Bản án số 259/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 259/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 259/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 259/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 259/2025/DS-PT Bản án số 259/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 259/2025/DS-PT Bản án số 259/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Dương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông K’Tiêng
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Trí - Thư viên của Tòa án nhân
dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng -
sở 02 (trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông cũ) xét xử phúc thẩm công khai vụ
án dân sự thụ số: 210/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 8 năm 2025 v vic
“Tranh chấp kiện đòi tài sn là quyn s dụng đt.
Do Bản án dân sự thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 02-7-2025 ca Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 232/2025/-PT ngày 27 tháng 8 năm 2025, giữ a
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Thanh T, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, T,
huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng) - Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phi C, sinh năm 1970 Nguyễn Thị T1, sinh
năm 1972; địa chỉ: Thôn T, T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là thôn T, T,
tỉnh Lâm Đồng) - Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung X, sinh năm 1976; địa
chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (nay thôn 3 E, C,
tỉnh Lâm Đồng) - Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 259/2025/DS-PT
Ngày 23-9-2025
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản là
quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
3.1. Ông Phú T2, sinh năm 1979 Nguyễn Vy A, sinh năm 1981;
địa chỉ: Thôn Đ, Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay thôn Đ, T, tỉnh Lâm
Đồng) - Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phú T2: Anh Đồng Văn N, sinh
năm 1988; địa chỉ: Số 11, đường T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay
Số 11, đường T, Đ, tỉnh Lâm Đồng) - Có mặt.
3.2. Anh Trần Văn A1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Đ, Đ, huyện Đ,
tỉnh Đắk Nông (nay thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng) - đơn đề nghị xét xử
vắng mặt.
3.3. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (người thừa kế
quyền nghĩa vụ Thi hành án dân stỉnh Lâm Đồng); người đại diện theo
ủy quyền: Ông Trần Anh T3, chức vụ: Trưởng phòng Thi hành án dân sự khu
vực X - Lâm Đồng; địa chỉ: Thôn T, T, tỉnh Lâm Đồng - đơn đề nghị xét
xử vắng mặt.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Ngưi kháng cáo: B đơn ông Nguyễn Phi C bà Nguyễn Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Đơn khởi kiện ngày 25-6-2022 lời trình y của nguyên đơn ông
Thanh T trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm:
1.1. Ngày 07-3-2022, ông Thanh T ông Trần Văn A1 nhận chuyển
nhượng của ông Lã Phú T2 các thửa đất số 195, 196 và 197, tờ bản đồ số 10, tọa
lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số Al432081 ngày 20-3-2008). Trước khi nhận chuyển
nhượng đất của ông T2, ông T tìm hiểu thửa đất trên không bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn, nguồn gốc đất do ông T2 mua trúng đấu gcủa Cơ quan Thi hành
án dân sự, giá chuyển nhượng 1.500.000.000 đồng.
1.2. Ngày 28-3-2022, ông T đến các thửa đất trên để canh tác thì bị gia đình
ông Nguyễn Phi C và bà Nguyễn Thị T1 ngăn cản, không cho sử dụng. Sau khi,
tìm hiu ông T biết được ông C, T1 chủ sử dụng đất cũ, do phải chấp hành
nghĩa vụ trả nợ theo bản án của Tòa án nhân dân huyện Đ nên đã bị Cơ quan Thi
hành án dân sự cưỡng chế bằng biện pháp kê biên và bán đấu giá. Sau nhiều lần
hòa giải không thành, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil
giải quyết buộc ông C T1 phải trả lại thửa đất s195, 196, 197 tờ bản đồ
số 10 cho ông và ông Trần Văn A1. Đối với việc ông C, bà T1 cho rằng cơ quan
nnước xử tài sản không đúng pháp luật, quyền yêu cầu giải quyết bằng
vụ việc khác; tài sản được tạo lập trên đất ông T và ông A1 đồng ý sẽ thanh toán
giá trị theo quy định của pháp luật.
3
2. Bị đơn ông Nguyễn Phi C Nguyễn Thị T1 trình bày: Bản án số:
46/2002/DS-ST ngày 08-7-2002 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tuyên buộc ông
C, T1 phải trả cho Bùi Thị R 10.779.900 đồng. Sau đó, quan Thi hành
án dân sự huyện Đ đã thi hành án bản án tiến hành thủ tục biên, bán đấu
giá tài sản của ông C và bà T1 đối với các thửa đất số 195, 196 và 197, tờ bản đồ
số 10. do, ông C, T1 không thực hiện việc bàn giao diện tích đất trên cho
ông Phú T2 (người mua trúng đấu giá) bởi lẽ quá trình thi hành án (thẩm
định, định giá, giao các quyết định thi hành án, bản đấu giá…) không đúng quy
định pháp luật. Hiện nay, ông C và T1 vẫn đang sử dụng diện tích đất trên
(năm 2009, ông T2 hủy hoại tài sản đã bchính quyền lập biên bản). Đối với
quyền lợi của ông Thanh T và ông Trần Văn A1, ông C, T1 không ý
kiến gì. Hiện nay, ông C, bà T1 đang đã gửi đơn tố cáo Chấp hành viên Cơ quan
thi hành án dân sự Đ đã kết luận của quan thẩm quyền, do đó đề
nghị Tòa án giải quyết trường hợp quá trình biên tài sản vi phạm thợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ
ông Phú T2 bị hiệu; đồng thời xem xét kết quả bán đấu giá tài sản theo
quy định của pháp luật.
3. Ông Lã Phú T2 trình bày: Nguồn gốc các thửa đất số 195, 196 và 197, tờ
bản đồ số 10 ông T2 năm 2006 mua trúng đấu giá của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Đ, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy
định đã nhận bàn giao đất tài sản đất từ quan thi hành án theo quy định.
Năm 2009, ông T2 đến canh tác thì bị ông C T1 cản trở đã liên hệ với
quan Thi hành án dân sự thì được trả lời bằng miệng đất bàn giao rồi, nếu
tranh chấp thì phải kiện đến Tòa án, đến năm 2022 chuyển nhượng cho ông T
ông A1.
4. Tại phiên tòa thẩm, giữa nguyên đơn bị đơn không yêu cầu tiến
hành định giá lại tài sản trên đất, căn cứ giá trị theo chứng thư thẩm định giá tài
sản số 20/2023/CT-BTA của Công ty thẩm định giá đo đạc địa chính BTA
Việt Nam 332.341.000 đồng, thống nhất thỏa thuận giá trị diện tích đất tranh
chấp 2.700.000.000 đồng không yêu cầu Hội đồng xét xtiến hành định giá
đối với các thửa đất nói trên.
5. Bản án dân sự thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 02-7-2025 của Toà án
nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng đã quyết định:
5.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thanh T về việc
“Tranh chấp kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Nguyễn Phi
C và bà Nguyễn Thị T1.
4
5.2. Buộc ông Nguyễn Phi C Nguyễn Thị T1 phải trả lại cho ông
Thanh T ông Trần Văn A1 thửa đất số 195, 196, 197 tờ bản đồ số 10 (thửa
đất số 1 tờ bản đồ địa chính TD17-2023, diện tích thực tế 4.553,5m
2
) tại thôn T,
T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay thôn T, T, tỉnh Lâm Đồng) theo mảnh
trích đo địa chính số 17-2023 ngày 02-02-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai Đ.
5.3. Ông Võ Thanh T và ông Trần Văn A1 có nga vthanh toán cho ông
Nguyn Phi C và Nguyn ThT1 stin 332.341.000 đng g trị tài sản tn đất.
5.4. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí
thông báo quyền kháng cáo.
6. Nội dung kháng cáo, kháng ngh:
6.1. Ngày 16-7-2025, b đơn ông Nguyễn Phi C bà Nguyễn Thị T1
kháng cáo, nội dung: Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kết
luận, hành vi biên, bán đấu giá tài sản của Cơ quan Thi hành án không đúng
pháp pháp luật, dấu hiệu tội phạm hình sự, nên các giao dịch liên quan đều
trái pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm, sửa bản án thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
6.2. Ngày 30-7-2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng
kháng nghị bản án sơ thẩm, nội dung: Tài sản của bị đơn bị Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Đ biên, bán đấu giá. Kết quả điều tra của Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát nhân dân tối cao đã xác định Chấp hành viên vi phạm khi tiến hành
cưỡng chế, biên bán đấu giá của bị đơn. Do đó, cần xem xét trình tự, thủ tục
biên, bán đấu giá của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ; kết quả bán đấu
giá của Trung tâm Dch vụ bán đấu giá tài, việc bàn giao bảo vệ quyền lợi
của người mua trúng đấu giá tài sản thi hành án cần thiết. Tuy nhiên, Tòa án
thẩm không đưa Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tham gia tố tụng với
tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chưa xác minh, thu thập đầy
đủ chứng cứ. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng hủy toàn bộ bản
án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
7. Tại phiên tòa phúc thẩm:
7.1. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (người kháng cáo): Giữ
nguyên nội dung kháng cáo trình bày, từ khi tài sản bị biên, bán đấu giá
ông T2, T1 liên tục khiếu nại đến Cơ quan Thi hành án dân sự, Sở pháp
tỉnh Đắk Nông các quan trung ương nhưng đều chuyển đơn giải quyết
theo pháp luật thi hành án, không được hướng dẫn yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền giải quyết kết quả bán đấu giá tài sản. Do đó, tại phiên tòa phúc thẩm đại
diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận
5
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Hủy bản
án sơ thẩm, để bị đơn yêu cầu giải quyết kết quả bán đấu giá tài sản.
7.2. Nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét x không chấp nhận
kháng nghị và kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
7.3. Đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
(ông Phú T2) trình bày: Việc đưa quan dấu gtham gia ttụng không
cần thiết; tại biên bản giao nhận tài sản ngày 30-11-2006 giữa Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Đ Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Đắk Nông đã
bàn giao tài sản trúng đấu giá cho ông Lã Phú T2. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét
xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
7.4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu:
7.4.1. Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã
thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự các văn bản quy
phạm pháp luật liên quan về thụ vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời
điểm nghị án. Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư phiên tòa đã thực hiện đúng,
đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án.
7.4.2. Về nội dung: Tòa án cấp thẩm không đưa Trung tâm Dịch vụ bán
đấu giá tài sản tỉnh Đắk Nông (nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh
Lâm Đồng) vào tham gia tố tụng đưa thiếu người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vào tham gia tố tụng quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Đối với quá trình kê biên, thi hành án của quan Thi hành án nhiều vi
phạm thủ tục như biên vượt quá nghĩa vụ, không làm việc với người phải thi
hành án để chọn tài sản, không xác minh với ngân hàng về việc nghĩa vụ đã
được trả xong... các vi phạm này đã được quan điều tra Viện kiểm sát nhân
dân tối cao kết luận. Trong khi đó ông T2 người trúng đấu giá không sử dụng
đất từ 2009 đến 2022 chuyển nhượng cho nguyên đơn. Việc tranh chấp đất giữa
ông T2 bị đơn ông C, bà T1 chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết (do
đó việc chuyển nhượng vi phạm điểm c khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai năm
2013). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên nội dung
Quyết định kháng nghị phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 3
Điều 308; khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy Bản án dân sự số:
01/2025/DS-ST ngày 02-7-2025, giao hcho Tòa án nhân dân khu vực 8 -
Lâm Đồng giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các chứng
cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ
6
toàn diện các chứng cứ, ý kiến các đương sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:
[1]. Xét kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm
Đồng và kháng o của ông Nguyễn Phi C và Nguyễn Thị T1:
[1.1]. Nguồn gốc các thửa đất đang tranh chấp số 195, 196, 197 tờ bản đồ s
10 (thửa đất số 1 tờ bản đồ địa chính TD17-2023, diện tích thực tế 4.553,5m
2
), tọa
lạc tại thôn T, T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay thôn T, T, tỉnh Lâm
Đồng, do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là Phòng
Thi hành án dân sự khu vực X, thuộc Thi hành án dân sự tỉnh m Đồng) ban
hành quyết định cưỡng chế thi hành án bằng biện pháp biên tài sản; bán đấu
giá tài sản đã biên. Trong quá trình xử tài sản để đảm bảo nghĩa vụ thi
hành bản án dân sự, bị đơn nhiều lần khiếu nại, tố cáo việc kê biên, bán đấu giá
tài sản đã được Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông giải quyết, nội dung:
Khiếu nại, tố cáo của ông C, T1 không căn cứ (bút lục số 159, 180, 268).
Tuy nhiên, Quyết định không khởi tố vụ án số: 07/QĐ-VKSTC-C1 ngày 17-02-
2025 của quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ghi nhận: Hành vi
của Chấp hành viên đã vi phạm các quy định về biên tài sản… gây thiệt hại
về tài sản của người bị thi hành án, có dấu hiệu của tội “Lợi dụng chức vụ quyền
hạn trong khi thi hành công vụ”, song đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự (bút lục số 442). Ngoài ra, tại Văn bản số: 434/CTHADS-TCCB ngày 28-3-
2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông đã xác định: ngày 14-4-2006
ngày 19-9-2006 Chấp hành viên ban hành Quyết định cưỡng chế thi hành án
số: 06/THA Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản với Trung tâm Dịch
vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Đắk Nông vi phạm và việc giải quyết khiếu nại
cũng vi phạm, song đã hết thời hiệu xử kỷ luật, do đó Cục trưởng Cục Thi
hành án dân sự tỉnh Đắk Nông đã phê bình nghiêm khắc (bút lục số 497).
[1.2]. Mặt khác, quá trình thực hiện nghĩa vụ thi hành bản án dân sự (từ
năm 2008) và giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông T với ông
C, T1 tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil (năm 2023): Các đơn khiếu nại,
Biên bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, Biên bản a giải… ông C, bà T1 nhiều
lần khiếu nại, yêu cầu xem xét đối với tnh tự, thủ tục bán đấu giá tài sản đã bị
biên vào năm 2006 (bút lục 50, 51, 102, 175, 184, 324, 326). Đồng thời, tại
phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn cung cấp các đơn khiếu
nại về việc biên tài sản, bán đấu giá tài sản gửi Sở pháp tỉnh Đk Nông
ngày 22-01-2007, ngày 11-7-2008 trình bày: Q trình xử tài sản để đảm
bảo nghĩa vthi hành án đối với với bản án dân sự của Tòa án nhân dân huyện
Đắk Mil ông C, T1 liên tục đơn yêu cầu xem xét về việc cưỡng chế,
7
biên kết quả đấu giá tài sản, nhưng quan thi hành án dân sThanh tra
Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông chỉ giải quyết theo thủ tục khiếu nại của pháp luật thi
hành án dân sự, không hướng dẫn thủ tục yêu cầu giải quyết đối với kết quả đấu
giá tài sản theo quy định của pháp luật. Do đó, đại diện theo ủy quyền bị đơn
đồng ý với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng về việc
hủy bản án sơ thẩm, đồng thời yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với kết quả
bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét
thấy, việc cung cấp tài liệu mới việc thay đổi nội dung kháng cáo của bị đơn
tại phiên tòa phúc thẩm được xem xét, đánh giá là tình tiết mới của vụ án.
[2]. Từ những nhận định nêu tại mục [1] nêu trên, Hội đồng xét xử phúc
thẩm xét thấy để giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đảm bảo quyền, lợi ích
hợp pháp của người thứ ba ngay tình cũng như các đương sự khác trong vụ án
phải đưa Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Đk Nông (nay Trung
tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lâm Đồng) tham gia tố tụng với cách
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đồng thời yêu cầu cung cấp các tài liệu
liên quan mới căn cứ đánh giá trình tự, thủ tục đấu giá tài sản; nghĩa vụ bàn
giao tài sản trúng đấu giá… theo quy định của pháp luật đối với các thửa đất số
195, 196 197, tờ bản đồ số 10, diện tích 4.890m
2
, toạ lạc tại xã T, huyện Đ,
tỉnh Đắk Nông (nay T, tỉnh Đắk Nông). Nvậy, kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng căn cứ cần chấp nhận
chấp nhận nội dung thay đổi kháng cáo của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm: Hủy
Bản án dân sự thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 02-7-2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 8 - Lâm Đồng; giao hồ cho Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng
giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3]. Về án phí và chi phí tố tụng:
[3.1]. Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xemt thẩm định tại chỗ và định giá
i sản sđược xem xét, quyết định khi giải quyết lại vụ án theo thtục thẩm.
[3.2]. Về án phí n sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn
không phải chịu án phí n sự phúc thẩm và đưc trả lại tin tạmng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân s: Chấp
nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng
kháng cáo của bị đơn Nguyễn Phi C, Nguyễn Thị T1: Hủy Bản án Dân sự
thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 02-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm
Đồng; giao hồ cho Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng giải quyết theo
quy định của pháp luật.
8
2. Về án phí chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 3 Điều 148, Điều 157 của B
luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Tòa án:
2.1. Án phí thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định gtài sản:
Sẽ được quyết định khi giải quyết lại ván theo thủ tục sơ thẩm.
2.2. Án phí phúc thẩm: Trả lại cho ông Nguyễn Phi C Nguyễn Thị T
mỗi người 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại
các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000882 ngày 21-7-2025 và số
0000905 ngày 22-7-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ II);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 8 - Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 8 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 8 - Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, THCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Lương Đức Dương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 259/2025/DS-PT Bản án số 259/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 259/2025/DS-PT Bản án số 259/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất