Bản án số 379/2026/DS-PT ngày 03/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 379/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 379/2026/DS-PT ngày 03/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 379/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm về việc cho lưu cư
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 379/2026/DS-PT Bản án số 379/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 379/2026/DS-PT Bản án số 379/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 379/2026/DS-PT
Ngày: 03-7-2026
V/v Tranh chấp đòi lại tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Phương, ông Nguyễn Anh Dng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông
Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng Cơ sở
1 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 233/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng 4
năm 2026 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 430/2026/QĐ-PT ngày
05/6/2026 Quyết định hoãn phiên toà số 353/2026/QĐ-PT ngày 25/6/2026 ca
Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Huỳnh Thị H, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn A L, L, tỉnh
Lâm Đồng.
- Bị đơn: Thị Kim T, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn A L, L, tỉnh Lâm
Đồng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1980
+ Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 2000
+ Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 2001
+ Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2004
+ Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 2008
+ Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 2011
+ Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2014
2
Cùng địa chỉ: Thôn A L, xã L, tỉnh Lâm Đồng.
+ Ông Lê Chí P; sinh năm 1989
+ Bà Lê Thị H1; sinh năm 1991
+ Ông Lê Chí C, sinh năm 1998.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông P, H1, ông C: Huỳnh Thị H, sinh
năm 1969, cùng địa chỉ: Thôn A L, xã L, tỉnh Lâm Đồng.
Do có kháng cáo của b đơn bà Lê Th Kim T.
Tại phiên toà có mặt: bà Huỳnh Thị H, bà Thị Kim T, ông Nguyễn Thanh D
và anh Nguyễn Văn D1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Trước đây vchồng nguyên đơn (ông Chí M,
Huỳnh Thị H), c Đặng Thị B1 (c B1 là dì ruột của ông M), sống cùng nhà trên thửa
đất của cụ B1 tọa lạc tại khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận c. Tại thời
điểm này trên đất đã có căn nhà của c B1 tạo lập. Còn mẹ con bà Đặng Thị L,
Thị Kim T sống gần nhà cụ B1. C B1, L ông M quan hệ họ hàng, T
cháu ông M.
Thời gian sau, vợ chồng nguyên đơn tạo lập được nhà đất nơi khác cng
thuộc khu phố A, thị trấn L, huyện T nên vợ chồng nguyên đơn dọn đến đây để ở.
Khi vợ chồng nguyên đơn dọn đi thì mẹ con bà L dọn vào ở cùng c B1 tại căn
nhà của cụ B1.
Đến vào năm 2010, mặc vợ chồng nguyên đơn không cùng c B1 nhưng
do vợ chồng nguyên đơn thường xuyên lui tới phụng dưỡng chăm lo c B1 nên c B1
cho vợ chồng nguyên đơn nhà đất. Chồng nguyên đơn (ông M) đi đăng cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất. Đến ngày 05/11/2010, UBND huyện T cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với thửa
đất số 45, tờ bản đồ số 47, diện tích 74,2m
2
, đất ở đô thị tọa lạc tại khu phố A, thị trấn
L, huyện T, tỉnh Bình Thuận cho ông Chí M bà Huỳnh Thị H, số sổ BD
040644.
Khi c B1 chết, L T (con của bà L) vẫn sống trong căn nhà hiện đang
tranh chấp.
Năm 2020, L chết. Ông M yêu cầu T trả nhà cho vchồng nguyên đơn,
ông M sẽ h trợ số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cho T để T di dời
tìm nơi khác. T cng đồng ý trả nhà nhưng xin cho tạm lại vài tháng đến khi
mãn tang mẹ bà (bà L) thì bà T trả nhà và dọn đi.
Tháng 3 năm 2022, ông M chết. Cùng năm 2022, sau khi mãn tang bà L (mẹ bà
T) nguyên đơn nhu cầu lấy lại nhà đất, nguyên đơn mới yêu cầu T trả lại nhà
nhưng T không thực hiện lời hứa, không trả nhà đất cho nguyên đơn nên nguyên
đơn mới khởi kiện yêu cầu bà T trả lại nhà đất.
Tuy nhiên do nguyên đơn không rành chữ nghĩa nhiều nên khi khởi kiện
nguyên đơn yêu cầu Thị Kim T nghĩa vụ di dời và trả lại tài sản nhà
3
đất diện tích 82,9m
2
, đất đô thị tọa lạc tại khu phố A, thị trấn L, huyện T, thửa
đất số 183, tbản đsố 57 do UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông Chí M Huỳnh Thị H, cấp ngày 24/8/2017, số sổ CE 637263.
Sau khi biết nhầm lẫn nên nguyên đơn có sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện.
Nguyên đơn xác định: Yêu cầu Lê Thị Kim T cùng chồng và các con T
hiện đang sống trên đất nghĩa vụ di dời, trả lại cho nguyên đơn các con của
nguyên đơn (người kế thừa của ông Chí M) nhà đất tọa lạc tại thửa đất số 45, tờ
bản đồ số 47, diện tích 74,2m
2
, đất ở đô thị tọa lạc tại khu phố A, thị trấn L, huyện T,
tỉnh Bình Thuận (nay Thôn C, xã L, tỉnh Lâm Đồng), đất do UBND huyện T cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất
cho ông Chí M bà Huỳnh Thị H, số sổ BD 040644, cấp ngày 05/11/2010.
Nguyên đơn sẽ h trợ chi phí di dời cho bà Lê Thị Kim T cùng chồng và các con bà T
số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng).
Bị đơn trình bày: Tài sản nhà và đất đang tranh chấp nguồn gốc nhà của
c Đặng Thị B1 (c B1 ngoại thứ của bị đơn). Khi bị đơn còn nhỏ, bị đơn mẹ
(bà L) sống tại nhà cụ B1 cho đến khi cụ chết. Trong quá trình sống chung, mẹ bị đơn
nuôi dưỡng chăm sóc cụ B1, nên c B1 lời cho mẹ bị đơn căn nhà này, việc
cho không thể hiện giấy tờ chỉ nói miệng, nhưng do mẹ bị đơn không đi đăng
khai cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất nên đến nay tài sảnnhà đất nêu
trên không phải do mẹ bị đơn đứng tên.
Sau khi c B1 chết, mẹ con bị đơn vẫn tiếp tục sống trên nhà đất này. Được
một thời gian thì ông M gặp và yêu cầu mẹ con bị đơn trả nđất, thì bị đơn mới
biết nhà đất này ông M đã đứng tên sỡ hữu. Ông M có nói với mẹ bị đơn là “sẽ cho bị
đơn một số tiền để dọn đi ra khỏi nhà tìm ch khác để trả nhà đất cho ông M, riêng
bà L thì được ở cho đến hết cuộc đời”. Nghe ông M nói như vậy thì bị đơn cng đồng
ý với ý kiến ông M đề ra nhưng thực tế ông M không thực hiện lời hứa, không cho bị
đơn tiền nên bị đơn không dọn đi tiếp tục trên tài sản tranh chấp này cho đến
nay.
Đến năm 2024, H yêu cầu bị đơn trả lại nhà đất nêu trên, bị đơn cng
đồng ý trả lại tài sản nhà đất nêu trên cho bà H nhưng với điều kiện bà H phải cho gia
đình bị đơn ở thêm vài năm nữa và phải cho bị đơn một số tiền.
Hiện nay, trên tài sản tranh chấp ngoài bị đơn trên tài sản tranh chấp còn
chồng và các con của bị đơn cng ở tại đây.
Nay, Huỳnh Thị H yêu cầu bị đơn chồng con bị đơn phải di dời, trả lại
cho nguyên đơn tài sản nhà đất thì bị đơn đồng ý trả lại nhà đất theo yêu cầu
khởi kiện của bà H nhưng với điều kiện bà H phải cho gia đình bị đơn thêm khoảng
vài năm nữa h trợ cho bị đơn một số tiền khoảng 50.000.000đồng (năm mươi
triệu đồng) để gia đình bị đơn có điều kiện di dời mua nhà đất khác để ở.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ông Chí P, bà Thị H1, ông
Chí C (các con của nguyên đơn) trình bày: Thống nhất theo phần trình bày của
nguyên đơn.
Người nghĩa vụ quyền lợi liên quan: ông Nguyễn Văn D1, Nguyễn Thị
Thanh T1, ông Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Kim O, ông Nguyễn Văn B,
4
Nguyễn Thị Thanh N-là chồng con bị đơn không đến Tòa án làm việc nên Tòa án
không ghi nhận được lời trình bày.
Tại Bản án dân sự thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 14 – m Đồng quyết định:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều
228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội quy
định về sửa đổi, bsung một số điều của Bộ luật ttụng dân sự, Luật ttụng hành
chính, Luật Tư Pháp người chưa thành niên, Luật phá sản Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án.
- Điều 166; khoản 1 Điều 579 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Khoản 2, khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2. Buộc Thị Kim T, ông Nguyễn Thanh D, ông Nguyễn Văn D1,
Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Kim O, ông Nguyễn
Văn B, Nguyễn Thị Thanh N nghĩa vụ trả lại cho Huỳnh Thị H, ông Lê Chí
P, bà Lê Thị H1, ông Lê Chí C tài sản là nhà và đất thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số
47, diện tích 74,2m
2
(qua đo đạc thực tế là 64.9m
2
), đất ở đô thị tọa lạc tại khu phố A,
thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận -nay là Thôn C, xã L, tỉnh Lâm Đồng do Ủy ban
nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận (c) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông Lê Chí M và bà Huỳnh Thị H,
số sổ BD 040644, cấp ngày 05 tháng 11 năm 2010.(Kèm theo sơ đồ đo đạc vị trí thửa
đất do Chi nhánh Văn phòng Đ ký duyệt ngày 25 tháng 4 năm 2025).
3. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn vhổ trợ chi phí di dời, cụ thể như
sau: bà Huỳnh Thị Hồng H2 trợ số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) chi phí di
dời cho Thị Kim T, ông Nguyễn Thanh D, ông Nguyễn Văn D1, Nguyễn
Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Kim O, ông Nguyễn Văn B,
Nguyễn Thị Thanh N.
Ngoài ra, bản án còn tuyên các quy định khác vquyền và nghĩa vụ thi hành
án, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp
luật.
Ngày 11/02/2026, bị đơn Thị Kim T kháng cáo đề nghị Tòa án cp phúc
thm sa bản án thẩm theo hướng không chp nhn yêu cu khi kin hoc cho
tăng mức h tr cho bà T 50.000.000 đồng.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- B đơn ngưi kháng cáo trình bày: B đơn đồng ý tr nhà cho nguyên đơn
nhưng đ ngh cho b đơn lưu khoảng 02 năm nguyên đơn h tr b đơn
50.000.000đ để to lp ch mi.
- Nguyên đơn đồng ý h tr thêm cho b đơn 10.000.000đ. Tổng cng là
20.000.000đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu việc kiểm sát tuân
theo pháp luật trong vụ án:
+ Về thủ tục: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng người
tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn Lê Thị Kim T là không căn cứ. Đ
nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án thẩm số 04/2026/DS-ST
ngày 22/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 Lâm Đồng. Ghi nhận s t
nguyn của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án đ được thẩm tra tại
phiên tòa phúc thẩm; trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện c tài liệu, chứng cứ, ý
kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét
xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, những người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan chị Nguyễn Thị Thanh T1, anh Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị Kim O đã
được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị Thanh
N, anh Chí P, chị Thị H1, anh Chí C đã người đại diện hợp pháp tham
gia nên Hội đồng xét x tiến hành xét x vng mt theo khoản 3 Điều 296 B lut T
tng dân s.
[2] Căn cứ tài liệu do Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp, có đủsở xác định:
thửa đất số 45, tờ bản đồ số 47, diện tích 74,2m², tọa lạc tại khu phố A, thị trấn L,
huyện T, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn C, L, tỉnh Lâm Đồng) đã được UBND
huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 040644 ngày 05/11/2010
cho ông Chí M Huỳnh Thị H. Tthời điểm được cấp giấy chứng nhận đến
nay, thửa đất này chưa được chuyển nhượng cho bất kỳ nhân nào khác. Quá trình
giải quyết vụ án, các đương sự đều thống nhất nhà, đất tranh chấp là tài sản trước đây
do c Đặng Thị B1 tạo lập; sau đó quyền sử dụng đất được cấp cho ông M H.
Bị đơn cng thừa nhận thửa đất tranh chấp thuộc quyền s dụng hợp pháp của
nguyên đơn và đồng ý giao trả tài sản nhưng kèm theo điều kiện nguyên đơn phi
h tr 50.000.000đ. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc bị
đơn cùng các thành viên trong gia đình giao trả nhà, đất cho nguyên đơn và những
người thừa kế của ông M là có căn cứ.
[3] Đối với khoản tiền h trợ di dời, tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện h trợ
cho bị đơn cùng các thành viên gia đình thêm số tiền 10.000.000 đồng, tng cng là
6
20.000.000đ, nên Hội đồng xét x ghi nhận. Không căn cứ buộc nguyên đơn phi
h tr 50.000.000đ như ý kiến ca b đơn.
[4] V yêu cầu lưu cư của b đơn: Gia đình, con cái ca b đơn (08 người) đang
sinh sng tại căn nhà tranh chp là có s đng ý ca bà c B1 và v chng ông M.
Hiện nay gia đình b đơn rt khó khăn trong vic to lp ch mi, trong khi nguyên
đơn nhà ổn đnh, không có khó khăn bc thiết v nơi ở. Để tạo điều kin cho b
đơn tạo lập nơi mi, xét thy nên cho b đơn các thành viên trong gia đình được
quyền lưu cư trong thời gian 01 năm, kể t ngày bn án có hiu lc pháp lut.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy kháng cáo của bđơn
đưc chp nhn mt phần, đồng thi cp phúc thm s sa án thẩm, ghi nhn s
nguyn của nguyên đơn về khon h tr cho b đơn.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của bđơn đưc chp nhn mt phn nên
Thị Kim T không không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Thị Kim T, ghi nhn s t
nguyn của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thm; sửa bản án dân sự thẩm số
04/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 14 Lâm
Đồng.
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Điều 166, khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 26; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2. Buộc Thị Kim T, ông Nguyễn Thanh D, anh Nguyễn Văn D1, ch
Nguyễn Thị Thanh T1, anh Nguyễn Văn T2, ch Nguyễn Thị Kim O, anh Nguyễn
Văn B, ch Nguyễn Thị Thanh N nghĩa vụ trả lại cho bà Huỳnh Thị H, ông Lê Chí
P, bà Lê Thị H1, ông Lê Chí C tài sản là nhà và đất thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số
47, diện tích 74,2m
2
(qua đo đạc thực tế là 64.9m
2
), đất ở đô thị tọa lạc tại khu phố A,
thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận -nay là Thôn C, xã L, tỉnh Lâm Đồng do Ủy ban
nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận (c) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông Lê Chí M và bà Huỳnh Thị H,
số sổ BD 040644, cấp ngày 05 tháng 11 năm 2010. Thị Kim T, ông Nguyễn
7
Thanh D và các con được quyền lưu cư trong thi hạn 01 năm. Thời điểm tr nhà, đất
sau 01 năm, kể t ngày Bn án có hiu lc pháp lut.
(Kèm theo đồ đo đạc vị trí thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đ duyệt
ngày 25 tháng 4 năm 2025).
3. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn vh trợ chi phí di dời, cụ thể như
sau: Huỳnh Thị H h trợ số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) chi phí di
dời cho Thị Kim T, ông Nguyễn Thanh D, ông Nguyễn Văn D1, Nguyễn
Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Kim O, ông Nguyễn Văn B,
Nguyễn Thị Thanh N.
2. Án phí:
- Về án phí thẩm: Bà Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bà Huỳnh Thị H tự nguyện nộp thay án phí
dân sự sơ thẩm cho bà T nên được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí
dân sự thẩm nguyên đơn đã nộp theo biên lai số: 0007232 ngày 27 tháng 11
năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận- nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 - Lâm Đồng. Do vậy, tiền án phí dân sự
thẩm đã nộp đủ.
- V án pphúc thm: Thị Kim T không phải chịu án phí dân s phúc
thm. Tr li cho bà T 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số
0003223 ngày 03/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/7/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND, VKS khu vực 14 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 14 – Lâm Đồng;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Quản
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 379/2026/DS-PT Bản án số 379/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 379/2026/DS-PT Bản án số 379/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất