320.000đ.
Do vậy, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa
nguyên đơn ông Đoàn Văn M, Nguyn Th T vi b đơn ông Đoàn Văn K,
Nguyn Th H; ván thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Lâm Đng.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu của ông M, bà T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Theo tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là bản chính giấy vay
tiền đề ngày 12/3/2022 thì ông K, H vay của ông M, T số tiền
1.500.000.000đ, lãi suất thỏa thuận 1,5%/tháng, hạn trả nợ tháng 12/2023. Trong
lời khai, ông K, bà H cũng thừa nhận có vay của ông M, bà T s tiền là 1.500.000.00
nên đây tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
Theo Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đấtlập vào ngày 06/01/2024 thì
giữa ông M, bà T ông K, bà H thỏa thuận chuyển nhượng diện ch đất 1500m
2
thuộc
một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng;
giá chuyển nhượng 2.100.000.000đ; số tiền đặt cọc là 1.600.000.000đ, số tiền còn lại
là 500.000.000đ thỏa thuận khi sổ đỏ tên ông M, bà T thì ông M, Thu Thanh T2
số tiền là 500.000.000đ.
Theo lời khai của ông M, bà T thì: Đến ngày 06/01/2024, các bên thống nhất cấn
trừ đất vào khoản tiền đã vay trên bao gồm cả gốc lãi. Tính từ tháng 10/2023 đến
tháng 01/2024 ttiền lãi 100.000.000đ. Diện tích đất các bên thống nhất cấn trừ
1500m
2
thuộc thửa đất số 581, tờ bản đồ 29; giá 2.100.000.000đ. Hai bên lập Đơn
xin chuyển nhượng quyền sử dụng đấtngày 06/01/2024. Ông M, bà T đã đặt cọc số
tiền là 1.600.000.000đ (nguồn gốc là từ tiền gốc và lãi mà ông K, bà H đang nợ ông M,
T tính đến ngày 06/01/2024). Còn lại số tiền 500.000.000đ ông M, T sẽ thanh
toán sau khi các bên tiến hành sang tên theo quy định của pháp luật. Sau khi lập văn
bản thỏa thuận thì ông K, bà H cũng đã bàn giao diện tích đất trên cho ông M, bà T. Gia
đình ông M, bà T ng tiến hành canh tác, quản lý, sử dụng đất.
Theo lời khai của ông K, H thì ông K, H xác định có việc cấn diện tích đất
1500m
2
thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc tại xã L, huyện L,
tỉnh Lâm Đồng để trừ vào số nợ gốc là 1.500.000.000đ đã vay của ông M, bà T.
Như vậy, qua lời khai của đương sự và nội dung tài liệu, chứng cứ nêu trên, có
sở khẳng định: ông M, T cho ông K, H vay stiền 1.500.000.000đ, lãi suất thỏa
thuận là 1,5%/tháng, thời hạn trả nợ là tháng 12/2023 là có xảy ra trên thực tế. Và việc
ngày 06/01/2024, ông K, bà H ký “Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đấtvới ông
M, bà T đối với diện tích đất 1500m
2
thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29,
6
đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để cấn trừ nợ và hai bên đã chuyển từ hợp
đồng vay tiền sang hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên số tiền vay gốc là
1.500.000.00tiền lãi 100.000.000đ, tổng cộng 1.600.000.000đ đã chuyển
sang tiền chuyển nhượng là có xảy ra trên thực tế. Sau khi thỏa thuận cấn trừ nợ bằng
đất, ông K, H đã bàn giao diện tích đất khoảng 1500m
2
thuộc mt phần thửa đất số
581, tbản đồ số 29, đất tọa lạc tại L, huyện L, tỉnh m Đồng cho ông M, T
quản lý, sử dụng; ông M, bà T đã đào giếng, trồng tiêu phê trên đất. Do đó, hợp
đồng vay tài sản giữa các bên đã chấm dứt kể từ thời điểm các bên xác lập đơn xin
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo khoản 2 Điều 422 của Bộ luật dân sự năm 2015.
vậy, việc các bên xác lập Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
06/01/2024 không phải là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền.
Theo lời khai của các bên đương sự thì tại thời điểm các bên xác lập đơn xin chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/01/2024 thì quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số
581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc tại L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đang do ông K,
H thế chấp cho Ngân hàng TMCP X chi nhánh L (đăng ký thế chấp ngày 17/01/2023,
ngày 26/3/2025 xóa nội dung đăng ký thế chấp). Ông M, bà T biết việc này nhưng vẫn
đồng ý xác lập hợp đồng chuyển nhượng.
Do vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Đơn xin chuyển
nhượng quyền sử dụng đất” lập ngày 06/01/2024 giữa ông M, bà T và ông K, bà H đối
với diện tích đất 1500m
2
thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc
tại L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật theo Điều
123 của Bộ luật dân sự năm 2015. n nữa, việc các bên thỏa thuận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nhưng chỉ xác lập “Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, có
chữ hai bên mà không thực hiện việc công chứng hoặc chứng thực giao dịch tại
quan có thẩm quyền là vi phạm hình thức của hp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, yêu cầu tuyên hủy “Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất” lập ngày
06/01/2024 giữa ông M, T ông K, H đối với diện tích đất 1500m
2
thuộc mt
phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng do
vô hiệu là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Khi tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, cũng cần
xem xét giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu. Theo lời khai của các
bên đương sự thì trong số tiền đặt cọc là 1.600.000.000đ bao gồm: 1.500.000.000đ tiền
vay, còn lại 100.000.000đ tiền lãi tính đến ngày 06/01/2024. Theo lời khai của ông
M, T thì ông M, T xác định: ông K, bà H trả tiền lãi đến tháng 9/2023, từ tháng
10/2023 thì ông K, bà H không trả tiền lãi cho ông M, bà T nữa. Như vậy, nếu tính tiền
lãi theo thỏa thuận là 1,5% tính từ tháng 10/2023 đến ngày 06/01/2024 với mức lãi suất
1,5%/tháng thành số tiền lãi 100.000.000đ như các n thống nhất không vượt
quá mức lãi suất theo quy định của pháp luật, nên cần xác định số tiền vay gốc
1.500.000.000đ, số tiền lãi là 100.000.000đ chuyển sang tiền chuyển nhượng quyền sử
dụng đất 1.600.000.000đ là phù hợp. Do đó, buộc ông K, H phải trả lại cho ông
M, bà T số tiền chuyển nhượng là 1.600.000.000đ là có căn cứ.
Xét về lỗi, khi xác lập Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đấtlập ngày
06/01/2024 thì: ông K, bà H đang thế chấp diện tích đất nêu trên cho ngân hàng nhưng
vẫn thỏa thuận cấn đất để trừ nợ cho ông M, T; còn ông M, T biết đất đang thế
7
chấp cho ngân hàng vẫn đồng ý xác lập việc chuyển nhượng để trừ nợ nên ông M, bà T
và ông K, bà H có lỗi ngang nhau. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, ông M, T
không yêu cầu Tòa án xem xét bồi thường giá trị tài sản chênh lệch nên Hội đồng xét
xử không đặt ra để giải quyết.
Xét yêu cầu của ông M, T về việc yêu cầu ông K, H phải bồi thường cho
ông M, bà T giá trị: 01 cái giếng đào sâu khoảng 20m; 45 trụ tông cao 2m; 121.85m
lưới thép B40 có chiều cao 1,5m; 19 cây tiêu và 285 cây cà phê loại xanh lùntổng
giá trị theo kết quả thẩm định giá tài sản là 53.320.000đ, thấy rằng:
Qua xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thì thực tế ông M, bà T sau khi nhận diện
tích đất 1500m
2
thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc tại L,
huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì ông M, bà T tạo lập những tài sản trên là đúng. Trong lời
khai, ông K, bà H cũng thừa nhận việc này.
Theo kết quả thẩm định giá tài sản thì: 01 cái giếng đào sâu khoảng 20m; 45 trụ
bê tông cao 2m; 121.85m lưới thép B40 chiều cao 1,5m; 19 cây tiêu và 285 cây cà
phê loại xanh lùn có tổng giá trị là 53.320.000đ. Hiện quyền sử dụng đất này đã được
Ngân hàng TMCP X chi nhánh L đã bán đấu giá thành công vào ngày 17/3/2025 để
trừ vào khoản nợ của ông K, H đối với ngân hàng. Do vậy, cần buộc ông K, H
phải bồi thường cho ông M, T giá trị 01 cái giếng đào sâu khoảng 20m; 45 trụ
tông cao 2; 121.85m lưới thép B40 chiều cao 1,5m; 19 cây tiêu 285 cây phê
loại xanh lùn là 53.320.000đ là phù hợp.
Đối với diện tích đất 1500m
2
thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất
tọa lạc tại L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, ông M, T cam kết sẽ bàn giao cho người
mua trúng đấu giá nên Hi đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
[3.2] Đối với ý kiến của bđơn ông K, H cho rằng: việc vay tiền ông K, H
đã cấn đất cho ông M, T; ông K, H không có tiền nên không đồng ý trả tiền gốc
và tiền lãi cho nguyên đơn; cũng như không đồng ý hủy đơn xin chuyển nhượng đất là
không phù hợp với quy định của pháp luật như đã nhận định trên nên không được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[3.3] Đối với ngân hàng TMCP X chi nhánh L trước đây làm đơn yêu cầu độc
lập yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc ông K, bà H phải có nghĩa vụ hoàn trả cho
ngân hàng số tiền gốc 5.120.043.053đ. Đến ngày 27/6/2025, ngân hàng đơn rút
toàn byêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án không đưa ngân hàng tham gia tố tụng với
cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do vậy, Hội đồng xét xử đặt ra để giải
quyết.
[3.4] Đối với bà Nguyễn Hng A cũng đơn trình bày đề nghị Tòa án không đưa
bà vào tham gia tố tụng với cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên Hội
đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
[3.3] Đối với ý kiến về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 3 - Lâm Đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông M, T: tuyên hủy Đơn xin chuyển
nhượng quyền sử dụng đất” lập ngày 06/01/2024 giữa ông M, bà T và ông K, bà H đối
8
với diện tích đất 1500m
2
thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất tọa lạc
tại xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Buộc ông K, H phải trả cho ông M, T số tiền chuyển nhượng
1.600.000.000đ.
Buộc ông K, H phải bồi thường cho ông M, T giá trị 01 cái giếng đào sâu
khoảng 20m; 45 trụ bê tông cao 2m; 121.85m lưới thép B40 có chiều cao 1,5m; 19 cây
tiêu và 285 cây cà phê loại xanh lùn là 53.320.000đ.
[4] Về án phí: do yêu cầu tuyên hủy Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất
lập ngày 06/01/2024 được chấp nhận nên buộc b đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
không có giá ngạch 300.000đ.
Buộc bị đơn phải chịu án phí giá ngạch đối với nghĩa vụ trả tiền cho nguyên
đơn 1.653.320.000đ, được tính như sau: 36.000.000đ + 853.320.000đ x 3% =
61.599.600đ.
Tổng cộng, buộc ông K, bà H phải chịu 61.899.600đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thu 1 (Mười sáu triệu tám trăm năm mươi sáu ngàn
đồng) tiền tạm ứng án phí do Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số 0005150 ngày 20/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà và
533.000đ (Năm trăm ba mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án do bà Nguyễn Thị T đã
nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002372 ngày 15/8/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Ông M là người cao tuổi, có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí nên miễn tiền tạm
ứng án phí theo quy định ca pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng: Xét thấy, việc xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản, thẩm định
giá tài sản cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp
nhận nên buộc bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng phù hợp. Chi phí cho việc
xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản, thẩm giá tài sản là 7.400.000đ. Số tiền này nguyên
đơn đã tạm nộp và đã được quyết toán xong nên buộc bị đơn ông K, bà H phải hoàn tr
cho nguyên đơn ông M, bà T số tiền chi phí tố tụng 7.400.000đ là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 2 Điều 147; Điều 157; Điều 161; Điều 162; Điều 165; khoản 1 Điều 227; khoản
1 Điều 228; khoản 2 Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 124, 131, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Caên cöù Ñieàu 26 Luaät thi haønh aùn daân söï.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, np, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của v chng ông Đoàn Văn M, bà Nguyn Th T v
việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đấtvi b đơn vợ chng ông Đoàn Văn K, bà Nguyn Th H.
9
Tuyên hủy Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đấtlập ngày 06/01/2024 giữa
vợ chồng ông Đoàn Văn M, Nguyễn Thị T vợ chồng ông Đoàn Văn K, Nguyễn
Thị H đối với diện tích đất 1500m
2
thuộc một phần thửa đất số 581, tờ bản đồ số 29, đất
tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng).
Buộc vợ chồng ông Đoàn Văn K, Nguyễn Thị H phải trả cho vợ chồng ông
Đoàn Văn M, Nguyễn Thị T số tiền chuyển nhượng 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu
trăm triệu đồng).
Buộc vợ chồng ông Đoàn Văn K, Nguyễn Thị H phải bồi thường cho ông M,
T giá trị 01 cái giếng đào sâu khoảng 20m; 45 trụ tông cao 2m; 121.85m lưới thép
B40 chiều cao 1,5m; 19 cây tiêu và 285 cây phê loại xanh lùn 53.320.000đ
(Năm mươi ba triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
2. Về án phí: buộc bị đơn vợ chồng ông Đoàn Văn K, bà Nguyễn Thị H phải chịu
61.889.600đ (Sáu mươi mốt triệu tám trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thu 1 (Mười sáu triệu tám trăm năm mươi sáu ngàn
đồng) tiền tạm ứng án phí do Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số 0005150 ngày 20/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà và
533.000đ (Năm trăm ba mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án do bà Nguyễn Thị T đã
nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002372 ngày 15/8/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Ông Đoàn Văn M là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên
được miễn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo quy định ca pháp luật.
4. Về chi phí tố tụng: buộc vchồng ông Đoàn Văn K, Nguyễn Thị H phải
hoàn trả cho vợ chồng ông Đoàn Văn M, Nguyễn Thị T toàn bộ chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ tài sản, thẩm định định giá tài sản là 7.400.000đ (Bảy triệu bốn trăm
nghìn đồng).
5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đương mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày ktngày
tuyên án (19/9/2025); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể tngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
10
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
- VKSND khu vực 3 – Lâm Đồng
- Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, BP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hạnh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 40/2025/DS-ST Bản án số 40/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 40/2025/DS-ST Bản án số 40/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất