Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 32/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 32/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 32/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TX. An Khê (TAND tỉnh Gia Lai) |
Số hiệu: | 32/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 22/08/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chi T yeu cầu buộc bà N phai trả tiền còn nợ từ HĐ vay. Do chi T đã nhận lãi vượt quá 20% năm nên tiền lãi đã nhận vượt quá trừ vào tiền gốc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 32/2024/DS-ST
Ngày 22/8/2024
“V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Kia;
2. Bà Võ Thị Trúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh
Gia Lai.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 176/2023/TLST-DS ngày 27 tháng
12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 27/2024/QĐXXST-DS ngày 27/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1990; nơi thường trú: Thôn
P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Bị đơn: Bà Châu Thị Kim N, sinh năm 1979; nơi thường trú: 179A N,
phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965;
nơi thường trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; có đơn xin xét xử vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà
nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: Vào năm 2021 chị N nhờ tôi và mẹ
tôi là bà Nguyễn Thị M, vay giúp cho chị N 110.000.000đ, tiền lãi phải hằng tháng
6.600.000đ. Chị N đã chuyển trả tiền lãi vào số tài khoản của mẹ tôi tại Ngân hàng
N1 được 07 tháng thì không trả nữa. Ngoài ra vào tháng 3 năm 2021 vì để không
phải trả tiền lãi vay nên tôi muốn bán chiếc xe máy của tôi để trả nợ, chị N nói tôi
bán nợ xe cho chị N với giá 50.000.000đ, mỗi tháng chị N trả cho tôi 3.000.000đ
để trả lãi, chị N chuyển trả lãi cho tôi được 02 tháng thì không trả nữa. Chị N đã
viết 02 giấy thể hiện nội dung mượn tiền của mẹ tôi 110.000.000đ và mượn của tôi
50.000.000đ. Nhưng nội dung giấy mượn không ghi đầy đủ thông tin cá nhân, nên
tôi nói chị N viết lại “giấy mượn tiền”, ngày vay tiền đối với số tiền 110.000.000đ
là ngày 04/02/2021 đến ngày 04/02/2023 nhưng chị N ghi thành 04/02/2011 là do
2
nhầm lẫn; đối với số tiền 50.000.000đ thời gian mượn từ ngày 03/3/2021 đến ngày
03/3/2023. Các “Giấy mượn tiền” viết lại sau thời gian mượn nhưng vẫn ghi đúng
theo thời gian mượn trên giấy cũ. Mặc dù trước đây chị N mượn tiền mẹ tôi, nhưng
đây là khoản tiền chung của cả tôi và mẹ tôi, mẹ tôi đã đồng ý chuyển quyền yêu
cầu cho tôi, do vậy tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị N phải trả cho tôi tiền nợ
gốc là 160.000.000đ; tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ đối với số tiền
110.000.000đ từ ngày 07/01/2022 đến ngày xét xử theo mức lãi suất 10%/năm; đối
với số tiền 50.000.000đ tôi không yêu cầu chị N phải trả lãi.
2. Bị đơn chị Châu Thị Kim N trình bày: Trước đây tôi có vay tiền của mẹ của
chị T là bà Nguyễn Thị M 110.000.000đ, mỗi tháng tôi trả tiền lãi là 6.600.000đ,
tôi chuyển tiền trả lãi vào tài khoản của bà Nguyễn Thị M tại A, tôi không nhớ số
tài khoản nhưng chỉ có một tài khoản. Tôi đã chuyển trả tiền lãi trong nhiều năm
cho đến năm 2021 tôi không có khả năng trả lãi nữa nên tôi viết lại giấy mượn tiền
cho chị T. Tuy giấy mượn tiền ghi năm 2011 là có nhầm lẫn, số tiền vay có thể từ
năm 2017. Năm 2021 tôi mua nợ xe của chị T với số tiền 50.000.000đ, chị T yêu
cầu tôi viết giấy nợ và mỗi tháng tôi trả tiền lãi cho chị T 3.000.000đ, tôi đã trả lãi
từ 07 đến 12 tháng thì không có khả năng trả nữa. Nay tôi chỉ đồng ý trả tiền nợ xe
50.000.00đ, mỗi tháng trả 2.000.000đ cho đến khi hết số tiền nợ, đối với số tiền
110.000.000đ tôi đã trả lãi vượt quá tiền gốc rất nhiều nên không trả nữa.
3. Lời khai có tại hồ sơ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn
Thị M thể hiện: Bà M là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị Ngọc T, vào năm 2021 chị N
có nhờ bà M và chị T vay giúp 110.000.000đ, tiền lãi mỗi tháng bà N chuyển vào
tài khoản của bà là 6.600.000đ, bà N chuyển trả được 07 tháng thì không trả nữa.
Bà đồng ý chuyển toàn bộ quyền yêu cầu bà N phải trả nợ cho chị Nguyễn Thị
Ngọc T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị
đơn chị Châu Thị Kim N; nơi thường trú tại A N, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai,
phải trả tiền còn nợ từ hợp đồng vay. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án
“Tranh chấp hợp đồng vay” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị
xã A, tỉnh Gia Lai.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ lời trình bày của các bên, các tài liệu
có tại hồ sơ, đối chiếu với các quy định của pháp luật có liên quan và xem xét yêu
cầu của nguyên đơn thì thấy rằng:
[2.1] Số tiền vay 50.000.000 đồng các bên đều thừa nhận đây là số tiền bị đơn
mua xe nợ tiền của nguyên đơn, tuy nhiên bị đơn tự nguyện chuyển thành nội dung
vay tiền và có trả lãi nên xác định đây là hợp đồng vay. Theo “Giấy mượn tiền” có
thể hiện thời hạn vay, tuy không thể hiện lãi suất vay nhưng các bên đều thừa nhận
có việc trả lãi, do vậy đây là hợp đồng vay có thời hạn và có lãi. Hết thời hạn vay
3
nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện là có căn
cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự.
[2.2] Về thời điểm vay: “Giấy mượn tiền” đối với số tiền 110.000.000đ ghi
ngày 04/02/2011, bị đơn cho rằng mình không nhớ rõ nhưng thời điểm vay là năm
2017, việc bị đơn ghi năm 2011 là nhầm lẫn; nguyên đơn cho rằng thời điểm vay là
năm 2021. Theo sao kê tài khoản của bà Nguyễn Thị M từ ngày 09/8/2018 đến
ngày 16/4/2024, thể hiện thời gian trả lãi lần đầu của bị đơn là ngày 15/4/2021. Do
vậy cần xác định thời gian vay là ngày 04/02/2021.
[2.3] Về số tiền gốc còn nợ và nghĩa vụ trả: Theo các “Giấy mượn tiền” và lời
trình bày của các bên thể hiện bị đơn có vay và còn nợ nguyên đơn 160.000.000đ;
các bên thỏa thuận lãi suất vay là 6%/tháng tức 72%/năm. Theo quy định tại khoản
1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì lãi suất các bên thỏa thuận không được vượt quá
20%/năm, trường hợp lãi suất vượt quá lãi suất giới hạn thì không có hiệu lực.
Đối với khoản vay 110.000.000đ, bị đơn cho rằng đã trả lãi cho nguyên đơn
trong nhiều năm cho đến năm 2021 nhưng không cung cấp được tài liệu gì chứng
minh cho lời trình bày của mình. Căn cứ vào sao kê tài khoản số 4304205181347
tại A của bà Nguyễn Thị M từ ngày mở tài khoản, ngày 09/8/2018, đến ngày
16/4/2024 thể hiện 07 lần bị đơn chuyển 6.600.000đ vào tài khoản trên, thời điểm
cuối chuyển là ngày 06/01/2022. Như vậy từ thời điểm vay 04/02/2021 đến ngày
06/01/2022 (336 ngày) bị đơn đã trả lãi cho nguyên đơn 6.600.000đ x 7 =
42.200.000đ. Tiền lãi mà bị đơn đã trả vượt quá 20%/năm là 42.200.000đ –
(110.000.000đ x 20%/365 x 336 ngày) = 25.947.945 đồng. Trừ tiền lãi bị đơn đã
trả vượt quá vào tiền gốc, xác định tiền gốc bị đơn còn nợ phải trả cho nguyên đơn
là 110.000.000đ – 25.947.945đ = 84.052.055 đồng.
Đối với khoản vay 50.000.000đ, bị đơn cho rằng đã trả lãi cho nguyên đơn từ
07 đến 12 tháng, lời trình bày của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận và bị
đơn cũng không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh. Do vậy chấp nhận theo
thừa nhận của nguyên đơn, đã nhận tiền lãi được 02 tháng, từ ngày 03/3/2021 đến
ngày 03/5/2021 (61 ngày) với số tiền 6.000.000đ. Nguyên đơn không yêu cầu bị
đơn phải trả lãi đối với số tiền 50.000.000đ, tính đến thời điểm xét xử tiền lãi phải
trả theo quy định vượt cao hơn số tiền bị đơn đã trả nên không xem xét trừ lãi vào
tiền gốc.
Tổng cộng tiền gốc bị đơn còn nợ, phải trả cho nguyên đơn là 84.052.055đ +
50.000.000đ = 134.052.055đồng.
[2.4] Về tiền lãi bị đơn có nghĩa vụ trả: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả
lãi đối với số tiền nợ 110.000.000đ theo lãi suất 10%/năm từ thời điểm chưa trả lãi
cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm là phù hợp theo quy định tại khoản 5 Điều 466,
Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên tiền gốc tính lãi là số tiền còn nợ sau khi
trừ đi tiền lãi đã trả vượt quá, cụ thể tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn từ ngày
07/01/2022 đến ngày 22/8/2024 (1.268 ngày) là 84.052.055đ x10%/365 x 1.268 =
28.871.233 đồng;
[2.5] Về thời hạn trả: Bị đơn yêu cầu được trả dần hằng tháng, nguyên đơn
không đồng ý nên bị đơn phải trả khi bản án có hiệu lực pháp luật.
4
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn
được Toà án chấp nhận là (134.052.055đ +28.871.233đ) x 5% = 8.146.164 đồng.
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được Tòa
án chấp nhận là 25.947.945đ x 5% = 1.297.397 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về yêu cầu của nguyên đơn: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc bị đơn bà Châu Thị Kim N phải trả cho nguyên đơn chị Nguyễn
Thị Ngọc T số tiền còn nợ từ hợp đồng vay là 162.923.288 đồng (một trăm sáu
mươi hai triệu, chín trăm hai mươi ba nghìn, hai trăm tám mươi tám đồng). Trong
đó nợ gốc là 134.052.055 đồng (một trăm ba mươi bốn triệu, không trăm năm
mươi hai nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng) và nợ lãi là 28.871.233 đồng (hai
mươi tám triệu, tám trăm bảy mươi mốt nghìn, hai trăm ba mươi ba đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân
sự.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với số tiền
25.947.945 đồng (hai mươi lăm triệu, chín trăm bốn mươi bảy nghìn, chín trăm
bốn mươi lăm đồng).
3. Về án phí:
Bị đơn bà Châu Thị Kim N phải nộp 8.146.164 đồng (tám triệu, một trăm bốn
mươi sáu nghìn, một trăm sáu mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 1.297.397 đồng ( một triệu, hai
trăm chín mươi bảy nghìn, ba trăm chín mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm,
được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.000.000đ theo biên lai thu tiền tạm
ứng án phí số 0012936 ngày 27/12/2023 và 473.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số 0013105 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, hoàn
trả cho chị T 3.175.603 đồng (ba triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn, sáu trăm lẻ
ba đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án là ngày 22/8/2024. Người có quyền
5
lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND thị xã A;
- Chi cục THADS TX An Khê;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Bích Thảo
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 24/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 15/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm