Bản án số 553/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 553/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 553/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 553/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nay anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Đ1 là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C yêu cầu Tòa án giải quyết
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 553/2026/DS-PT Bản án số 553/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 553/2026/DS-PT Bản án số 553/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 553/2026/DS-PT
Ngày: 26-6-2026
V/v “Tranh chấp Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và đòi quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Ông Võ Ngọc Giàu.
- Thư phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04/5/2026, ngày 02/6/2026 ngày 26/6/2026, tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai ván dân sự thụ
số: 179/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 195/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 878/2026/QĐ-PT
ngày 07 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1953 (chết ngày
11/6/2025);
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C:
1.1. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
1.2. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
1.3. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
1.4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985;
2
Địa chỉ: Ấp C, xã A, B, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.5. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Ấp G, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
1.6. Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
1.7. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1953;
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền nghĩa
vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C: Anh Thanh P1, sinh m 1993 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 29/7/2025).
2. Bị đơn:
2.1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1976 (và người thừa kế quyền
nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C);
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo y quyền của anh Nguyễn Văn L: Anh Tấn L1,
sinh năm 1985 (có mặt); Địa chỉ: Ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy
quyền ngày 11/11/2022).
2.2. Chị Nguyễn Thị V1, sinh năm 1980 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1950 (chết năm 2015);
3.2. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1957 (chết năm 2020);
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông S và bà T1:
+ Anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1978 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
+ Chị Nguyễn Thị Ngọc C1, sinh năm 1980 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp G, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
+ Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1982 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
+ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
+ Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1990 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
3.3. Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1953 (và người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C);
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
3
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị Đ1: Anh Thanh P1,
sinh năm 1993 (có mặt); Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy
quyền ngày 29/7/2025).
3.4. Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1999 (xin vắng mặt, mặt ngày
26/6/2026);
3.5. Cháu Nguyễn Đăng K, sinh năm 2017;
Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Đăng K: Chị Nguyễn Thị
V1, sinh năm 1980 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
3.6. Anh Bùi Văn H, sinh năm 1978 (xin vắng mặt);
3.7. Chị Đinh Thị V2, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
3.8. Ông Bùi Văn V3, sinh năm 1966 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
4. Người kháng cáo: Bị đơn chị Nguyễn Thị V1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông
Nguyễn Văn C anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn
Đ, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn B và bà
Nguyễn Thị Đ1 cùng ủy quyền cho anh Thanh P1 đại diện trình bày:
Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1953 đã chết ngày 11/6/2025. Ngày 08/3/1998
ông Nguyễn Văn C vợ chồng ông Nguyễn Văn S, ThT1 làm giấy
tay thỏa thuận sang nhượng phần đất ruộng diện tích 1.400m
2
thuộc một phần
thửa 445, diện tích 3.325m
2
, mục đích sử dụng 2L tại ấp P, P, huyện C, tỉnh
Tiền Giang được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng (QSD) đất ngày 01/6/1992 cho ông Nguyễn Văn S nhưng chưa
làm th tc sang tên chuyn quyn. Theo bản đồ địa chính khu đất (trích đo)
ngày 30/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C, phần đất
tranh chấp hiện nay diện tích thực đo 613,9m
2
(trong đó 73,9m
2
thuộc
thửa đất số 92 và 540m
2
thuộc thửa số 90) ký hiệu .
Năm 1999, ông C cho vợ chồng con trai anh Nguyễn Văn L ch
Nguyễn Thị V1 cất căn nhà tạm vách ván, mái nhờ mượn đất canh tác.
Năm 2015, anh L chị V1 ly hôn, nên nhiều lần ông C yêu cầu giao trả lại đất
nhưng chị V1 không trả. Năm 2016, ông C làm đơn thưa gởi ấp P xem xét, trong
thời gian chờ giải quyết năm 2019 chị V1 tự ý xây dựng căn tiệm buôn bán.
Năm 2021 tiếp tục xây dựng căn nhà kiên cố trên đất tranh chấp.
Nay anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn Đ, anh
Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn BNguyễn Thị Đ1
những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C yêu cầu
Tòa án giải quyết:
4
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất viết tay ghi ngày
08/3/1998 giữa ông Nguyễn Văn C ông Nguyễn Văn S, bà Thị T1 đối với
phần đất diện tích thực đo 613,9m
2
theo bản đồ địa chính khu đất trích đo
ngày 30/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C ký hiệu
.
- Buộc anh Nguyễn Văn L chị Nguyễn Thị V1 trả lại cho những người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông Nguyễn Văn C phần đất có diện tích thực
đo 613,9m
2
theo bản đồ địa chính khu đất trích đo ngày 30/3/2023 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C hiệu .
- Ghi nhận những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng ông Nguyễn
Văn C (anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn Đ, anh
Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn B Nguyễn Thị Đ1)
tự nguyện hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị V1 giá trị nhà cây trồng trên đất
theo Biên bản định giá ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản tranh
chấp.
- Đối với yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thị V1, những người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng ông Nguyễn Văn C không đồng ý.
B đơn anh Nguyễn Văn L y quyn cho anh Tn L1 trình bày:
Anh Nguyễn Văn L con là mt trong nhng người kế thừa quyền nghĩa
vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C. Anh L tha nhn li trình bày ca nhng
người kế thừa quyền nghĩa vtố tụng ông Nguyễn Văn C đúng s tht.
Năm 1998, ông Nguyễn Văn C cha rut anh L, mua của vợ chồng ông
Nguyễn Văn S, Thị T1 phần đất ruộng diện ch 1.400m
2
thuộc thửa
445, diện tích 3.325m
2
tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang do UBND huyện
C cấp Giấy chứng nhận QSD đất ngày 01/6/1992 cho Nguyễn Văn S. Theo bản
đồ địa chính khu đất trích đo ngày 30/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai huyện C có diện tích 613,9m
2
ký hiệu .
Năm 1999, ông C cho vợ chồng anh L, chị Nguyễn Thị V1 cất căn nhà
tạm vách ván, mái nền đất nhờ cho mượn đất canh tác. m 2015, chị
V1 và anh L thuận tình ly hôn với nhau theo Quyết định công nhận thuận tình ly
hôn sự thỏa thuận của các đương sự s 189/2015/QĐST-HNGĐ ngày
17/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, về tài sản chung nchung
các bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau đó tại buổi hòa giải
của ấp P, P ngày 20/11/2016 anh L chị V1 tự thỏa thuận giao chị V1 nhận
tất cả tài sản chung vợ chồng (nhà cửa, cây trồng trên phần đất), còn anh L nhận
26 chỉ vàng 24Kra cầm cố đất của ông Bùi Văn V3. Riêng đối với phần đất vợ
chồng nhờ của ông C thì ông C đang yêu cầu trả lại được chính quyền địa
phương ấp P từ ngày 21/03/2016 nên không việc thỏa thuận giao đất như chị
V1 trình bày và trong thời gian này chị V1 tự ý xây dựng tiệm (quán) buôn bán
năm 2019, xây dựng căn nhà năm 2021, thời gian này ông C yêu cầu chính
quyền địa phương ngăn chặn nhưng chị V1 cố tình xây dựng.
Nay anh L đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của những người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C.
5
B đơn chị Nguyn Th V1 trình bày: Năm 1998, chị kết hôn cùng anh
Nguyễn Văn L. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống bên cha mẹ ruột của chị.
Ông Nguyễn Văn C cha chồng kêu vợ chồng chị mua lại phần đất ruộng diện
tích 1.400m
2
tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang với giá 22 chỉ vàng 24Kra,
đất này ông Nguyễn Văn S bán cho ông C. Vợ chồng chị hốt hụi, đưa vàng cho
ông C trả cho ông S cất căn nhà vách lá, mái tôn nền đất canh tác đất từ
năm 1999, lúc đó có bà Bùi Thị T3 là chủ thảo hụi ở tại ấp P, xã P chứng kiến.
Năm 2015, chị anh L thuận tình ly hôn với nhau, về tài sản chung
nợ chung tự thỏa thuận. Do trước đây chị và anh L cầm đất của vợ chồng anh
Bùi Văn H chị Đinh Thị V2 với giá 26 chvàng 24Kra, sau đó anh H trả lại
vàng cho anh L được anh L thừa nhận tại buổi hòa giải ấp P, P ngày
20/11/2016 nên sau khi ly hôn chị anh L thỏa thuận giao căn nhà và đất cho
chị toàn quyền sử dụng.
Do Nhà nước làm đường, nên từ năm 2016 nhiều lần chị bơm cát tôn tạo
phần đất tổng cộng 12 ghe cát, mỗi ghe 13.000.000 đồng. Năm 2019, chị xây
nhà làm tiệm buôn bán. Năm 2021, chị xây dựng lại căn nhà kiên cố như hiện
nay.
Nay chị không đồng ý theo yêu cầu của những người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng ông Nguyễn Văn C, vợ chồng chị người hốt hụi, đưa tiền
và vàng cho ông C trả tiền mua đất cho ông S và bà T1.
Chị phản tố yêu cầu công nhận phần đất có diện tích thực đo 613,9m
2
theo
bản đồ địa chính khu đất trích đo ngày 30/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện C hiệu và thuc quyền sử dụng của chị. Chị
được quyền liên hệ quan nhà nước thẩm quyền lập thủ tục đăng đứng
tên QSD đất.
Chị thống nhất với bản đđịa chính khu đất trích đo ngày 30/3/2023 của
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C nội dung biên bản định giá ngày
21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản tranh chấp. Từ lúc vụ án được thụ
giải quyết lại đến nay chị không đầu tư, cải tạo, làm thay đổi hiện trạng tài
sản trên đất nên không yêu cầu thẩm định, đo đạc định giá lại tài sản tranh
chấp.
Người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của người quyền lợi,
nghĩa vliên quan ông Nguyễn Văn S Thị T1 anh Nguyễn Văn
Đ2, ch Nguyn Th T2, ch Nguyn Th N, anh Nguyễn Văn N1, ch Nguyn
Th Ngc C1 trình bày: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1950 (chết năm 2015) và
bà Lê Th T1, sinh năm 1957 (chết năm 2020) là cha m ca các anh, ch.
Năm 1998, ông S và bà T1 bán cho ông C, sinh năm 1953, cư trú ti p
P, xã P, huyn C, tnh Tin Giang phần đất lúa din tích 1.400m
2
mt phn
din tích ca thửa đất s 445, din tích 3.325m
2
ti p P, P, huyn C, tnh
Tin Giang do UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận QSD đất ngày 01/6/1992
cho Nguyễn Văn S vi giá 31 ch vàng 24Kra. Ông C đã trả đủ vàng và nhận đất
canh tác, việc mua bán đất có s chng kiến ca các anh, ch.
Theo bản đồ địa chính khu đất trích đo ngày 30/3/2023 của Chi nhánh
6
Văn phòng đăng đất đai huyện C tphần đất chuyển nhượng diện tích
thực đo 613,9m
2
có ký hiệu .
Nay các con ông C khi kin b sung yêu cu công nhn Hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất gia cha, m các anh, ch ông C trước đây các anh,
ch đồng ý cha, m đã chuyển nhượng đất cho ông C ri. Còn vic tranh chp
gia ông Nguyễn Văn C vi v chng anh L ch V1 c anh, ch không ý
kiến.
Người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan người kế quyền nghĩa
vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C Nguyn Th Đ1, y
quyn cho anh Thanh P1 đại din trình y: Thng nht li trình bày ca
ngưi kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C.
Người quyn li và nghĩa v liên quan Nguyễn Đăng K do chị
Nguyễn Thị V1 đại din trình bày: Nguyễn Đăng K con ca ch anh
Nguyễn Văn L, ch gi nguyên li trình bày nêu trên.
Người quyn lợi nghĩa v liên quan ông Bùi Văn V3 trình y:
Ông phần đất din tích 1.800m
2
ti p P, xã P, huyn C, tnh Tin Giang.
Cách đây khoảng 6 năm, ông cầm đất cho anh Bùi Văn H ly 2,6 cây (26 ch)
vàng 24Kra, thi gian cm 02 - 03 năm nhưng do không vàng chuc li n
các bên tha thun cho anh Bùi Văn H cm c li cho anh Nguyễn Văn L, theo
đó anh L nhận đất canh tác, còn ông trách nhim tr li vàng cho anh L, khi
đó ông và anh L làm giy tay, thi gian lâu không còn gi giy, sau này
chuc lại đt ông trc tiếp tr 2,6 cây vàng 24Kra cho anh L, t khi cm c đt
đến khi tr vàng chuộc đất ch giao dch vi anh L không có ch Nguyn Th V1
tham gia, vic phân chia tài sản đất đai giữa anh L ch V1 ông không liên
quan và không biết gì.
Người quyn lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn H trình bày:
Thi gian lâu không nh chính xác, anh có đưa cho ông Bùi Văn V3 26 ch vàng
24Kra để cm phần đất rung 02 công, ông V3 không chuc lại đất nên anh cm
li cho v chng ch V1 và anh L, v chng ch V1 có đưa anh 2 ch vàng 24Kra
ri nhn đất canh tác, anh v chng ch V1 có làm giấy tay nhưng nay không
còn gi, sau này ông V3 đã chuộc lại đất t v chng ch V1, anh L xong. Ngoài
ra, v chng ch V1, anh L tranh chp ti bui hòa gii p P mi anh tham
d, anh biết anh L trình bày ch cn nhn 26 ch vàng 24Kra trước đây cầm đất
ca anh thì anh L không yêu cu phân chia bt c tài sản nào trong gia đình. Số
vàng 26 ch 24Kra ông V3 tr cho anh L thi gian nào anh không biết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 195/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn
Q, anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn
Văn B bà Nguyễn Thị Đ1 (là người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của
nguyên đơn ông Nguyễn Văn C).
7
1.1. Công nhận tờ tự thỏa thuận sang nhượng thành quả lao động ngày
08/3/1998 giữa ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị T1.
1.2. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn Đ2, ch Nguyn Th T2,
ch Nguyn Th N, anh Nguyễn Văn N1 ch Nguyn Th Ngc C1 (là những
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyễn Văn S và bà Lê Thị T1) t
nguyện chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh
Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn B,
anh Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Đ1 (là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố
tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C) phần đất có diện tích thực đo 613,9m
2
(trong đó 540m
2
thuộc thửa s90 73,9m
2
thuộc thửa số 92) hiệu
một phần diện tích của thửa đất 445, diện tích 3.325m
2
, mục đích sử dụng
2L tại ấp P, P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp)
do UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận QSD đất ngày 01/6/1992 cho Nguyễn
Văn S theo bản đồ địa chính khu đất trích đo ngày 30/3/2023 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ3). Có tứ cận:
- Hướng đông: Giáp đường bê tông.
- Hướng tây: Giáp đất Nguyễn Quốc K1.
- Hướng nam: Giáp đất Nguyễn N2.
- Hướng bắc: Giáp đường bê tông.
(có sơ đồ kèm theo)
Anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn
Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Văn L
Nguyễn Thị Đ1 được quyền liên hệ các quan có thẩm quyền để làm thủ tục
đăng ký cấp Giấy chứng nhận QSD đất ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Buộc chị Nguyễn Thị V1 anh Nguyễn Văn L phải di di 03 cây
kiểng đường kính từ 02cm-05cm và trả lại cho anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn
Văn Q, anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh
Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Văn L Nguyễn Thị Đ1 (là người thừa kế
quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C) phần đất có diện
tích thực đo 613,9m
2
trong đó (540m
2
thuộc thửa s90 73,9m
2
thuộc thửa số
92) hiệu một phần diện tích của thửa đất 445, diện tích
3.325m
2
, mục đích sử dụng 2L tại ấp P, P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay
ấp P, M, tỉnh Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận QSD đất
ngày 01/6/1992 cho Nguyễn Văn S theo bản đồ địa chính khu đất trích đo ngày
30/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là Chi nhánh
Văn phòng Đ3). Có tứ cận:
- Hướng đông: Giáp đường bê tông.
- Hướng tây: Giáp đất Nguyễn Quốc K1.
- Hướng nam: Giáp đất Nguyễn N2.
- Hướng bắc: Giáp đường bê tông.
(có sơ đồ kèm theo)
Và toàn bộ tài sản trên đất gồm:
8
- Quán nước: Kết cấu: mái tôn, kèo thép, cột thép, nền gạch ceramic 500 x
500, vách tôn; Diện tích 41,40m
2
.
- Nhà: Kết cấu: mái tôn, kèo thép, cột tông cốt thép, nền gạch ceramic
600x600, vách tôn; Diện tích 138,40m
2
.
+ Nhà Tắm: Kết cấu: mái tôn, kèo gỗ + thép, cột tông cốt thép, nền
gạch ceramic 500x500; Diện tích 3,61m
2
.
+ Chuồng heo: Kết cấu: mái tôn, cột kèo gỗ, nền xi măng, tường lửng xây
tô 50%; Diện tích 15,3m
2
.
+ Cây trồng gồm: 14 cây Sapo loại C; 04 bụi chuối loại 2; 09 cây Mít loại
B2, 05 cây loại C, 05 cây loại D; 01 cây Dừa loại B2.
Ghi nhn anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn Đ,
anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn B Nguyễn Thị
Đ1 t nguyện liên đới tr li cho ch Nguyễn Thị V1 s tin 292.636.000 đồng.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật kể từ khi người được thi hành
án đơn yêu cầu thi hành án người phải thi hành án không thực hiện nghĩa
vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thị V1 yêu cầu công
nhận phần đất có diện tích thực đo 613,9m
2
trong đó (540m
2
thuộc thửa số 90
73,9m
2
thuộc thửa số 92) có ký hiệu là một phần diện tích của thửa đất
445, diện tích 3.325m
2
, mục đích sử dụng 2L tại ấp P, P, huyện C, tỉnh Tiền
Giang (nay ấp P, M, tỉnh Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp Giấy chứng
nhận QSD đất ngày 01/6/1992 cho Nguyễn Văn S theo bản đồ địa chính khu đất
trích đo ngày 30/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay
là Chi nhánh Văn phòng Đ3).
(có sơ đồ kèm theo)
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng
cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 14/10/2025, bị đơn chị Nguyễn Thị V1
đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Văn C và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Nguyễn Thị V1.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Bị đơn chị Nguyễn Thị V1 trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của chV1. Bởi các căn cứ như: Đất tranh chấp thửa 445 do
vợ chồng anh L, chị V1 mua (nhận chuyển nhượng) của ông S năm 1989, chứ
không phải của ông C mua, ông C chỉ đứng ra mua dùm; xác nhận của
Trưởng ấp ông Nguyễn Văn B1 ngày 16/4/2017 thể hiện ông C cho vợ chồng
anh L, chị V1 200m
2
, còn lại 01 công đất (1.000m
2
) tphải trả cho ông C 22
chỉ vàng 24Kra. Năm 2019 vợ chồng anh L, chị V1 đã xây dựng nhà trên đất
cho đến nay, Năm 2015 khi anh L chị V1 ly hôn thì vợ chồng phân chia, anh
L nhận 26 chỉ vàng 24Kra còn chị V1 nhận đất.
9
- Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông
Nguyễn Văn C anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn Đ,
anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn B Nguyễn Thị
Đ1 cùng ủy quyền cho anh Thanh P1 đại diện trình bày: Không thống nhất
với kháng cáo của chị V1, yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- B đơn anh Nguyễn n L y quyn cho anh Tn L1 trình bày:
Không thống nhất với kháng cáo của chị V1, yêu cầu Hội đồng xét x giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Th tc kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị V1 thc hin
đúng quy đnh và hp l theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư những người tham gia tố tụng tkhi thụ vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự; người tham gia ttụng đã thc hiện đúng, đầy đủ quyền
nghĩa v tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị V1; giữ
nguyên bản án dân sự thẩm số 195/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
950/PB-VKS-DS ngày 26/6/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp thụ giải
quyết thẩm vụ án “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đòi quyền sử dụng đất” đúng quy định tại khoản 3, 9 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35 điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Ttụng dân sự về quan
hệ tranh chấp thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x thẩm bị đơn chị
Nguyễn Thị V1 không thng nhất bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc chị V1
kháng cáo vào ngày 14/10/2025 là trong thi hn kháng cáo theo quy đnh ti
Điu 273 B lut T tng dân sự, nên được xem xét gii quyết theo th tc phúc
thm.
Ti phiên tòa phúc thm anh Nguyễn Văn Đ2, chị Nguyễn Thị Ngọc C1,
chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn N1, anh Bùi Văn H và
ông Bùi Văn V3 vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn chị Đinh Thị V2
vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét
x tiến hành xét x vng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
10
[2] V nội dung: Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của
nguyên đơn ông Nguyễn Văn C anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh
Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn B
Nguyễn Thị Đ1 cho rằng ngày 08/3/1998 ông Nguyễn Văn C vợ chồng
ông Nguyễn Văn S, Thị T1 làm giấy tay thỏa thuận sang nhượng phần
đất ruộng diện tích 1.400m
2
thuộc một phần thửa 445, diện tích 3.325m
2
, mục
đích sử dụng 2L tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang được Ủy ban nhân dân
(UBND) huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất ngày
01/6/1992 cho ông Nguyễn Văn S nhưng chưa làm thủ tc sang tên chuyn
quyn, đất tranh chấp hiện nay diện tích thực đo 613,9m
2
(trong đó
73,9m
2
thuộc thửa đất số 92 540m
2
thuộc thửa số 90) hiệu (viết
tắt đất tranh chp). Năm 1999, ông C cho vợ chồng con trai anh Nguyễn
Văn L và chị Nguyễn Thị V1 xây dựng nhà tạm vách ván, mái lá ở nhờ và mượn
đất canh tác. Năm 2015, anh L chị V1 ly hôn, nên nhiều lần ông C yêu cầu
giao trả lại đất nhưng chị V1 không trả. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận Hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất viết tay ghi ngày 08/3/1998; buộc anh Nguyễn Văn L chị
Nguyễn Thị V1 trả lại đất tranh chấp; thống nhất hoàn trả lại cho chị Nguyễn
Thị V1 giá trị nhà cây trồng trên đất theo Biên bản định giá ngày
21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản tranh chấp.
B đơn anh Nguyễn Văn L thng nht yêu cầu khởi kiện của những người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C.
B đơn chị Nguyn Th V1 cho rng năm 1998, chị kết hôn cùng anh
Nguyễn Văn L. Khi ông S bán đất tranh chấp cho ông C với giá 22 chỉ vàng
24Kra, vợ chồng chị hốt hụi, đưa vàng cho ông C trả cho ông S, sau đó chị
anh L xây dựng nhà vách lá, mái tôn nền đất canh tác đất từ năm 1999. m
2015, chị anh L thuận tình ly hôn với nhau, về tài sản chung nợ chung tự
thỏa thuận. Do trước đây chị anh L cầm đất của vợ chồng anh Bùi Văn H
và chị Đinh Thị V2 với giá 26 chỉ vàng 24Kra, sau đó anh H trả lại vàng cho anh
L được anh L thừa nhận tại buổi hòa giải ấp P, xã P ngày 20/11/2016 nên sau
khi ly hôn ch anh L thỏa thuận giao căn nhà đất cho chị toàn quyền sử
dụng. Do Nhà nước m đường, nên từ năm 2016 nhiều lần chị bơm cát tôn tạo
phần đất tổng cộng 12 ghe cát, mỗi ghe 13.000.000 đồng. Năm 2019, chị xây
nhà làm tiệm buôn bán. Năm 2021, chị xây dựng lại căn nhà kiên cố như hiện
nay. Chị V1 không đồng ý theo yêu cầu của những người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng ông Nguyễn Văn C, đồng thời chị phản tố yêu cầu công nhận
đất tranh chấp cho chị để chị được quyền liên hệ quan nhà nước thẩm
quyền lập thủ tục đăng ký đứng tên QSD đất.
Điều này đã làm phát sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ch Nguyn Th V1 yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C và chấp nhận yêu cầu phản tố
của bị đơn chị Nguyễn Thị V1. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
11
- Năm 1998 v chồng ông Nguyễn Văn S, Thị T1 thỏa thuận
chuyển nhượng QSD đất ruộng (đất lúa) diện tích 1.400m
2
cho ông Nguyễn Văn
C, các bên lập Tờ t thỏa thuận sang nhượng thành quả lao động ngày
08/3/1998, với giá 31 chỉ vàng 24Kra. Xét thấy, văn bản thỏa thuận chuyển
nhượng QSD đất giữa các bên tuy không được công chứng hay chứng thực vi
phạm về hình thức nhưng việc tham gia giao kết hợp đồng giữa các bên tự
nguyện, không bị lừa dối, ép buộc; mục đích nội dung giao kết hợp đồng
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, các bên có đủ năng
lực chủ thể khi tham gia giao dịch; bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán đủ
tiền, bên chuyển nhượng đã bàn giao đất trên thực địa. Những người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn S Thị T1 là anh
Nguyễn Văn Đ2, ch Nguyn Th T2, ch Nguyn Th N, anh Nguyễn Văn N1
ch Nguyn Th Ngc C1 tự nguyện tiếp tục chuyển nhượng cho người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C anh Nguyễn
Văn V, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn T, anh
Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Văn L Nguyễn Thị Đ1
nên đã đảm bảo đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại
Điều 388, 401 Bộ luật Dân sự năm 2005, quyền sdụng đất theo quy định tại
các Điều 105, 106, 113 Luật Đất đai năm 2003 nên hợp pháp và được công nhận
theo Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc chị V1 cho rằng năm 1999 chị và
anh L đưa 22 chỉ vàng 24Kra nhờ ông C mua đất của ông S, năm 2015 khi ly
hôn tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, anh L nhận 22 chỉ vàng 24Kra cố đất
của ông H, V2, còn chị nhận phần đất, nay phần diện tích 613,9m
2
tài sản
riêng của chị, tuy nhiên chị V1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng
minh cho lời trình bày của mình, việc này không được những người kế tha
quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thừa nhận.
- Tại phiên tòa các đương sđều thừa nhận đất tranh chấp do ông Công
nhận chuyển nhượng từ ông S, T1 vào năm 1998 chưa lập thủ tục sang tên
chuyển quyền. Xét thấy, bị đơn anh L đồng ý trả đất theo yêu cầu nguyên đơn,
còn chV1 đồng bị đơn không đồng ý cho rằng, vợ chồng chị hốt hụi đưa
vàng cho ông C mua dùm, khi mua không làm giấy tờ nhưng Bùi Thị
T3 chủ thảo hụi chứng kiến, sau khi ly hôn chị anh L đã thỏa thuận phân
chia tài sản chung, anh L đã nhận 26 chỉ vàng cầm đất của vợ chồng ông H,
V2 trả lại, còn phần đất đang tranh chấp chia cho chị, sự thỏa thuận này được
ghi nhận tại biên bản hòa giải của ấp P vào ngày 20/11/2016 tại nhà ông Phạm
Văn O ấp P, P, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên tài sản riêng của chị; Tuy
nhiên, tại biên bản lấy lời khai ngày 28/5/2024 bà T3 xác định, chV1 tham gia
chơi một phần hụi hốt ngày 03/8/2010 âm lịch, được 14 chỉ vàng 24Kra, chị
V1 sử dụng vàng vào mục đích T3 không biết, không trực tiếp chứng
kiến việc mua bán đất giữa chị V1 ông C, tại phiên tòa hôm nay chị V1 lại
xác định làm giấy tờ với ông C nhưng anh L đã lén lút lấy đem về bên gia
đình ông C nhưng anh L không thừa nhận, lời trình bày của chị V1 trước sau
12
không thống nhất. Tại biên bản hòa giải việc tranh chấp giữa chị V1 và anh L tại
ấp P ngày 20/11/2016, ý kiến anh L cũng không có nội dung nào thể hiện anh L,
chị V1 thỏa thuận phân chia phần đất đang tranh chấp như chị V1 trình bày.
Ngoài ra chị V1 không chứng cứ khác chứng minh cho lời trình bày của
mình, vì vậysở xác định phần đất tranh chấp là của ông C sang nhượng từ
ông S, T1 cho anh L, chV1 nhờ mượn canh tác nên việc Tòa án cấp
sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố
của bị đơn là có căn cứ.
Do những người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông
Nguyễn Văn C đã t nguyện liên đới tr li cho ch Nguyễn Thị V1 s tin
292.636.000 đồng đ đưc s hữu nhà và được Tòa án cấp sơ thẩm chp nhn là
phù hp nhằm đảm bo hài a quyn li cho ch V1 không phi di di nhà, tài
sn, nếu phi di di nhà, tài sn s gây thit hi cho ch V1, v giá tr tài sn
thì ch V1 cũng thng nht với giá định ca Hội đồng định giá sơ thẩm.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, tại Tòa án cấp sơ thẩm chị V1 cho rằng
chị bơm cát tôn tạo phần diện tích 613,9m
2
gồm 12 ghe cát, mỗi ghe giá
13.000.000 đồng, với s tiền 200.000.000 đồng, còn tại phiên tòa phúc thẩm
ngày 02/6/2026 chị V1 lại cho rằng chị đã bơm cát san lấp 20 ghe với số tiền
khoảng 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng nhưng chị không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình sở;
việc này không được những người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của
nguyên đơn ông Nguyễn Văn C thừa nhận, còn đại diện của đồng bị đơn anh L
xác định do Nhà nước làm đường, múc đất nên chị V1 sử dụng đất sẵn san
lấp ra, không việc bơm cát. Do chị V1 không yêu cầu Tòa án giải quyết đối
với công sức quản lý, tôn tạo đất tranh chấp chi phí san lấp, nên Tòa án
thẩm không đặt ra xem xét giải quyết là phù hợp.
Từ sở trên, cho thấy việc Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C và không chấp nhận yêu cầu phản tố
của bị đơn chị Nguyễn Thị V1 là có căn cứ.
[4] Tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Thị V1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của chị V1 không đủ căn cứ, đồng thời bị
đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu
kháng cáo của mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên kháng cáo của chị V1
không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] T sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của chị Nguyễn Thị V1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ s và phù hp pháp lut, nên
được chấp nhận.
13
[7] Về án phí: Do kháng cáo của chị Nguyễn Thị V1 không được chấp
nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phn khác ca bn án thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị V1;
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 195/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 29 Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án.
Chị Nguyễn Thị V1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm,
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị V1 đã nộp 300.000 đồng, theo
biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0005513, ngày 21/10/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vc B - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc B - Đng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 553/2026/DS-PT Bản án số 553/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 553/2026/DS-PT Bản án số 553/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất