Bản án số 106/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 106/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 106/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 106/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 106/2026/DS-PT Bản án số 106/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 106/2026/DS-PT Bản án số 106/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phượng
Các Thm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, ông Trương Quang
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 25/6/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, Hội đồng xét
xử phúc thẩm tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự thụ s67/2026/TLPT-
DS ngày 14/4/2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân s
thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 09/2/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3
Hưng Yên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
110/2026/-PT ngày 11/5/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đào Minh Châm, sinh năm 1959; trú tại: Thôn 7, xã Chí
Minh, tỉnh Hưng Yên (trước đây là thôn 7, Đại Hưng, huyện Khoái Châu,
tỉnh Hưng Yên). Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Tần, sinh năm 1950 Nguyễn Thị Nga, sinh
năm 1959; đều trú tại: Thôn Hạ, Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên (trưc
đây là thôn Hạ, An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Có mặt.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho bđơn: Ông Trần Xuân Thành -
Luật sư Công ty Luật TNHH Trần; địa chỉ: Số 16 đường Trần Quốc Vượng,
phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Nguyễn Thị Khánh Linh, sinh
năm 2000, số CCCD ************, địa chỉ: Số 16 đường Trần Quốc Vượng,
phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Huy Cân, sinh năm 1956 bà Nguyễn Thị Tươi, sinh năm 1961; đu
đăng hộ khẩu thường trú tại: Thôn Hồng Quang, Châu Ninh, tỉnh Hưng
Yên (trước đây thôn Hồng Quang, Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh
Hưng Yên). Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Đàn, sinh năm 1958; trú tại: Thôn 7, Chí Minh, tnh
Hưng Yên. Vắng mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 106/2026/DS-PT
Ngày: 25-6-2026
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất’
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG N
2
- Ông Nguyễn Văn Thế, sinh năm 1958; trú tại: Khu phố Vinh Quang, Khoái
Châu, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
4. Người làm chứng:
Ông Trần Văn Hải, sinh năm 1955; trú tại: Thôn Thông Quan Hạ, Khoái
Châu, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Anh Văn Thuận, sinh năm 1980 và chị Đàm Thị Minh, sinh năm 1980; đều
trú tại: Khu phố Vinh Quang, xã Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đào Minh Châm.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đngày 01/3/2023 trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn bà Đào Minh Châm trình bày:
Ngày 10/7/2010, giữa vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tần, bà Nguyễn Thị Nga
với vợ chồng ông Huy Cân, Nguyễn Thị ơi lập giấy thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng thửa đất s51, tờ bản đồ số 22, diện tích 143m² tại thôn
Vinh Quang, thị trấn Khoái Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay Khu
phVinh Quang, Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Ngày 12/7/2012, nhn
chuyển nhượng lại thửa đất trên từ ông Cân, Tươi theo Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được UBND thị trấn Khoái Châu chứng thực.
Bà Châm cho rằng trước khi ký hợp đồng, ông Cân đã xuất trình giấy tờ th
hiện việc nhận chuyển nhượng thửa đất từ vợ chng ông Tần, bà Nga; sau khi ký
hợp đồng, ông Cân đã bàn giao đất và chỉ mốc giới cho bà. Bà cho rằng đã thanh
toán tổng số tiền 800.000.000 đồng cho ông Cân, Tươi, gồm 100.000.000 đồng
tiền đặt cọc và 700.000.000 đồng khi ký hợp đồng chuyển nhượng, nhưng không
lập giấy biên nhận. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà để đất trống, không trực tiếp
sử dụng nhưng xác định diện tích đất vẫn thuộc quyền sdụng của nh. Đến
cuối năm 2022, khi phát hiện vợ chồng ông Tần, Nga xây dựng nhà ở trên diện
tích đất này thì phát sinh tranh chấp.
Châm yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 12/7/2012 giữa bà với ông Huy Cân, bà Nguyễn Thị Tươi; buộc
ông Nguyễn Ngọc Tần, bà Nguyễn Thị Nga tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
và trả lại diện tích đất tranh chấp cho bà quản lý, sử dng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Châm trình bày bsung: bản gốc Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/7/2012 chỉ chữ ký của ông
Lê Huy Cân; đối với bản photocopy có thêm chữ ký của bà Nguyễn Thị Tươi thì
xác định chữ này do con gái tự viết thêm để phục vụ việc hòa giải tại
UBND thị trấn Khoái Châu. đồng thời đề nghị giám định chữ của ông
Huy Cân và bà Nguyễn Thị Tươi trong giấy thỏa thuận lập ngày 10/7/2010.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Tần và bà Nguyễn Thị Nga trình bày:
Ngày 30/3/1994, vchồng ông bà nhận chuyển nhượng thửa đất tranh chấp
của ông Nguyễn Văn Thế với giá 1.300.000 đồng và quản lý, sử dụng ổn định từ
thời điểm đó. Ngày 10/7/2010, giữa vợ chồng ông bà với vchồng ông Huy
3
Cân, Nguyễn Thị Tươi lập giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, trong đó ghi nhận giá chuyển nhượng là 370.000.000 đồng, bên nhận chuyển
nhượng đặt cọc 170.000.000 đồng và sẽ thanh toán số tiền còn lại khi hoàn thiện
thủ tục. Tuy nhiên, ông bà cho rằng trên thực tế chưa nhận bất kỳ khoản tiền nào,
chưa bàn giao đất, các bên cũng không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng;
khoảng năm 2012 bà Tươi thông báo không tiếp tục mua đất nữa.
Từ năm 1994 đến m 2022 gia đình ông liên tục quản lý, sử dụng diện
tích đất tranh chấp; tkhoảng năm 2013 đến năm 2022 có cho anh Văn Thuận
và chị Đàm Thị Minh mượn để tập kết vật liệu xây dựng; đến năm 2022 gia đình
xây dựng nhà ở trên đất thì bà Châm mới phát sinh tranh chấp. Ông bà không biết
việc ông Cân, bà Tươi chuyển nhượng thửa đất cho bà Châm cho đến khi UBND
thtrấn Khoái Châu tổ chức hòa giải tranh chấp.
Ông Tần, Nga không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Châm; đồng
thời yêu cầu phản tố đề nghị tuyên giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 10/7/2010 giữa ông với ông Cân, Tươi hiệu toàn bộ
công nhận quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp cho vợ chồng ông bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vliên quan ông Nguyễn Văn Đàn thống nhất với
yêu cầu khởi kiện của bà Đào Minh Châm và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huy Cân và bà Nguyễn Thị
Tươi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Qua xác minh
tại địa phương xác định từ năm 2012 ông bà đã rời khỏi nơi cư trú, không rõ tung
tích; Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi trú
nhưng không có kết quả.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Thế trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là đất dịch vụ do địa phương bán cho ông vào
khoảng năm 1993–1994. Ngày 30/3/1994, ông chuyển nhượng lại cho ông
Nguyễn Ngọc Tần với giá 1.300.000 đồng, lập giấy viết tay bàn giao mốc
giới. Ông xác nhận chữ trong giấy chuyển nhượng do ông Tần xuất trình
chữ ký của ông và ông không có tranh chấp gì đối với diện tích đất này.
Người làm chứng anh Văn Thuận chĐàm Thị Minh trình bày: Từ
khoảng năm 2013 hoặc năm 2014 đến năm 2022, anh chị sdụng diện tích đất
tranh chấp đtập kết vật liệu xây dựng theo sđồng ý của ông Tần, bà Nga; trong
thời gian đó chỉ biết ông Tần, bà Nga người trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích
đất, không biết bà Châm, ông Cân, bà Tươi.
Người làm chứng ông Trần Văn Hải trình bày: Thời điểm năm 2012 ông
Chủ tịch UBND thị trấn Khoái Châu. Việc chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Huy Cân Đào Minh Châm được thực hiện
trên cơ shồ sơ do cán bộ địa chính kiểm tra, tham mưu và xác định đủ điều kiện
chứng thực nên ông ký chứng thực hợp đồng.
Tại Bản án dân sthẩm số 11/2026/DS-ST ngày 09/02/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Hưng Yên quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Minh Châm về việc công
nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 12/7/2012 giữa với
4
ông Huy Cân, Nguyễn Thị Tươi; không chấp nhận yêu cầu buộc ông
Nguyễn Ngọc Tần, Nguyễn ThNga tháo dỡ công trình xây dựng trả lại din
tích đất tranh chấp.
- Chp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Ngọc Tần, Nguyễn
ThNga; tuyên giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/7/2010
giữa ông Nguyễn Ngọc Tần, bà Nguyễn Thị Nga với ông Huy Cân, Nguyễn
Thị Tươi vô hiệu toàn bộ.
Ngoài ra, bản án còn quyết định ván phí, chi phí tố tụng quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, trong thời hạn luật định, nguyên đơn
Đào Minh Châm kháng cáo toàn bbản án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hy
bản án thẩm để giải quyết lại vụ án hoặc sửa bản án theo hướng chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện; công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 12/7/2012 giữa với ông Huy Cân, Nguyễn Thị Tươi; buộc ông
Nguyễn Ngọc Tần, Nguyễn Thị Nga tháo dỡ công trình y dựng trả lại diện
tích đất tranh chấp cho bà quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đào Minh Châm ginguyên nội dung kháng
cáo và yêu cầu khởi kiện, cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 12/7/2012 được UBND thị trấn Khoái Châu chứng thực hợp pháp nên giá
trpháp lý, đề nghHội đồng xét xử hủy hoặc sửa bản án thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu khởi kiện.
Ông Nguyễn Ngọc Tần và bà Nguyễn Thị Nga không đồng ý với kháng cáo,
đề ngh ginguyên bản án thẩm việc chuyển nhượng giữa ông với ông
Cân, bà Tươi trên thực tế không được thực hiện; ông không nhận tiền, không
giao đất và là người trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp liên tục từ
năm 1994 đến nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu: Trong quá trình
giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử những
người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Về nội dung, kháng cáo của bà Đào Minh Châm không có căn cchấp nhận;
đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 09/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghn cứuc tài liệu, chng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đưc thm
tra ti phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phn tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Đào Minh Châm được nộp trong thời
hạn luật định nên được xem xét theo trình tphúc thẩm. Quá trình giải quyết vụ
án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử những người tham
gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lê Huy
Cân, bà Nguyễn Thị Tươi đã được triệu tập hợp lnhiều lần nhưng vắng mặt; căn
5
cứ các Điều 227, 228 Bluật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt các đương sự này.
[2] Xét kháng cáo của bà Đào Minh Châm, Hội đồng xét xử thy:
Các tài liệu, chứng cứ trong hvụ án kết quả tranh tụng tại phiên
tòa đủ căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp nguồn gốc do ông Nguyễn
Văn Thế chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc Tần từ năm 1994. Việc chuyển
nhượng này được ông Thế thừa nhận, phù hợp với lời khai của người làm chứng
và quá trình ông Tần, bà Nga trực tiếp quản lý, sử dụng đất liên tục từ năm 1994
đến khi phát sinh tranh chấp.
Đối với giấy thỏa thuận ngày 10/7/2010 giữa ông Tần, bà Nga với ông Cân,
Tươi, các bên đều xác định việc chuyển nhượng không được thực hiện; ông
Tần, Nga không nhận tiền, không giao đất, còn ông Cân, bà Tươi không thc
hiện thủ tục đăng quyền sử dụng đất, không quản lý, sử dụng diện tích đất tranh
chấp. Người làm chứng anh Vũn Thuận, chị Đàm Thị Minh cũng xác nhận từ
năm 2013 đến năm 2022 diện tích đất do ông Tần, bà Nga quản lý và cho thuê đ
tập kết vật liệu xây dựng. vậy, Tòa án cấp thẩm tuyên Giấy thỏa thuận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/7/2010 vô hiệu là có căn cứ.
Từ đó sở xác định ông Huy Cân, Nguyễn Thị Tươi không
quyền chuyển nhượng diện tích đất tranh chấp cho Đào Minh Châm. Việc Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 12/7/2012 được UBND thtrn
Khoái Châu chứng thực chỉ xác nhận giao dịch được chứng thực theo quy định v
hình thức, không làm phát sinh quyền sử dụng đất cho bà Châm khi ông Cân, bà
Tươi không có quyền chuyển nhượng đối với diện tích đất tranh chấp
Mặt khác, Châm không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông
Cân, bà Tươi đã nhận chuyển nhượng hợp pháp quyền sử dụng đất tông Tần,
Nga; không chứng minh được việc đã giao nhận đủ tiền chuyển nhượng, việc nhận
bàn giao đất hoặc trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất tnăm 2012 đến khi
phát sinh tranh chấp. Bà Châm cũng thừa nhận bản photocopy hợp đồng chuyển
nhượng có thêm chữ ký của bà Nguyễn Thị Tươi là do con gái bà tự viết bổ sung
sau này. Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà Châm có nghĩa vụ
chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nhưng không thực hiện được nghĩa vụ này.
Do đó, Tòa án cấpthẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đào
Minh Châm và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Ngọc Tần,
bà Nguyễn Thị Nga là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Tại cấp phúc thẩm, Đào Minh Châm không cung cấp được tài liu, chng
cứ mi làm thay đổi nội dung ván. Vì vậy, kng n c chấp nhận khángo;
cần giữ nguyên Bản án n sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ny 09/02/2026 của a
án nhân dân khu vực 3 - Hưng n theo khon 1 Điều 308 B luật Tố tụng dân s,
phù hợp với quan đim của đi diện Viện kiểm sát tại phiêna.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên
Đào Minh Châm phải chịu án phí dân sphúc thẩm. Tuy nhiên, Châm là người
cao tuổi đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí dân sphúc thẩm
6
theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của Đào Minh Châm; giữ nguyên Bản án
dân sự thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Hưng Yên.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Minh Châm về việc công
nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/7/2012 giữa Đào
Minh Châm với ông Huy Cân, Nguyễn Thị Tươi yêu cầu buộc ông
Nguyễn Ngọc Tần, Nguyễn Thị Nga tháo dcông trình xây dựng trên diện tích
đất tranh chấp để trả lại đất cho bà Đào Minh Châm.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Ngọc Tần,
Nguyễn Thị Nga.
Tuyên bố Giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
10/7/2010 giữa ông Nguyễn Ngọc Tần, bà Nguyễn Thị Nga với ông Lê Huy Cân,
bà Nguyễn Thị Tươi vô hiệu toàn bộ.
3. Về án phí dân sphúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Đào
Minh Châm.
4. Các quyết định khác của Bản án dân sự thm không có kháng cáo, kháng
nghđã hiệu lực pháp lut kể từ ngày hết thời hạn kháng o, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tnh ng Yên;
- TAND khu vc 3 Hưng n (2b);
- THADS tnh Hưng Yên;
- Đương sự; ngưi đi din đương s;
- Lưu: h sơ v án, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THM
THM PN - CHTỌA PHIÊN A
Nguyễn Duy Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 106/2026/DS-PT Bản án số 106/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 106/2026/DS-PT Bản án số 106/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất