Bản án số 339/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 339/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 339/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 339/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P - Phạm Q - Tranh chấp QSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 339/2026/DS-PT Bản án số 339/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 339/2026/DS-PT Bản án số 339/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 339/2026/DS-PT
Ngày: 23 – 6 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Dũng và ông Phạm Thái Bình;
- Thư phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Anh - TToà án của Tòa án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng (Cơ
sở 1) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 250/2026/TLPT-DS ngày 24
tháng 4 năm 2026 về việc:“Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự
thẩm số 394/2025/DS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân
khu vực 10 Lâm Đồng bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm số 357/2026/QĐ-PT ngày 18 tháng 5 năm 2026 và Thông báo về việc
hoãn phiên tòa phúc thẩm số 18/TB-TA ngày 05 tháng 6 năm 2026 của Tòa án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị P, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn T, T,
thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay khu phố T, phường M, tỉnh Lâm Đồng).
(Có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật Nguyễn Minh N Công
ty L – Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt)
Địa chỉ: Số E, đường T, phường H, quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay
là số E, đường T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Bị đơn: Ông Phạm Q, sinh năm 1958; địa chỉ: Khu phố H, phường M,
thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay khu phố H, phường M, tỉnh Lâm Đồng).
(Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Phạm Thị Minh H, sinh m 1979; địa
chỉ: Số F N, khu phố H, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay số F
N, khu phố H, phường M, tỉnh Lâm Đồng) (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày
11/4/2023). (Có mặt)
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Đinh Vương H1, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố
P, tỉnh Bình Thuận (Nay là khu phố T, phường M, tỉnh Lâm Đồng). (Vắng mặt)
3.2. Ông Trương Minh T, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn T, T, thành phố
P, tỉnh Bình Thuận (Nay là khu phố T, phường M, tỉnh Lâm Đồng). (Có mặt)
3.3. Ông Trương Minh Q1, sinh m 1973; địa chỉ: Thôn H, H, huyện
B, tỉnh Bình Thuận (Nay là thôn H, xã H, tỉnh Lâm Đồng). (Có mặt)
3.4. Bà Trương Thị Bích T1, sinh năm 1976; (Có mặt)
3.5. Ông Trương Minh V, sinh năm 1981; (Có mặt)
3.6. Ông Trương Minh H2, sinh năm 1991; (Vắng mặt)
3.7. Ông Trương Minh H3, sinh năm 1994; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay khu phố
T, phường M, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T, ông Q1, ông V, ông H2, T1
ông H3: Nguyễn Thị P, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn T, T, thành phố P,
tỉnh Bình Thuận (Nay khu phố T, phường M, tỉnh Lâm Đồng) (Theo Giấy ủy
quyền ngày 22/7/2024 và Giấy ủy quyền ngày 23/7/2024). (Có mặt)
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Lê Minh H4, sinh năm 1975; (Có mặt)
4.2. Ông Lê Văn D, sinh năm 1952; (Có mặt)
4.3. Ông Nguyễn Phước S, sinh năm 1960; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay là khu phố
T, phường M, tỉnh Lâm Đồng).
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nguyên đơn Nguyễn ThP, đồng thời người đại diện theo ủy
quyền của những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án trình
bày:
1.1. Vnguồn gốc đất tranh chấp: Vào năm 1975, Nguyễn Thị P cùng
chồng ông Trương Minh S1 (Chết năm 1999, theo Trích lục khai tử số
09/TLKT-BS do Ủy ban nhân dân (Viết tắt UBND) phường H cấp ngày
21/01/2021) khai hoang khu đất tọa lạc tại khu vực M, sau là thôn T, xã T, thành
phố P, tỉnh Bình Thuận với diện tích 1,9 héc ta (19.000m
2
). Ông, bà sdụng
thửa đất đó để canh tác, trồng trọt hoa màu. Việc sử dụng thửa đất này được s
làm chứng của các ông bà có các thửa đất giáp ranh, bao gồm: Ông Lê Minh H4,
sinh năm 1975 (Giáp phía Đông); Ông Văn D, sinh năm 1952 (Giáp phía
Tây); Nguyễn ThN1, sinh năm 1946 (Giáp phía Nam); Phía Bắc giáp với
rừng do Nhà nước quản . Ngoài ra còn các ông bà: Nguyễn Phước S, sinh
3
năm 1960, Huỳnh Thị T2 cũng biết về quá trình hình thành sử dụng đất
của gia đình bà P.
Vợ chồng bà P, ông S1 có 06 người con chung như sau:
1- Ông Trương Minh T, sinh năm 1971;
2- Ông Trương Minh Q1, sinh năm 1973;
3- Bà Trương Thị Bích T1, sinh năm 1976;
4- Ông Trương Minh V, sinh năm 1981;
5- Ông Trương Minh H2, sinh năm 1991;
6- Ông Trương Minh H3, sinh năm 1994.
Ngoài ra, vợ chồng bà không có con riêng hay con nuôi.
1.2. Vviệc sử dụng đất: Vào năm 1997, gia đình trồng cây điều
(Cây đào lộn hột) trên phần đất này, tổng cộng 80 cây, hiện nay các cây điều này
vẫn còn. Mặc khác gia đình bà cũng trồng xen canh cây đậu hằng năm.
Năm 2005, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, việc trồng hoa màu trên thửa
đất này không đảm bảo thu nhập cuộc sống, gia đình đã chuyển về phần lớn
về phường H, thành phố P để sinh sống. Gia đình không sống trực tiếp
trên thửa đất này nhưng vẫn đều đặn thu hoạch hạt điều từ những cây điều được
trồng trên thửa đất này.
Quá trình sử dụng đất của gia đình bà diễn ra liên tục. Sau khi phần lớn gia
đình về Hàm Tiến sinh sống, con trai bà T vẫn giữ đất (2008), con gái tên
T1 tiếp tục giữ đất (2010), sau đó con trai tên V tiếp tục giữ đất (2015).
1.3. Về vấn đề tranh chấp: Vào năm 2016, bà Nguyễn Thị P liên hệ với
UBND T, cụ thể là ông Diệp Xuân T3, phụ trách địa chính xã để thực hiện
thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất nêu trên tọa lạc
tại khu vực M (19.000m
2
). Ông T3 hướng dẫn để lại số điện thoại để liên h
sau nhưng không thấy ông T3 gọi.
Vào năm 2019 khi gia đình phát hiện người trồng trụ rào chắn trên
khu đất nêu trên, gia đình trình báo với ông Nguyễn Tấn M, phụ trách
pháp xã. Ông M hướng dẫn bà về làm đơn gửi đến UBND xã. Sau khi đơn được
gửi đến UBND xã, khi đó gia đình bà mới phát hiện ông Đinh Vương H1 đã
xâm chiếm quyền sử dụng đất bất hợp pháp, đồng thời ông H1 còn bán lại bằng
văn bản không chứng thực cho một số người khác trong đó ông Phạm Q,
sinh năm 1958. Phần đất mà ông Đinh Vương H1 xâm chiếm của gia đình
bán cho ông Phạm Q có diện tích 9.728,6m
2
.
Ngày 09/6/2020, Nguyễn Thị P đã gửi đơn tố cáo hành vi chiếm đất
chuyển nhượng bất hợp pháp đất của gia đình bà đến Chủ tịch UBND xã T.
Ngày 21/8/2020 UBND T tiến hành phiên họp hòa giải. Tại buổi hòa
giải ông Đinh Vương H1 nói là do chồng bà Trương Minh S1 đã bán lại cho ông
4
nhưng không trưng ra được bất kỳ bằng chứng nào về sự chuyển nhượng này.
Phiên hòa giải không thành công.
Gia đình rất nhiều lần yêu cầu ông Đinh Vương H1 và ông Phạm Q
chấm dứt xâm chiếm quyền sử dụng thửa đất nêu trên nhưng ông H1 ông Q
tránh không giải quyết. Chính việc này gia đình không thể đăng
xin các cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
đất nêu trên.
Tại Đơn khởi kiện B tự khai nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bđơn ông Phạm Q trlại diện tích 9.728m
2
đất tọa lạc tại thôn T, T,
thành phố P, tỉnh Bình Thuận công nhận P các con của P được
quyền quản lý, sử dụng diện tích đất nêu trên.
Tại phiên tòa, phía nguyên đơn thống nhất diện tích đất tranh chấp
9252,2m
2
theo Bản Trích đo bản đồ vị trí đất tranh chấp ngày 04/5/2023 do
Công ty HTB lập. Đề nghTòa án giải quyết: Buộc bị đơn ông Phạm Q trlại
diện tích 9252,2m
2
đất tọa lạc tại thôn T, T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận và
công nhận P các con của P được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất
nêu trên.
2. Bị đơn ông Phạm Q trình bày:
2.1. Về nguồn gốc đất do ông Phạm Q mua của ông Đinh Vương H1, sinh
năm 1957 tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận bằng Giấy viết tay vào
ngày 10/4/2003 với diện tích khoảng 7.000m
2
tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh
Bình Thuận với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng); Đất này do ông H1
đang trồng ngắn ngày dưa, đậu…đất trống, trên đất không cây lâu năm: Đ
(Điều), keo lá chàm.
Tại thời điểm ông Q mua đất, xung quanh không nhà dân sinh sống,
không điện, nước, vùng đất heo hút, khô cằn; Ít người canh tác; Trước đất
chỉ con đường đất (Đường mòn) nhỏ; Đường lớn phía trước con đường đỗ
đá sỏi, không phải đường tông như hiện giờ. Sau khi mua đất, ông Q đã
thuê ông Nguyễn Thái B1, địa chỉ khu phố F, phường M, thành phố P, tỉnh Bình
Thuận đến san ủi đất trồng 1.000 cây keo chàm trên toàn bộ khuôn viên
thửa đất; Hàng năm ông Q đều trồng dặm lại; Trong thời gian ủi đất, quá trình
trồng cây từ năm 2005 đến 2020, gia đình P (Con P sống gần đó) không
đến thửa đất này tranh chấp hay khiếu nại gì hay ngăn cản ông Q y đất canh
tác trồng keo trên đất; Ông Q vẫn trông coi, chăm sóc, trồng cây trên thửa đất
này từ năm 2003 đến nay.
Vào khoảng năm 2004, thời điểm T đo vẽ bản đồ đất đquản lý theo
Luật Đất đai 2003. Ông Q đăng ký kê khai và đã được đo vẽ theo bản đcủa
Công ty Hoàng Nguyên, tại bản đồ thể hiện thửa đất số 27, tờ bản đồ số 47, diện
tích 7.603m
2
.
Khoảng tháng 7/2020, ông Q nhận được điện thoại từ ông Đinh Vương
H1, người bán đất cho biết người lạ đến đất của ông Q cho xe i san bằng
5
đất, chặt phá toàn bộ cây keo lá tràm và đốt hết các cây trồng trên đất (Đính kèm
hình). Do ông Q Mũi cách thửa đất 10km, khi đến đất thì thấy gia đình
P các con khoảng 10 người ngang nhiên cầm dao, rựa chặt phá, cho xe ủi bứt
gốc toàn bộ cây keo lá tràm và đốt toàn bộ cây trên đất, tháo bỏ hết hàng rào dây
kẽm gai trụ xi măng trên đất (Đính kèm hình ảnh); Ông Q đến ngăn cản
không cho chặt phá, yêu cầu họ dừng lại nhưng không được; Lúc này họ rất
hung hãn cầm rựa, dao doạ chửi doạ chém. Do không thnói chuyện phải
trái tự mình không thể ngăn cản hành vi lộng hành của gia đình P, ông Q
đến UBND T báo cáo tình hình xảy ra trên đất; anh cán bộ T (Ông
Nguyễn Tấn M) một Công an viên đến đất yêu cầu gia đình P ngừng chặt
phá cây nhưng gia đình P không chấp hành, chặt cây xong đốt toàn bộ mấy
trăm y keo của ông Q; Hiện nay trên đất vẫn còn các vết tích cây bị đốt hết
gốc; Một số cây bị đốt không hết gốc nay đã nảy nhánh (Đính kèm hình ảnh).
2.2. Nay P cho rằng đất này của gia đình đơn khởi kiện tại
Tòa án với lý do đây là đất cũ của gia đình bà P là không có cơ sở.
Thứ nhất: Quá trình sử dụng đất, ông Phạm Q đã sử dụng đất n định, liên
tục hơn 20 năm nay. Vì lý do:
Tại T vùng đất kcằn, không nước thời điểm đó người dân cũng
không biết đào giếng khoan nên chỉ dùng nước mưa để trồng trọt nên người
dân địa phương chỉ trồng được đậu xanh, đậu đen dựa vào mùa mưa (Mùa
hè); Người dân địa phương khi thấy đất trống, không người canh tác đến i,
làm đất trồng cây ngắn ngày, canh tác được vài vụ đất hoang hoá, bạc màu.
Người dân bỏ đất này đến khu đất khác để trồng cây ngắn ngày. Thửa đất cũ vài
năm lại được người khác đến canh tác, cứ lặp đi lặp lại như thế (Gọi là du canh);
Người sử dụng đất sau cùng đến nay họ vẫn đang sử dụng canh tác thì được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trường hợp này cũng giống như trường hợp của P; thể trước năm
1993, gia đình sử dụng đất này (Khoảng 2.000m
2
như Biên bản hòa giải
tại phường) để trồng cây ngắn ngày và đã bỏ đất này đi nơi khác và ông Phạm Q
sử dụng hơn 20 năm nay. Nay gia đình P cho rằng, nếu đất ngày xưa
trồng trọt thì đương nhiên đó đất của bà, điều này không đúng quy định của
pháp luật đất đai.
Vậy, phải xét đất này tđâu P có? Đất từ ng trăm năm nay, vậy
trước khi P đến đất này canh tác, thì đất này của ai đang quản lý. Từ đâu
mà bà P có đất này.
Thứ hai: Tại Biên bản hoà giải của UBND T cũng xác nhận thửa đất
đang tranh chấp do gia đình P canh tác trồng cây ngắn ngày trước năm
2000, với diện tích khoảng 2000m
2
đất; Sau đó thấy ông Đinh Vương H1 canh
tác trồng cây ngắn ngày từ năm 2000 - 2003;
6
Từ năm 2003 đến nay do ông Phạm Q canh tác trồng cây keo trên đất.
Phải khẳng định ông Phạm Q người canh tác, sử dụng đất n định, liên tục,
trồng cây từ năm 2003 đến nay.
Thứ ba: Bà P cho rằng đất này của gia đình bà, vậy các loại giấy tờ theo
Điều 100 Luật Đất đai cũng như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được nhà
nước công nhận, cũng không kê khai đăng ký hay sử dụng đất này không.
Sau khi mua đất từ ông H1, ông Q đăng ký khai thửa đất được thể
hiện tại sổ mục tại T năm 2005, do Công ty Hoàng Nguyên đo vẽ, số thứ
tự 362, tờ bản đồ 47, thửa đất số 27, HNK, diện tích 7.603m
2
.
Bà P cho rằng đây là đất của gia đình bà khai hoang, chồng bà bán cho ông
H1 không biết, điều này không đúng khi ông H1 canh tác trên đất này từ
năm 2000 - 2003; Ông Q canh tác từ năm 2003 đến nay, bà không đến đất tranh
chấp hay khiếu nại gì; Mặc dù bà cho rằng có thửa đất liền kề, thường xuyên đến
đây hái đào và con bà đang sống gần thửa đất tranh chấp.
Như vậy: Bà P và gia đình bà P không có giấy tờ về đất, việc gia đình bà có
sử dụng đất này trước năm 2000 trở về trước, diện tích khoảng 2000m
2
, gia đình
không đăng ký khai cũng như không sdụng đất này liên tục n định đã
hơn 20 năm; Không các giấy tờ theo khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai nên
không đđiều kiện để công nhận phần đất này cho bà theo quy định tại Điều
100 Luật Đất đai 2013 và Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành luật đất đai, không đồng nghĩa đất
này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình bà P.
Ông Q người mua đất này từ ông H1, đăng khai, sử dụng ổn
định liên tục nên đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất theo Điều 20 Nghị
định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ “Người nào sử dụng đất
không giấy tờ theo Điều 100 Luật Đất đai, sử dụng đất ổn định, liên tục
thì được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Từ khi Công ty điện gió đến gần thửa đất này làm điện gió, làm đường,
cộng với thời gian giá đất bị đẩy lên cao. Gia đình P ngang nhiên vào chặt
phá chiếm đất của ông Q. Vậy tại sao hơn 20 năm nay bà không tranh chấp, đến
nay mới tranh chấp.
Đối với đề nghị của nguyên đơn: Cho ông Q được quyền đứng tên sử dụng,
quản diện tích 2.000m
2
đất thuộc thửa đất tranh chấp, còn lại 7252,2m
2
thuộc
quyền sở hữu của bà P và 06 người con bà P thì bị đơn không đồng ý.
Bị đơn thống nhất diện tích đất tranh chấp 9252,2m
2
theo Bản Trích đo bản
đồ vtrí đất tranh chấp ngày 04/5/2023 do Công ty HTB lập ông Phạm Q đề
nghị Tòa án xem xét, giải quyết: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Nguyễn Thị P; Công nhận phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp
pháp của ông Phạm Quân .
7
Phía bị đơn đề nghị Tòa án: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
Nguyễn Thị P vtranh chấp diện tích 9252,2m
2
đất tọa lạc tại thôn T, T,
thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Vương H1 trình
bày: Ông Phạm Q chỗ quen biết với bà P là bà con phía vợ cũ, bà P kêu phía vợ
ông là chị. Đất tranh chấp trong vụ án mà ông bán cho Phạm Q có nguồn gốc
ông H1 mua lại của chồng P ông Trương Minh S1 năm 1993. Lúc đó ông
S1 làm thôn trưởng, anh em cùng thôn quen thân nhau, ông H1 tới nhà ông S1
chơi, ông S1 nói nhà ông dời xuống khu dân cư, ông nói ông H1 lấy miếng đất
(Hiện nay tranh chấp) để làm. Đất đó do một mình ông S1 khai khẩn, gia đình
ông S1 không ở trên đất này, trên đất chỉ có trồng dưa đậu. Lúc này gia đình ông
S1 gần đó, ông S1 bán cho ông H1 thì P biết, các con của ông S1, P
còn nhỏ. Ông H1 và ông S1 có quen thân, chỉ nói bán và mua, không làm giấy tờ
mua bán. Ông H1 mua với giá 150.000 đồng, lần đầu đưa 50.000 đồng, lần sau
đưa 100.000 đồng. Diện tích ông H1 mua của ông S1 lúc đó trên dưới 3 sào, sau
đó ông H1 về cày rộng ra thêm gần 7 sào, có tỉa dưa, trồng 1, 2 cây đào; Ông H1
không trồng keo tràm. Sau đó ngày 10/4/2003 ông H1 bán đất này cho ông Q
với giá 4.000.000 đồng bằng giấy viết tay, diện ch đất khoảng 7000m². Ông Q
mua sau đó mới trồng đào, keo tràm kể từ 2003. Từ năm 2003 ông H1 vẫn
tại thôn T gần khu đất đã bán cho ông Q, từ 2003 ông Q tác động trên đất gia
đình P không tranh chấp. Mới ch đây 04 năm gia đình P mới gửi đơn
tranh chấp với ông Phạm Q, gia đình bà P mới lên cất chòi trên đất, gần 30 năm
từ 1993 nhà P không ý kiến gì, cũng không canh tác trên đất. Từ đó
UBND xã có mời ông H1 lên tham gia giải quyết tranh chấp giữa bà P, ông Q và
nay được biết Tòa án đang giải quyết.
*/ Tại Bản án dân sự thẩm số 394/2025/DS-ST ngày 02 tháng 12
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng, đã quyết định:
Căn cứ vào:
- Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39,
Điều 73, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, 157, 158, Điều 233, 235, 266,
271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp
người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
- Điều 163, 166 Bộ luật Dân sự;
- Điều 50 Luật Đất đai 2003, Điều 100 Luật Đất đai 2013 Điều 91 Nghị
định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm
2013;
- Điều 137 Luật Đất đai 2024; Điều 108 Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày
30/7/2024 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2024;
8
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn
Thị P đối với ông Phạm Q về việc“Tranh chấp quyền sử dụng đất” đề nghị Tòa
án công nhận phần diện tích đất 9.252,2m
2
thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp
của gia đình nguyên đơn.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng quyền
kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân
sự thẩm, đnghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa Bản án dân sự thẩm
số 394/2025/DS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực
10 – Lâm Đồng theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*/ Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo đề
nghị sửa bản án dân sự thẩm. Phía nguyên đơn xác định nguồn gốc thửa đất
tranh chấp của vợ chồng ông Trương Minh S1, Nguyễn Thị P, được các
con tiếp tục sử dụng. Nếu theo bị đơn trình bày, ông S1 chuyển nhượng thửa đất
cho ông H1 không đúng thẩm quyền tài sản chung của vợ chồng. Nguyên
đơn có quyền sử dụng đất thực tế vậy đề nghị Tòa án sửa bản án dân sự sơ
thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Bị đơn đề nghị giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 394/2025/DS-ST
ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 Lâm Đồng theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị đơn không lấn
chiếm đất của nguyên đơn, nguyên đơn chỉ sử dụng đất đến năm 1995 từ bỏ,
không canh tác, nguyên đơn không chứng minh được quyền sử dụng đất và việc
sử dụng đất liên tục, ổn định.
- Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Con của P) đnghị
chấp nhận kháng cáo, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Kiểm sát viên tham gia phiên a phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc tuân theo pháp luật trong qtrình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
và quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các
đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Việc xét xử của cấp sơ thẩm đúng quy định. Tại
phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn kháng cáo không cung cấp chứng cứ, tình tiết
mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự
9
thẩm số 394/2025/DS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân
khu vực 10 – Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn đúng quy
định pháp luật nên vụ án dân sthẩm được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thụ lý giải quyết là
đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Đinh Vương H1 vắng mặt, tuy nhiên đây là phiên tòa mở lại lần 2, ông H1 vắng
mặt nhưng không kháng cáo, tại cấp thẩm ông đã lời khai đầy đnên
HĐXX giải quyết vụ án vắng mặt ông Đinh Vương H1 không cần thiết phải
hoãn phiên tòa.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn, HĐXX nhận thấy: Thửa đất tranh chấp
trong vụ án được c đương sự thống nhất diện tích tại Trích đo bản đồ vị trí
khu đất tranh chấp do Công ty TNHH Tư vấn Dịch vụ - Khảo sát và Đo đạc
HTB ngày 04/5/2023 9.252,2m
2
. Các chứng cứ trong hồ xác định thửa đất
tranh chấp thửa đất số 27, tờ bản đồ s47, diện tích 7.603m
2
theo Bản đồ đo
đạc khép kín Hoàng Nguyên năm 2005 được UBND T xác định tại Công
văn số 748/UBND-ĐC ngày 22/12/2023. Tại sổ mục kê năm 2005 cũng thể hiện
thửa đất tên ông Phạm Q. Nguồn gốc thửa đất tại khu vực đất bỏ hoang từ
trước năm 1993, sau đó ông Trương Minh S1 Nguyễn Thị P khai khẩn,
sau đó ông S1 bán lại cho ông Đinh Vương H1 và ông H1 sang nhượng lại cho
ông Phạm Q năm 2003. Từ năm 2005 thửa đất đã thể hiện tên ông Phạm Q
chứng tỏ ông Q đã sự tác động trực tiếp khai với nhà nước. Trong khi
đó bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ chứng minh quá trình sử dụng đất ổn định,
liên tục, nhưng không bất cứ giấy tờ về đất, không chứng cứ để chứng
minh quá trình sử dụng đất hợp pháp của hộ gia đình mình, không đăng
khai, không thực hiện nghĩa vụ gì đối với Nhà nước.
[4] Tại phiên tòa, nguyên đơn đnghị giám định tuổi cây đào hàng o
bao quanh thửa đất là chưa đủ căn cchấp nhận. Bởi vì, tại Biên bản xem xét
thẩm định tại chỗ ngày 04/5/2023 xác định tài sản gắn liền với đất không có đào
trên đất. Mặt khác nếu cây đào mốc ranh thì việc giám định tuổi cây cũng
không làm thay đổi được nội dung vụ án, bởi không có căn cứ xác định cây do ai
trồng hay là cây tự mọc.
[5] Như vậy, về nguồn gốc đất tranh chấp đất hoang, sự việc tranh chấp
giữa các đương sự bắt đầu từ năm 2020. Theo lời trình bày của hội đồng hòa giải
tại địa phương trong phiên hòa giải ngày 21/8/2020 xác định ông Trương Minh
10
S1 Nguyễn Thị P khai khẩn nhưng không bảo đảm tính liên tục, phù hợp
với tình hình sử dụng thửa đất là lúc canh tác, lúc bỏ hoang bởi thời tiết nên
chưa đủ căn cứ xác định quyền sử dụng đất là của vợ chồng bà P. Vì vậy việc bà
P khởi kiện ông Q tranh chấp đất nhưng chứng minh chưa đầy đủ nên không đủ
cơ sở để chấp nhận.
[6] Qua hồ vụ án tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, nguyên đơn không
cung cấp chứng cứ mới đchứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, do
đó yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phù hợp với nhận định của HĐXX nên
chấp nhận. HĐXX giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[7] Về án phí: Người kháng cáo người cao tuổi được miễn án phí theo
điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không
bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi
bổ sung năm 2025);
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị P.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 394/2025/DS-ST ngày 02 tháng 12 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng.
2. Căn cứ:
- Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 50 Luật Đất đai 2003;
- Điều 100, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
- Điều 163, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
- Điều 137 Luật Đất đai 2024;
- Điều 108 Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 hướng dẫn thi hành
Luật Đất đai 2024;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Tuyên xử:
3.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị P
đối với ông Phạm Q vviệc“Tranh chấp quyền sử dụng đất” đề nghị Tòa án
công nhận phần diện ch đất 9.252,2m
2
thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của
gia đình nguyên đơn.
11
3.2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị P được miễn án phí do thuộc
trường hợp người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án; Bà P có đơn xin miễn nộp án phí Tòa án.
3.3. Vchi phí tố tụng: Nguyễn Thị P phải chịu chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) chi phí đo đạc
4.469.000 đồng (Bốn triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn đồng). Tổng cộng chi
phí tố tụng 8.369.000 đồng (Tám triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
P đã nộp đủ chi phí tố tụng.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị P được miễn án phí do
thuộc trường hợp người cao tuổi.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A 9 Luật Thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
5. Những quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày
23/6/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND, VKSND KV 10 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS KV 10 - Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Cổng TTĐT-TANDTC;
- Lưu: Hồ sơ; Tòa DS; Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lê Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 339/2026/DS-PT Bản án số 339/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 339/2026/DS-PT Bản án số 339/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất