Bản án số 0552/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 0552/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 0552/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 0552/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu Tòa án giải quyết
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 0552/2026/DS-PT Bản án số 0552/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 0552/2026/DS-PT Bản án số 0552/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 552/2026/DS-PT
Ngày: 26-6-2026
V/v “Tranh chấp chia thừa kế
chia tài sản thuộc sở hữu
chung”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Bình.
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư phiên tòa: Ông i Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05/02/2026, ngày 05/3/2026, ngày 19/6/2026 ngày
26/6/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công
khai vụ án thụ số: 937/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2025, về việc
“Tranh chấp chia thừa kế và chia tài sản thuộc sở hữu chung”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 150/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân n Khu vực B - Đồng Tháp bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 221/2026/QĐ-PT
ngày 08 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Trần Đăng K, sinh
năm 1996 (có mặt); Địa chỉ: ấp M, T, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy ủy quyền
ngày 02/02/2026.
2. Bị đơn:Lê Thị X, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Số A, Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo y quyền của b đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh
năm 1991 (có mặt); Địa chỉ: Số A, Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp theo
Giấy ủy quyền ngày 24/6/2025.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1962 (vắng mặt);
2
Địa chỉ: Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1966 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố A, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
3.3. Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1983 (vắng mặt, đơn xin xét xử
vắng mặt);
Địa chỉ: Số A, Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
3.4. Anh Nguyễn Thông M, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Số A, Phùng Tấn C, khu phố E, phường A, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Thông M: Chị Phạm Thị
Tuyết M1, sinh năm 1978 (có mặt); Địa chỉ: Khu V, phường V, Thành phố Cần
Thơ theo Giấy ủy quyền ngày 30/7/2025.
3.5. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1991 (có mặt);
Địa chỉ: Số A, Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
4. Người kháng cáo: Bị đơn Thị X, người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M, anh Nguyễn Thanh H.
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu
vực B - Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết N trình bày: Vào ngày 26/5/2020,
cụ Bạch Thị L1 sinh ngày 01/01/1931 lập di chúc để lại cho N toàn bộ
thửa đất số 305, tờ bản đồ 38, diện tích 56m
2
tại Khu phố B, Phường A, thị xã C,
tỉnh Tiền Giang vật, tiền, giấy tờ giá, bất động sản, động sản khác thuộc
quyền sở hữu, quyền sử dụng của cụ Bạch Thị L1, N là con ruột của cụ Bạch
Thị L1.
Đến ngày 19/7/2021, c Bch Th L1 chết, N tìm Giy chng nhn
quyn s dụng (QSD) đất đ khai nhn di sn tha kế nhưng không thấy.
Th X cùng các con Nguyn Thanh H, Nguyn Minh T1 và Nguyn Thông M và
dâu Hunh Kim T2 nhp h khẩu vào tháng 11/2020 nhưng ch Th
X sinh sống trong căn nhà đại đoàn kết do Nhà nước trao tng cho c L1.
Nguyn Th Tuyết N yêu cu Tòa án gii quyết: Công nhn Di chúc
do c Bch Th L1 lp ngày 26/5/2020 ti Văn phòng C1, tnh Tin Giang
hiu lc mt phn. Chia tha kế theo di chúc hiu lc mt phn cho N
được hưởng ¼ phần QSD đất chung ca h c L1 din tích 14m
2
nm trong tha
đất s 305, t bản đồ 38, din tích 56m
2
ti Khu ph B, Phường A, th xã C, tnh
Tin Giang căn nhà Đ xây dựng trên đất. N xin nhn toàn b thửa đất
t nguyn thanh toán li cho Nguyễn Văn L, Nguyn Th Bch T Nguyn
Văn B giá tr chênh lch.
3
B đơn Th X trình bày: Cha, m chng ca c Nguyễn Văn
L2 (đã chết t lâu) c Bch Th L1 (sinh năm 1931, chết năm 2021). Cụ L2
c L1 04 người con gm: Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn L, Nguyn Th
Bch T và Nguyn Th Tuyết N.
Năm 1978, cụ L2 c L1 hỏi cưới bà cho ông Nguyễn Văn B (đã chết
năm 2021). X cùng vi ông Nguyễn Văn B 03 người con gm: Nguyn
Thanh H, Nguyn Minh T1 và Nguyn Thông M.
Theo li c L2 k thì trước đây gia đình rất nghèo nên đưc cho phn đất
56m
2
đ ct nhà lá sinh sng. C L2 chết bà X là người lo đám tang và chôn ct.
Sau đó c L1 ông L vn sinh sống trên ngôi nhà này. Đến năm 2000, thấy
ông L b bnh, c L1 già yếu không người chăm sóc nên gia đình X gm:
X, ông Nguyễn Văn B, T1, M và H dn v sng chung ông L, c L1.
Sau đó Nhà nước cho m chng s tiền 40.000.000 đng xây dng nhà
tình thương, ng thợ 15.000.000 đồng, n lại 25.000.000 đồng không đủ
nên gia đình bà b ra đôn nền, đổ tông, lp mái lại và đăng điện, nước
để s dng. Sau này c L1 chuyn qua với con i nhưng bà vn tới lui chăm
sóc cho c L1.
Đến năm 2006, thấy nhà, đất chưa được cp giy nên bà X b tin ra làm
giy t đất cho gia đình và đ cho c L1 đứng tên, ngày 19/6/2006, y ban nhân
dân (UBND) huyn C cp Giy chng nhận QSD đt tha 305, t bản đồ 38,
din tích 56m
2
ti Khu ph B, Phường A, th C, tnh Tin Giang; lúc này
X vẫn chưa nhập h khu v chung vi gia đình, đến năm 2019 bà X mi
chuyn h khu v căn nhà này.
Sau khi c L1 ngã bnh, cùng chồng người chăm sóc cho cụ L1,
năm 2019 thì bà N c c L1 v chăm sóc nhưng bà N thưng chi mng c
L1. Hin nay bà cùng các con và ông L sống chung căn nhà nêu trên.
Bà X không đồng ý yêu cu khi kin ca bà Nguyn Th Tuyết N vi các
do: đã sng trên thửa đt 305 rt nhiều năm không phát sinh tranh chp
với ai trong gia đình đến khi c L1 mất. Gia đình đã bỏ tin tu b, tôn to
nhà, đất, căn nhà cũng do vợ chng bà và các con góp tiền vào để xây dng hoàn
thành, N không công sc. Thửa đất 305 cp cho h c Bch Th L1, vào
thời điểm cp giy h c L1 gồm gia đình bà, c L1, ông L, c L1 ch đại din
h gia đình đng tên trên giy chng nhận QSD đt. Thửa đất và căn nhà chỗ
duy nht ca bà và các con, ngoài ra không còn QSD đất nào khác. Bà yêu cu
đưc tiếp tc sinh sống trong ngôi nhà để th ng ông, t tiên. Vì vy X
yêu cu Tòa án bác toàn b yêu cu khi kin ca bà N.
Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L trình y:
Ông L đồng ý mt phn vi yêu cu khi kin ca bà Nguyn Th Tuyết N, vì:
Nguồn gốc thửa đất số 305, tờ bản đồ số 38, diện tích 56m
2
tọa lạc tại Khu
phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tài sản chung của cha mông
là cụ Bạch Thị L1 (chết năm 2021) và cụ Nguyễn Văn L2 (chết năm 1986) đã sử
dụng ổn định trước năm 1975 chứ không phải là tài sản chung của hộ gia đình.
4
Năm 1986 cha của ông chết không để lại di chúc do đó ½ thửa đất trên
tài sản chung chưa chia của các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
cha ông gồm 05 phần: Bạch Thị L1, Nguyễn Văn B (chết năm 2021, có vợ là bà
Thị X 03 đứa con Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thông M, Nguyễn Thanh
H), Nguyễn Thị Bạch T, Nguyễn Thị Tuyết N ông L. Mỗi phần tương ứng
1/10 thửa đất số 305 là diện tích đất 5,6m
2
.
Còn đối với căn nhà trên thửa đất số 305 nhà đại đoàn kết được cấp
riêng cho cụ Bạch Thị L1 vào năm 2016, cụ L1 đã lập di chúc cho N, ông
đồng ý nội dung di chúc.
Riêng đối với phần di sản thừa kế của cha chết để lại đã chuyển thành tài
sản chung chưa chia của các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha
thì ông xin được nhận.
Ông L yêu cầu giải quyết:
- Xác định thửa đất số 305, tờ bản đồ số 38, diện tích 56m
2
tọa lạc tại Khu
phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang là tài sản chung của cụ Bạch Thị L1
(chết năm 2021) và cụ Nguyễn Văn L2 (chết năm 1986);
- Chia tài sản chung của các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
cụ Nguyễn Văn L2 đối với ½ thửa đất số 305, tờ bản đồ số 38, diện tích 56m
2
tọa lạc tại Khu phố B, Phường A, thị C, tỉnh Tiền Giang làm 05 phần bằng
nhau, trong đó ông L được nhận một phần, mỗi phần được nhận diện tích đất
5,6m
2
, đồng ý giao cho N được nhận toàn bộ thửa đất, yêu cầu N thanh
toán cho ông giá trị phần đất được nhận theo giá của Hội đồng định giá, tạm tính
khoảng 20.000.000 đồng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bạch T trình
bày: T đồng ý một phần với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Tuyết N,
vì:
Nguồn gốc thửa đất số 305, tờ bản đồ số 38, diện tích 56m
2
tọa lạc tại Khu
phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tài sản chung của cha mcủa
T cụ Bạch Thị L1 (chết năm 2021) và cụ Nguyễn Văn L2 (chết năm 1986)
đã sử dụng ổn định trước năm 1975 chứ không phải tài sản chung của hộ gia
đình.
Năm 1986 cha của bà T chết không để lại di chúc do đó ½ thửa đất trên là
tài sản chung chưa chia của các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
cha gồm 05 phần: Bạch Thị L1, Nguyễn Văn B (chết năm 2021, v
Thị X 03 đứa con Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thông M, Nguyễn Thanh
H), Nguyễn Thị Bạch T, Nguyễn Thị Tuyết N ông L. Mỗi phần tương ứng
1/10 thửa đất số 305 là diện tích đất 5,6m
2
.
Còn đối với căn nhà trên thửa đất số 305 nhà đại đoàn kết được cấp
riêng cho mcụ Bạch Thị L1 vào năm 2016, cL1 đã lập di chúc cho N thì
bà T đồng ý nội dung di chúc.
5
Riêng đối với phần di sản thừa kế của cha chết để lại đã chuyển thành tài
sản chung chưa chia của các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha
thì bà T xin được nhận.
Nguyễn Thị Bạch T yêu cầu giải quyết:
- Xác định thửa đất số 305, tờ bản đồ số 38, diện tích 56m
2
tọa lạc tại Khu
phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang là tài sản chung của cụ Bạch Thị L1
(chết năm 2021) và cụ Nguyễn Văn L2 (chết năm 1986);
- Chia tài sản chung của các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
cụ Nguyễn Văn L2 đối với ½ thửa đất số 305, tờ bản đồ số 38, diện tích 56m
2
tọa lạc tại Khu phố B, Phường A, thị C, tỉnh Tiền Giang làm 05 phần bằng
nhau, trong đó bà T được nhận một phần, mỗi phần được nhận diện tích đất
5,6m
2
, đồng ý giao cho N được nhận toàn bộ thửa đất, yêu cầu N thanh
toán cho T giá trị phần đất được nhận theo giá của Hội đồng định giá, tạm
tính khoảng 20.000.000 đồng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh H, anh
Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M thống nhất trình y: Năm 2004,
ông Nguyễn Văn B sống chung với cụ Bạch Thị L1. Ngày 19/6/2006, hộ cụ
Bạch Thị L1 được cấp QSD đất diện tích 56,9m
2
thuộc thửa đất số 305, tờ bản
đồ số 38 tại Khu phố B, Phường A, thị C, tỉnh Tiền Giang. Trên đất căn
nhà cấp 4 xây dựng tháng 6/2016 do Nhà nước hỗ trợ 40.000.000 đồng, ông
Nguyễn Văn B thêm 75.000.000 đồng. H cụ L1 tại thời điểm cấp giấy
chứng nhận có 03 người gồm: cụ Bạch Thị L1, ông Nguyễn Văn B ông
Nguyễn Văn L.
Ngày 26/5/2020, cụ Bạch Thị L1 lập di chúc đlại đất tài sản gắn
liền với đất cho Nguyễn Thị Tuyết N. X, anh H, anh M, anh T1 không
đồng ý yêu cầu yêu cầu chia thừa kế hưởng theo di chúc của Nguyễn Thị
Tuyết N; yêu cầu được sử dụng diện tích đất 18,96m
2
và toàn bộ căn nhà trên
đất; yêu cầu tuyên bố di chúc hiệu do đất cấp cho hộ nên cụ Bạch Thị L1
không quyền định đoạt toàn bộ. Văn phòng Công chứng không chứng minh
cụ Bạch Thị L1 tinh thần minh mẫn, sáng suốt để lập di chúc cụ L1 bị bệnh
nặng từ năm 2014 đến khi chết tinh thần không còn minh mẫn. Phần di sản
của cụ L1 chia làm 04 phần: X, anh H, anh M, anh T1 được chia phần của
ông Nguyễn Văn B; ai nhận nhà, đất thì hoàn trả lại giá trị cho những người thừa
kế còn lại.
Tại Bản án dân sự thẩm số 150/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp (viết tắt bản án thẩm) đã
xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết N,
yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Bạch T.
1.1. Xác định diện tích đất 28,45m
2
đất ODT trong tổng diện tích đất đo
đạt thực tế 56,9m
2
thuộc thửa đất số 305, tờ bản đồ số 38 tại Khu phố B, phường
6
M, tỉnh Đồng Tháp tài sản chung của cụ Bạch Thị L1, ông Nguyễn Văn B,
ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Tuyết N và bà Nguyễn Thị Bạch T.
- Chia cho Nguyễn Thị Tuyết N diện tích đất 28,45m
2
ODT trong tổng
diện tích đất đo đạc thực tế 56,9m
2
đất ODT thuộc thửa đất số 305, tờ bản đồ số
38 tại Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Buộc N phải nghĩa vụ thanh toán lại cho những người thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn B gồm: Thị X, anh Nguyễn Minh
T1, anh Nguyễn Thông M và anh Nguyễn Thanh H số tiền 52.894.200 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ghi nhận ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Bạch T không yêu cầu bà
Nguyễn Thị Tuyết N thanh toán lại giá trị phần đất ông L T được hưởng
trong khối tài sản chung của 05 người.
1.2. Xác định di sản của cụ Bạch Thị L1 để lại gồm: diện tích đất 34,14m
2
ODT trong tổng diện tích đất đo đạc thực tế 56,9m
2
thuộc thửa đất số 305, tờ bản
đồ số 38 tại Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp toàn bộ căn nhà Đ xây
dựng trên đất có diện tích 39,69m
2
kết cấu nền gạch, vách tường, cốt bê tông cốt
thép, mái lợp tôn.
Chia cho Nguyễn Thị Tuyết N được hưởng toàn bộ di sản của cụ Bạch
Thị L1 để lại theo di chúc do cụ L1 lập ngày 26/5/2020 gồm: diện tích đất
34,14m
2
ODT trong tổng diện tích đất đo đạc thực tế 56,9m
2
thuộc thửa đất số
305, tbản đồ số 38 tại Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp toàn bộ căn
nhà Đ xây dựng trên đấtdiện tích 39,69 m
2
kết cấu nền gạch, vách tường, cốt
bê tông cốt thép, mái lợp tôn.
1.3. Nguyễn Thị Tuyết N quyền liên hệ với quan thẩm quyền
đăng cấy Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà đối với đất tài
sản trên đất diện tích đất đo đạc thực tế 56,9m
2
thuộc thửa đất số 305, tbản đồ
số 38 tại Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp theo quy định của Luật đất đai.
Vị trí, diện tích thửa đất thể hiện trên phiếu xác nhận kết quả đo đạc thửa
đất đính kèm bản án.
1.4. Buộc Thị X, anh Nguyễn Thanh H phải nghĩa vụ di dời tài
sản nhân ra khỏi căn nhà trên thửa thuộc thửa đất s305, tbản đsố 38 tại
Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp để giao cho bà Nguyễn Thị Tuyết N khi
N thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán số tiền 52.894.200 đồng cho X, anh
H, anh T1 và anh M.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ
thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
7
- Ngày 22/9/2025, bị đơn bà Lê Thị X và những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M, anh Nguyễn Thanh H
lần lượt đơn kháng cáo đề ngày 19/9/2025, cùng yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
+ Xác định lại phần đất diện tích 56,9m² tọa lạc tại số A, Khu phố B,
phường M, tỉnh Đồng Tháp thuộc QSD của hộ cụ Bạch Thị L1, thành viên hộ
gồm 03 người Bạch Thị L3, ông Nguyễn Văn L ông Nguyễn Văn B.
Các thừa kế của ông Nguyễn Văn B được quyền sử dụng 1/3 QSD đất trên.
+ Tuyên bố Di chúc lập ngày 26/5/2020 của cụ Bạch Thị L3 vô hiệu.
+ Công nhận căn nhà xây trên phần đất diện tích 56,9m² tọa lạc tại số A,
Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp thuộc sở hữu chung của hộ gia đình.
Các thừa kế của ông Nguyễn Văn B được quyền sở hữu 1/3 giá trị căn nhà.
+ Giao nhà và đất cho các thừa kế của ông Nguyễn Văn B, đồng ý hoàn
lại giá trị QSD nhà và đất cho nguyên đơn.
- Ngày 02/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực B -
Đồng Tháp ban hành Quyết định số 06/QĐ-VKS-DS kháng nghị toàn bộ bản án
thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án thẩm chuyển
hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp thay đổi
kháng nghị của
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh H đồng thời
là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lê Thị X yêu cầu Hội đồng xét xử
chấp nhận kháng cáo của anh H và bà X như nêu trên. Bởi các căn cứ như: Diện
tích đất 56,9m
2
thuộc thửa 305, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại số A, Khu phố B,
phường M, tỉnh Đồng Tháp, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm
2006 cho hộ cBạch Thị L1, tại thời điểm giấy chứng nhận được cấp thì hộ cụ
L1 03 thành viên gồm: cụ Bạch Thị L1, ông Nguyễn Văn L ông Nguyễn
Văn B. Khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 quy định về hộ gia đình sử
dụng đất, ông B con ruột của cụ L1, quan hệ huyết thống với cụ L1
đang sinh sống chung với cụ L1 tại thời điểm Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất, nên đủ điều kiện thành viên hộ gia đình sử dụng đất. Điều 212 Bộ
luật Dân sự quy định tài sản chung của các thành viên gia đình được chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt theo thỏa thuận của các thành viên. Cụ L1 chỉ người đại
diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không quyền tự mình
định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất của hộ gia đình. vậy, di chúc ngày
26/5/2020 của cL1 định đoạt toàn bộ thửa đất không phù hợp với quy định
tại Điều 209 và khoản 2 Điều 212 Bộ luật Dân sự, nên không có hiệu lực đối với
phần tài sản thuộc quyền của các thành viên khác trong hộ. Đối với căn nhà trên
đất, vợ chồng ông Nguyễn Văn BLê Thị X có đóng góp công sức, tiền của
để xây dựng, nên đnghị chia giá trị căn nhà cho các thành viên trong hộ, theo
8
đó các thừa kế của ông Nguyễn Văn B được quyền sở hữu 1/3 giá trị căn nhà.
Yêu cầu được giao nhà đất cho các thừa kế của ông Nguyễn Văn B, đồng ý
hoàn lại giá trị QSD nhà và đất cho nguyên đơn.
- Chị Phạm Thị Tuyết M1 người đại diện theo ủy quyền của người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thông M trình bày: Đối với di chúc,
theo văn bản trả lời của Văn phòng C1 thì trình tự, thủ tục công chứng được
thực hiện đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất được cấp cho
hộ gia đình, nên cụ L1 không quyền định đoạt toàn bộ diện tích đất. Do đó,
việc công chứng nội dung di chúc định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất là không
phù hợp. Đối với căn nhà, theo biên bản xác minh của Viện kiểm sát nhân dân
Khu vực B - Đồng Tháp thì Hội Người cao tuổi hỗ trợ stiền 39.000.000 đồng;
đồng thời xác định tiền công xây dựng khoảng 15.000.000 đồng, với số tiền còn
lại khoảng 24.000.000 đồng thì không đủ để xây dựng căn nhà như hiện trạng
hiện nay. vậy, sxác định gia đình ông B đóng góp thêm chi phí
xây dựng, nên đề nghị chia giá trị căn nhà cho các thành viên trong hộ, theo đó
các thừa kế của ông Nguyễn Văn B được quyền sở hữu 1/3 giá trị căn nhà.
Ngoài ra, tại thời điểm lập di chúc, cụ L1 đã bị tai biến, khả năng phát âm không
còn rõ ràng. Di chúc có hai người làm chứng nhưng những người này chưa được
lấy lời khai. Theo chị M1, cần triệu tập hai người làm chứng để làm rõ tình trạng
sức khỏe, nhận thức của cụ L1 tại thời điểm di chúc. Từ những căn cứ trên,
chị M1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Thông
M.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh T1 vắng mặt
có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Anh Trần Đăng K người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
Nguyễn Thị Tuyết N trình bày: Không thống nhất kháng cáo của X, anh T1,
anh M anh H bởi lẽ: Về ttụng, việc đưa Văn phòng Công chứng vào tham
gia tố tụng là không cần thiết. Trong vụ án này, bị đơn và những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập về việc
tuyên bố văn bản công chứng hiệu, cũng không yêu cầu bồi thường thiệt
hại đối với Văn phòng C1; Văn phòng C1 cũng không liên quan gì đến việc chia
di sản thừa kế. n cứ Mục 3 Phần IV Công văn số 02/TANDTC-PC ngày
02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao tkhông cần thiết phải đưa Văn phòng
Công chứng tham gia tố tụng.
Về nguồn gốc nhà, đất, các bên đều thống nhất thửa đất đã từ trước
năm 1975. Thời điểm đó chỉ có vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2, cụ Bạch Thị L1
ông Nguyễn Văn L sinh sống trên đất. căn cứ xác định đây tài sản chung
của vợ chồng cụ L2 và cụ L1.
Đối với căn nhà đại đoàn kết, nguồn kinh phí được hỗ trợ từ Quỹ chăm
sóc người cao tuổi. Cụ L1 là thành viên Hội Người cao tuổi, còn bà X và ông Ba
K1 phải thành viên của hội. Vì vậy, sở xác định n nhà được cấp cho
nhân cụ L1. Đối với phần giá trị căn nhà vượt quá số tiền hỗ trợ, bên nào cho
9
rằng mình đóng góp thêm thì phải nghĩa vụ chứng minh. Không thể ch
căn cứ vào việc chênh lệch giá trị đsuy luận toàn bộ phần chênh lệch đó
do ông B hoặc X đóng góp. Đồng thời cũng không thể loại trừ khả năng cụ
L1 đã sử dụng tiền của mình để xây dựng thêm căn nhà.
Về hiệu lực di chúc, đây văn bản đã được công chứng. Văn phòng C1
đã xác nhận cL1 đầy đủ năng lực hành vi dân sự tại thời điểm lập di chúc.
Hồ sơ còn thể hiện cụ L1 đã được khám sức khỏe tâm thần và kết luận sức khỏe
tâm thần bình thường, đủ điều kiện lập di chúc theo quy định pháp luật.
N yêu cầu được nhận hiện vật nhà đất hoàn toàn chính đáng,
phù hợp với ý chí của cụ L1 được thể hiện trong di chúc. Nếu không di chúc
thì có thể xem xét chia theo quy định chung, nhưng trong vụ án này cụ L1 đã để
lại di chúc thể hiện nguyện vọng của mình. Việc cụ L1 chỉ để lại tài sản cho
N xuất phát từ thực tế N người trực tiếp chăm c cụ L1 trong những
năm cuối đời. Hiện nay bà N cũng người đang chăm sóc ông Nguyễn Văn L.
T ông L đều tự nguyện giao phần quyền lợi mình được hưởng cho
N. X ba người con đã thành niên, đều điều kiện chăm sóc, phụng
dưỡng bà. Trong khi đó, ông L hiện sống một mình, nên việc N nhận lại nhà
đất chủ yếu nhằm bảo đảm nơi cho ông L. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử
giao nhà đất cho bà N quản lý, sử dụng nhằm bảo đảm thực hiện đúng di
nguyện của cụ L1, đồng thời tôn trọng ý chí và quyền định đoạt của đương sự.
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp trình bày kháng nghị: Do thiếu
sót về tố tụng đã được Tòa án cấp phúc thẩm khắc phục, nên không cần thiết
phải hủy án thẩm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp thay đổi
kháng nghị của Viện trưởng VKSND Khu vực B - Đồng Tháp theo hướng sửa
bản án sơ thẩm. Cụ thể:
+ Cụ L2 chết năm 1986, tài sản của cụ L2 trở thành di sản thừa kế, thời
điểm mở thừa kế được xác định ngày 10/9/1990 (ngày Pháp lệnh thừa kế
hiệu lực), tính đến năm 2022 nguyên đơn khởi kiện tranh chấp di sản đã hết thời
hiệu 30 năm theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự. Bị đơn ý kiến yêu
cầu xác định thời hiệu chia di sản của cụ L2 đã hết yêu cầu xác định di sản
của cụ L2 thuộc tài sản của người thừa kế quản lý di sản là phù hợp với quy định
tại Điều 623 Bộ luật Dân sự. Người thừa kế quản lý di sản của cụ L2 gồm cụ L1,
ông L, ông B nên sau ngày 10/9/2020 di sản thuộc tài sản chung của 03 gồm
người cụ L1, ông L, ông B; mỗi người có quyền sở hữu tài sản 9,48m
2
quyền sử
dụng đất. Do đó, tài sản của cụ L1 có là 37,93m
2
trong 56,9m
2
thửa đất 305. Nên
việc Tòa án cấp sơ thẩm chia phần di sản của cụ L2 cho 05 người gồm cụ L1,
ông L, ông B, bà N và bà T là không phù hợp.
+ Ngày 26/5/2020, cụ L1 lập di chúc định đoạt toàn bộ thửa đất số 305
cùng tài sản trên đất cho bà N được thừa hưởng, di chúc lập tại Văn phòng C1;
Văn phòng C1 (nay n phòng C1) có ý kiến trình bày tại văn bản số
101/VPCC ngày 04/5/2026 xác nhận quy trình công chứng di chúc do cụ L1 lập
10
ngày 26/5/2020 được thực hiện theo quy định của luật. Căn cứ hồ sơ lập di chúc
phiếu khám sức khỏe tâm thần ngày 29/4/2020 ghi nhận sức khỏe tâm thần
của cụ L1 bình thường, do cụ L1 không biết chữ 02 người làm chứng đọc lại
toàn nội dung di chúc cho cụ L1 nghe hiểu đồng ý điểm chvào di chúc
trước mặt của Công chứng viên nên về hình thức di chúc đúng quy định tại Điều
636 Bluật Dân sự. Tuy nhiên, về nội dung cL1 chỉ quyền định đoạt phần
tài sản của mình trong khối tài sản chung là thửa đất 305 nhưng nội dung di chúc
cụ L1 định đoạt toàn bộ thửa đất cho bà N là vượt quá phạm vi tài sản của cụ L1
nên di chúc b hiệu một phần đối với phần tài sản của ông L, ông B
18,966m
2
. Do đó, N được hưởng thừa kế theo di chúc phần di sản của cụ L1
diện tích là 37,93m
2
.
+ Đối với tài sản căn nhà trên đất, các bên đương sự đều thừa nhận nhà
của cụ L1 được xây dựng năm 2016 từ nguồn tiền của quỹ Hội người cao tuổi
Phường 1, thị C hỗ trợ nguồn tiền của hộ ông B đóng góp. Tuy nhiên, các
bên không xác định được nguồn tiền quỹ Hội người cao tuổi hỗ trợ là bao nhiêu,
bị đơn xác định hộ ông B đóng góp số tiền 75.000.000 đồng nhưng nguyên đơn
không đồng ý; kết quả định giá ngày 10/5/2023 xác định giá trị còn lại 50% của
căn nhà 79.181.550 đồng. Xét thấy, tại Quyết định số 01/QĐ-MTTQ-BTT
ngày 22/3/2016 của Ủy ban Mặt trận tổ quốc P cấp nhà Đ cho bà Bạch Thị L1 từ
quỹ ‘Chăm sóc người già” của Hội người cao tuổi. Đồng thời, kết quả xác minh
tại biên bản ngày 23/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực B - Đồng
Tháp, Nguyễn Thanh X1 chủ tịch Hội người cao tuổi Phường 1 tại thời
điểm m 2016, xác định Hội người cao tuổi Phường 1 có hỗ trợ số tiền
39.000.000 đồng để xây dựng nhà đại đoàn kết cho cụ L1. Tại phiên tòa phúc
thẩm, các bên đương sự thống nhất số tiền Hội người cao tuổi hỗ trợ cho cụ L1
xây nhà là 39.000.000 đồng, căn nhà có giá trị theo định giá tỷ lệ còn lại 50% số
tiền 79.181.550 đồng nên bị đơn trình bày góp số tiền 75.000.000 đồng để
xây dựng nhà căn cứ. Do đó, xác định tiền xây nhà 114.000.000 đồng,
trong đó tỷ lệ tài sản của cụ L1 34,21%, tài sản đóng góp của hộ ông B tỷ lệ
65,78%. Tlệ còn lại của n nhà 50% số tiền 79.181.550 đồng, trong đó phần
tài sản của c L1 trị giá 27.087.201 đồng, phần đóng p của hộ ông B
52.085.623 đồng. Do đó, bà N được hưởng di sản của cụ L1 theo di chúc đối với
căn nhà trên đất là 27.087.201 đồng.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; đnghị Hội đồng xét
xử chấp nhận một phần kháng cáo của Thị X, anh Nguyễn Minh T1,
Nguyễn Thông M và Nguyễn Thanh H và chấp nhận Quyết định kháng nghị của
Viện trưởng VKSND Khu vực B - Đồng Tháp đã thay đổi.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của bị đơn Thị X những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M,
anh Nguyễn Thanh H thc hiện đúng quy định và hp l theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thm phán, Hội đồng xét x
11
Thư phiên tòa kể t khi th lý v án đến thời điểm xét x phúc thẩm đã
chấp hành thc hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
người tham gia tố tụng đã thc hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa v tố tụng theo
quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân Khu vực B - Đồng Tháp, t thấy những vi phạm, thiếu sót của Tòa án cấp
thẩm trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ đã được Tòa án cấp phúc thẩm
tiến hành xác minh, thu thập bổ sung làm tại phiên tòa. Do đó, không cần
thiết hủy bản ánthẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, Viện kiểm
sát thay đổi một phần nội dung kháng nghị theo hướng đề nghị sửa bản án
thẩm.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét
xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của Thị X, anh Nguyễn
Thanh H, anh Nguyễn Minh T1 anh Nguyễn Thông M; chấp nhận nội dung
kháng nghị đã được thay đổi của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực B Đồng
Tháp; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp (Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại
phiên tòa phúc thẩm giải quyết vụ án số: 900/PB-VKS-DS ngày 19/6/2026).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp thụ giải
quyết thẩm vụ án “Tranh chấp Chia thừa kế chia tài sản thuộc sở hữu
chung” đúng quy định tại khoản 2, 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35
điểm c khoản 1 Điều 39 Bluật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm
quyền của Tòa án. Sau khi xét x thẩm, bị đơn Thị X và những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M,
anh Nguyễn Thanh H không thng nhất bản án thẩm nên đã kháng cáo. Vic
X, anh T1, anh M, anh H kháng cáo vào ngày 22/9/2025 là trong thi hn
kháng cáo theo quy định tại Điều 273 B lut T tng dân sự, nên được xem xét
gii quyết theo th tc phúc thm.
Về kháng nghị: Ngày 02/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
Khu vực B - Đồng Tháp ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 06/QĐ-
VKS-DS kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm. Xét thấy, kháng nghị được ban
hành trong thời hạn luật định theo Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được
xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Ti phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh
Nguyễn Minh T1 vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn L
và bà Nguyễn Thị Bạch T vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần
12
thứ hai, nên Hội đồng xét x tiến hành xét x vng mặt theo quy định tại Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Vnội dung: Xét kháng cáo của bị đơn Thị X, những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M, anh
Nguyễn Thanh H việc thay đổi kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
2.1. Cụ ông Nguyễn Văn L2 (chết năm 1986) và cụ Bạch Thị L1 (chết
ngày 19/7/2021) bốn người con ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn L,
Nguyễn Thị Bạch T Nguyễn Thị Tuyết N; đây những người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2 cụ L1 theo quy định của pháp luật. Ông
Nguyễn Văn B (chết ngày 06/01/2021), hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm bà
Thị X các con anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M, anh
Nguyễn Thanh H.
2.2. Hồ sơ vụ án thể hiện năm 2006 cụ L1 là người trực tiếp kê khai, đăng
QSD đất thửa 305, diện tích 56,9m
2
(OĐT),
tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại sA,
Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho
hộ Bạch Thị L1 ngày 19/6/2006 (viết tắt là đất tranh chấp hay đất thửa 305), đất
được xác định nguồn gốc sử dụng từ trước năm 1975. Các đương sự đều
thống nhất đất thửa 305 do cụ L2 cụ L1 cùng quản , sdụng ổn định từ
trước năm 1975, không có tranh chấp không phát sinh việc nhận chuyển
nhượng từ người khác. Do đó, đủ căn cứ xác định đất tranh chấp được hình
thành trong thời khôn nhân, là tài sản chung của cụ L2 cụ L1; việc cụ L1
đứng tên khai năm 2006 chỉ mang tính chất thủ tục hành chính, không làm
phát sinh quyền sử dụng riêng của cụ L1. vậy, xác định cụ L2 cL1 mỗi
người có quyền đối với ½ giá trị QSD đất là phù hợp.
2.3. Đối với căn nhà trên đất thửa 305, theo Quyết định bàn giao nhà đại
đoàn kết ngày 22/6/2016 của Ban T4, thị xã C thể hiện căn nhà được cấp cho cụ
Bạch Thị L1 từ quỹ “Chăm c người già”. Tại cấp phúc thẩm, Tòa án đã tiến
hành xác minh đối với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường M quan kế thừa
và xác định hiện nay địa phương không còn lưu giữ hồ sơ liên quan đến kinh phí
xây dựng căn nhà ngoài Quyết định bàn giao đã cung cấp. Nên căn cứ xác
định căn nhà tài sản thuộc quyền sở hữu của cụ L1. Tuy nhiên, theo lời khai
Nguyễn Thanh X1 là Chủ tịch Hội người cao tuổi Phường 1 xác định tại thời
điểm năm 2016, Hội người cao tuổi Phường 1 hỗ trợ số tiền 39.000.000 đồng
để xây dựng nhà đại đoàn kết cho cL1; xác nhận của ông Thành T3 ngày
24/9/2025 thể hiện khi xây dựng nhà cho cụ L1 thì ông B góp tiền xây dựng
thêm; các đương sthống nhất Hội người cao tuổi chỉ hỗ trợ cho cụ L1 xây
dựng nhà 39.000.000 đồng còn lại đóng góp bổ sung của gia đình, nên theo
biên bản định giá tài sản ngày 10/5/2023 xác định giá trị còn lại của căn nhà là
79.181.550 đồng (giá trị còn lại 50%), nên sở xác định gia đình đóng
13
góp thêm tiền để xây dựng căn nhà. Việc bị đơn Thị X cho rằng gia đình
đóng góp thêm tiền 75.000.000 đồng để xây dựng căn nhà nhưng không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh; theo đơn kháng cáo của bà X, anh
T1, anh M anh H chỉ yêu cầu được chia 1/3 giá trị căn nhà tương ứng với số
tiền 26.393.850 đồng (79.181.550 đồng/3). Do đó, để hài hòa quyền lợi của các
đương sự, xét yêu cầu này cũng tương xứng với mức đóng góp của ông B, bà X
đối với căn nhà. Vì vậy, khi xác định căn nhà thuộc quyền sở hữu của bà L1 như
nêu trên cần xem xét đóng góp của ông B, bà X khi còn chung hộ với cụ L1 vào
thời điểm xây dựng để hình thành toàn bộ căn nhà. Cho nên, khi bà N được thừa
kế theo di chúc đối với căn nhà thì cần hoàn trả cho bà X, anh T1, anh M, anh H
(những người thừa kế của ông B) số tiền 26.393.850 đồng hợp lý. Từ sở
trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát xác định phần đóng góp của hộ ông B đối
với căn nhà giá trị 52.085.623 đồng như nêu trên là chưa phợp, đồng
thời vượt quá phạm vi kháng cáo của bà X, anh T1, anh M và anh H trong vụ án
này (chỉ yêu cầu được chia 1/3 giá trị căn nhà là 26.393.850 đồng), nên chỉ được
chấp nhận một phần.
2.4. Đối với di chúc ngày 26/5/2020 của cụ Bạch Thị L1, xét thấy di chúc
được lập tại Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C1) được thực hiện đúng trình tự,
thủ tục theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm lập di chúc, cụ L1 giấy
khám sức khỏe tâm thần xác định tình trạng sức khỏe bình thường; việc lập di
chúc được thực hiện công khai, tự nguyện, có người làm chứng theo quy định do
cụ L1 lớn tuổi không thể tự ký tên. Văn phòng công chứng xác nhận cụ L1 minh
mẫn, nhận thức làm chủ được hành vi khi lập di chúc. Các đương sự cũng
không cung cấp được tài liệu, chng cứ nào chứng minh di chúc vô hiệu. Do đó,
đủ căn cứ xác định di chúc của cụ L1 hợp pháp theo quy định tại các Điều
625, 626, 630, 631 và 635 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, di chúc chỉ
phát sinh hiệu lực đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của cụ L1.
Trong vụ án này, không đương sự nào yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu, yêu cầu giải thích nội dung công chứng hoặc yêu cầu bồi thường
thiệt hại liên quan đến hoạt động công chứng. Theo tiểu mục 3 Mục IV Công
văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao, tùy từng
trường hợp Tòa án mới xem xét đưa tổ chức hành nghề công chứng tham gia tố
tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, cấp thẩm
không đưa Văn phòng C1 (nay Văn phòng C1) tham gia tố tụng không làm
ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
2.5. Đối với phần di sản của cụ Nguyễn Văn L2, Hội đồng xét xử xét thấy
cấp thẩm áp dụng Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP để xác định toàn bộ di
sản trở thành tài sản chung của c đồng thừa kế chưa phù hợp với quy định
của Bộ luật Dân snăm 2015 về hậu quả pháp khi hết thời hiệu yêu cầu chia
di sản. Cụ thể: Cụ L2 chết năm 1986, theo quy định chuyển tiếp của pháp luật về
thừa kế, đối với trường hợp người chết trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu yêu
14
cầu chia di sản được tính từ ngày 10/9/1990. Đối với bất động sản, thời hiệu yêu
cầu chia di sản 30 năm; do đó thời hiệu đối với phần di sản của cụ L2 đã hết
vào ngày 10/9/2020.
Đồng thời, tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định khi
hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý
di sản đó. Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương
sự thể hiện tại thời điểm hết thời hiệu vào năm 2020, những người thừa kế trực
tiếp quản lý, sử dụng phần đất thuộc di sản của cụ L2 gồm cụ Bạch Thị L1, ông
Nguyễn Văn L ông Nguyễn Văn B. Do đó, căn cứ xác định phần di sản
của cụ L2 thuộc về ba người gồm cụ L1, ông L và ông B.
2.6. Kết quả định giá tài sản thể hiện tại Biên bản định giá của Hội đồng
định giá và Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần G xác định giá đất
9.296.000 đồng/m², tổng giá trị QSD đất 528.942.400 đồng giá trị n nhà
79.181.550 đồng. Các đương sự không tranh chấp về kết quả định giá
không kháng cáo đối với nội dung này nên Hội đồng xét xử căn cứ sử
dụng làm cơ sở giải quyết vụ án.
Trong tổng giá trị QSD đất nêu trên, phần thuộc quyền của cụ Nguyễn
Văn L2 chiếm ½ giá trị, tương ứng 528.942.400 đồng : 2 = 264.471.200 đồng.
Tại thời điểm hết thời hiệu yêu cầu chia di sản, phần di sản này do cụ Bạch Thị
L1, ông Nguyễn Văn L ông Nguyễn Văn B trực tiếp quản lý, sử dụng n
mỗi người được xác định có quyền hưởng giá trị 264.471.200 đồng : 3 =
88.157.067 đồng.
Do cụ L1 đã lập di chúc hợp pháp để lại toàn bộ phần tài sản thuộc quyền
của mình cho Nguyễn Thị Tuyết N, nên bà N được hưởng: ½ giá trị QSD đất
thuộc quyền của cL1 trong khối tài sản chung vợ chồng là 264.471.200 đồng;
giá trị n nhà còn lại 52.787.700 đồng (giá trị toàn bộ căn nhà 79.181.550
đồng giá trị đóng góp xây dựng nhà của những người thừa kế của ông B
26.393.850 đồng) và phần giá trị 88.157.067 đồng mà cụ L1 được xác lập quyền
đối với di sản của cụ L2 sau khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản, tổng cộng
N được hưởng giá trị 405.415.967 đồng.
Đối với ông Nguyễn Văn L, mặc được xác định quyền hưởng
88.157.067 đồng nhưng ông không yêu cầu Nguyễn Thị Tuyết N thanh toán
lại phần giá trị này, nên chấp nhận sự tự nguyện của ông L.
N nghĩa vụ hoàn trả cho X, anh T1, anh M, anh H (những người
thừa kế của ông B) số tiền đóng góp xây dựng nhà là 26.393.850 đồng như phân
tích mục 2.3 nêu trên.
Đối với phần giá trị 88.157.067 đồng thuộc quyền của ông Nguyễn Văn
B, sau khi ông B chết thì thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm Thị
X, anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M anh Nguyễn Thanh H; do
15
các đương sự không yêu cầu phân chia cụ thể nên xác định đây phần tài sản
thuộc sở hữu chung của những người thừa kế của ông B.
Đối với yêu cầu độc lập của Nguyễn Thị Bạch T, xét thấy căn cứ
chấp nhận một phần yêu cầu xác định thửa đất tranh chấp là tài sản chung của c
Bạch Thị L1 cụ Nguyễn Văn L2 như nhận định trên. Đối với yêu cầu chia ½
giá trị QSD đất thuộc phần di sản của cụ Nguyễn Văn L2 để T được hưởng
một kỷ phần giá trị tài sản, xét thấy không căn cứ chấp nhận theo phân tích
trên.
Xét thấy tài sản tranh chấp là nhà và đất gắn liền với nhau, không thể chia
hiện vật; đồng thời phần lớn giá trị tài sản thuộc quyền của bà Nguyễn Thị Tuyết
N nên cần giao toàn bộ nhà, đất cho N quản lý, sử dụng phù hợp. N
nghĩa vụ thanh toán cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn B số tiền
88.157.067 đồng; chấp nhận việc ông Nguyễn Văn L không yêu cầu thanh toán
phần giá trị ông được hưởng sự tự nguyện của N nghĩa vụ để ông L
được quyền tiếp tục sinh sống trong căn nhà trên đất thửa 305 để tiếp tục quản
lý, gìn giữ căn nhà và thờ cúng đến hết đời ông L (đến khi ông L chết).
Lê Thị X, anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M và anh Nguyễn
Thanh H nghĩa vụ di dời tài sản thuộc sở hữu của mình để giao trả nhà và đất
cho Nguyễn Thị Tuyết N. Dành quyền lưu cho X, anh T1, anh M
anh H thời hạn là 6 tháng khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2.7. Từ những phân tích trên, xét thấy do Tòa án cấp sơ thẩm xác định hậu
quả pháp khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản của cụ Nguyễn Văn L2 chưa
phù hợp quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên cần sửa một phần
bản án sơ thẩm theo hướng điều chỉnh lại kỷ phần được hưởng của các đương sự
cho phù hợp quy định pháp luật.
Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bà X, anh T1, anh M và anh H;
chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu
vực B - Đồng Tháp đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp thay đổi tại
phiên tòa phúc thẩm về việc sửa bản án sơ thẩm như nêu trên.
[3] Về án phí:
[3.1] Án phí thẩm: Do sửa một phần bản án thẩm nên án phí dân sự
sơ thẩm được xác định lại như sau:
Nguyễn Thị Tuyết N được hưởng giá trị tài sản 405.415.967 đồng nên
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 20.216.600 đồng.
Ông Nguyễn Văn L được xác định quyền hưởng giá trị tài sản
88.157.067 đồng nhưng tự nguyện giao lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết N, nên vẫn
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng phần giá trị được hưởng là 4.407.853
đồng. Tuy nhiên, ông L người cao tuổi đơn xin miễn án phí nên được
miễn án phí theo quy định pháp luật.
16
Hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn B gồm Thị X, anh
Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M anh Nguyễn Thanh H được hưởng
chung giá trị tài sản 88.157.067 đồng, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
giá ngạch 4.407.853 đồng. Thị X người cao tuổi đơn xin miễn
án phí nên được miễn án phí. Anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M
anh Nguyễn Thanh H mỗi người phải chịu 1.101.963 đồng án phí dân sự
thẩm.
Đối với yêu cầu độc lập của Nguyễn Thị Bạch T về chia phần di sản
của cụ Nguyễn Văn L2, mặc không được chấp nhận nhưng đây tranh chấp
về chia di sản thừa kế; bà T người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2.
Theo khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, T không phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu chia di sản không được chấp nhận.
[3.2] Án phí phúc thẩm: Do sửa một phần bản án thẩm nên Thị
X, anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M anh Nguyễn Thanh H không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các phn khác ca bn án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
[5] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy là có sở một phần, nên được chấp
nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị X, anh Nguyễn Minh T1,
anh Nguyễn Thông M và anh Nguyễn Thanh H.
2. Chấp nhận một phần nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đồng Tháp thay đổi tại phiên tòa phúc thẩm.
3. Sửa một phần Bản án n sự sơ thẩm số 150/2025/DS-ST ngày 17
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp.
Căn cứ các Điều 609, 612, 623, 625, 626, 630, 631, 635 khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ
luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn
Thị Tuyết N; chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn L; chấp nhận một
phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Bạch T.
17
- Xác định QSD đất diện tích thực tế 56,9m² thuộc thửa đất số 305, tờ bản
đồ số 38 tọa lạc tại Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp tài sản chung của
cụ Nguyễn Văn L2 và cụ Bạch Thị L1.
- Xác định căn nhà trên đất diện tích 56,9m² thuộc thửa đất số 305, tờ bản
đồ số 38 tọa lạc tại Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp là tài sản thuộc
quyền sở hữu của cụ Bạch Thị L1.
- Giao cho Nguyễn ThTuyết N được quyền quản lý, sử dụng toàn b
diện tích đất thực tế 56,9m² thuộc thửa đất số 305, tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại
Khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp sở hữu căn nhà trên đất diện tích
39,69m², kết cấu nền gạch, vách tường, cột tông cốt thép, mái lợp tôn (vị trí,
kích thước thửa đất theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất kèm
theo bản án).
- Buộc Nguyễn Thị Tuyết N nghĩa vụ thanh toán cho hàng thừa kế
thứ nhất của ông Nguyễn Văn B gồm bà Thị X, anh Nguyễn Minh T1, anh
Nguyễn Thông M anh Nguyễn Thanh H đối với g trị đất với số tiền
88.157.067 đồng và giá trị đóng góp xây dựng căn nhà là 26.393.850 đồng, tổng
cộng là 114.550.917 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi nh án còn phải chịu khoản tiền lãi đối
với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ
luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn L về việc không yêu cầu
Nguyễn Thị Tuyết N thanh toán phần giá trị tài sản ông được hưởng sự tự
nguyện của Nguyễn Thị Tuyết N cho ông Nguyễn Văn L tiếp tục sinh sống
trong căn nhà trên thửa đất 305 đến hết đời (đến khi ông L chết).
- Nguyễn ThTuyết N được quyền liên hệ quan Nnước thẩm
quyền để đăng ký, kê khai và cấp giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở
đối với diện tích đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên theo quy định pháp luật.
- Thị X, anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M anh
Nguyễn Thanh H nghĩa vụ di dời tài sản thuộc sở hữu của mình để giao trả
nhà đất cho Nguyễn Thị Tuyết N. Dành quyền lưu cho X, anh T1,
anh M và anh H thời hạn là 6 tháng khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3.2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu 20.216.600 đồng án phí dân sự
thẩm gngạch; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu số 0002279 ngày 09/02/2022 của Chi cục Thi nh án dân
sự thị Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực B
- Đồng Tháp); bà N còn phải nộp tiếp số tiền 19.916.600 đồng.
18
Ông Nguyễn Văn L Thị X được miễn án phí dân sthẩm do
là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
Anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M anh Nguyễn Thanh H
mỗi người phải chịu 1.101.900 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyễn Thị Bạch T không phải chịu án phí dân sự thẩm. Hoàn trả
cho T số tiền 500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số
0000680 ngày 18/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sthị Cai Lậy, tỉnh
Tiền Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực B - Đồng Tháp).
4. Án phí dân sphúc thẩm: Căn c Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Lê Thị X, anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Thông M và anh Nguyễn
Thanh H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho anh M, anh T1
anh H mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp lần
lượt theo các biên lai thu số 0002693, 0002692, 0002690 cùng ngày 22/9/2025
của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật
Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vc B - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc B - Đng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 0552/2026/DS-PT Bản án số 0552/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 0552/2026/DS-PT Bản án số 0552/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất