Bản án số 1173/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1173/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1173/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1173/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1173/2026/DS-PT Bản án số 1173/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1173/2026/DS-PT Bản án số 1173/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 1173/2026/DS-PT
Ngày: 11-6-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất; yêu cầu chấm dứt hành vi trái
pháp luật
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trúc.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Cường;
Ông Phan Trí Dũng.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Mỹ Dung Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 3; các ngày 05 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa
án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (sở B) xét xphúc thẩm công khai vụ
án dân sự thụ lý số 1730/2025/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2025 về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”.
Do Bản án dân sự thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 1052/2026/QĐ-PT ngày 27 tháng
02 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 3425/2026/QĐ-PT ngày
16 tháng 3 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số
4300/2026/QĐ-PT ngày 30 tháng 3 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa
phúc thẩm số 6251/2026/QĐ-PT ngày 29 tháng 4 năm 2026; Thông báo mở lại
phiên tòa số 7430/TB-TA ngày 19 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ThÚ, sinh năm 1978; thường trú tại: tổ F, khu phố
C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay tổ F, khu phố C, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm
1994 ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1983; địa chliên hệ: số A, đường Â, khu
2
phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền (theo
Hợp đồng ủy quyền ngày 15/12/2025); có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1976; thường trú tại: số I, tổ A, đường
B, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay số I, tổ A, đường
B, khu phố A, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị Ngọc N1, sinh năm 1976; thường trú tại: số I, tổ A, đường
B, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay số I, tổ A, đường
B, khu phố A, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
2. Thị Kim M, sinh năm 1973; thường trú tại: số E, khu phố Đ,
phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay số E, khu phố Đ, phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
3. Ông V, sinh năm 1979; thường ttại: sC, khu phố D, phường T,
thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay số C, khu phố D, phường H, Thành phố Hồ
Chí Minh); vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
4. Bà Thị L, sinh năm 1969; thường trú tại: tổ A, khu phố A, phường H,
thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là tổ A, khu phố A, phường H, Thành phố Hồ
Chí Minh); có mặt.
5. Ông Văn L1, sinh năm 1955; thường trú tại: tổ A, khu phố A, phường
H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là tổ A, khu phố A, phường H, Thành ph
Hồ Chí Minh); vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
6. Thị Đ, sinh năm 1971; thường trú tại: số A, tổ D, khu phố D,
phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là số A, tổ D, khu phố D, phường
B, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
7. Thị L2, sinh năm 1967; thường ttại: số A, tổ G, khu phố C,
phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là số A, tổ G, khu phố C, phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
8. Thị H1, sinh năm 1958; thường trú tại: tổ H, khu phố B, phường
T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là tổ H, khu phố B, phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh); vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
9. Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ trụ sở: Khu phố
B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương;
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường
H, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ trụ sở: phường H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, Thành
phố Hồ Chí Minh: Thanh T Ptrưởng Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị
phường H, người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 01/UQ-UBND ngày
25/7/2025); vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
3
10. Ông H2, sinh năm 1954; thường trú tại: D, khu phố B, phường L,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng
mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Út .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lê Thị Ú trình bày:
Vào năm 1996, ông Lê Văn T1, bà Đoàn Thị N2 (sau viết tắt là ông T1, bà
N2) là cha, mẹ ruột của bà Thị Ú (sau viết tắt là Ú) tặng cho Ú quyền sử
dụng đất diện tích là 13.600m
2
, tọa lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương
(nay là khu phố D, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh). Khi thực hiện việc tặng
cho, ông T1 N2 không lập giấy tờ tặng cho, ông T1 đã đi khai đăng
cho bà Ú và Ú được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Sông cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H 170840, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận 01123 QSDĐ vào ngày 25/3/1996, diện tích 13.600m
2
, tờ bản đồ số 1 (không
có số thửa).
Ú sống chung với ông T1, N2 và các anh chị em trong gia đình tkhi
còn nhỏ cho đến khi ông T1, N2 chết. Thời điểm ông T1, bà N2 tặng cho riêng
đất, các anh chị em trong gia đình không ai có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì.
Đồng thời, cùng thời điểm trên, Ú ông Văn N (sau viết tắt ông N) ng
trồng cây cao su trên đất tranh chấp. Năm 2011, bà Ú kết hôn và vẫn chung sống
với gia đình cho đến năm 2017, mới ra sống riêng. Tháng 5/2020, bà Ú thực hiện
thủ tục đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị ông N ngăn chặn không cho
thực hiện việc đo đạc, ông N cho rằng quyền sử dụng đất nêu trên là di sản của
ông T1, N2 chết để lại và yêu cầu bà chia thừa kế.
Về nhân thân của ông Văn T1 (sinh năm 1925, chết năm 2016)
Đoàn Thị N2 (sinh năm 1933, chết năm 2019) như sau: Cha, mẹ của ông T1,
N2 không nhớ rõ họ tên, đều đã chết từ trước năm 1975; ông T1 N2 09
người con gồm: Ông n L1, ông Văn N3 (sinh năm 1956, chết năm 1976,
không có vợ, con), bà Lê Thị H1, bà Lê Thị L2, bà Lê Thị L, bà Lê Thị Đ, bà
Thị Kim M, ông Lê Văn N, bà Thị Út . Ngoài ra, ông T1, bà N2 không con
chung, con riêng, con nuôi khác.
Theo Đơn khởi kiện ngày 24/02/2021, Thị Ú yêu cầu: Buộc ông N
phải trả cho toàn bộ diện tích đất 13.600m
2
, tọa lạc tại ấp D, T, huyện B
(nay khu phố D, phường H, Thành phố HChí Minh) theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số phát hành H 170840, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01123
QSDĐ được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Sông cấp vào ngày 25/3/1996.
Buộc ông N chấm dứt mọi hành vi ngăn chặn, cản trở việc bà Ú thực hiện quyền
và lợi ích hợp pháp của bà đối với thửa đất nêu trên.
Sau đó, bà Lê Thị Ú có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
4
- Yêu cầu Tòa án xác định diện tích đất qua đo đạc thực tế 9.297,1m
2
, tọa
lạc tại khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay khu phố D,
phường H, Thành phố Hồ Chí Minh), thể hiện tại Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh
số 8-2022 ngày 21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B,
tỉnh Bình Dương, là tài sản thuộc quyền sử dụng của bà.
- Buộc ông Lê Văn N phải trả cho bà toàn bộ diện tích đất 9.297,1m
2
, thuộc
một phần các thửa đất số: 5, 42, 18, 19, 20, 16, 17, 435, 9, tờ bản đồ số 7, đất tọa
lạc tại khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay khu phố D,
phường H, Thành phố Hồ Chí Minh), thể hiện tại Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh
số 8-2022 ngày 21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B,
tỉnh Bình Dương.
- Buộc ông Văn N chấm dứt mọi hành vi ngăn chặn, cản trở việc thực
hiện quyền và lợi ích hợp pháp của bà đối với diện tích đất nêu trên.
- Bà Ú rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích là 4.302,9m
2
đối với yêu cầu buộc ông N trả lại diện tích đất trong thời hạn 01 tháng kể từ khi
Bản án có hiệu lực pháp luật.
Đối với tài sản gắn liền với đất: Ú xác định hiện do ông N quản lý,
khai thác; tuy nhiên đây tài sản do Ú ông N cùng trồng. Đối với tài sản
này, khi Tòa án tuyên đất của ai thì người đó được nhận tài sản gắn liền đất, còn
trong vụ án này bà Ú không tranh chấp tài sản gắn liền với đất.
Đối với việc Cơ quan nhà nước xác nhận thửa đất Ú đang tranh chấp với
ông Lê Văn N là bị cấp trùng với đất của ông Lý V: Bà không yêu cầu giải quyết
trong vụ án này.
Bị đơn ông Lê Văn N trình bày:
Quyền sử dụng đất có diện tích 13.600m
2
tọa lạc tại khu phố D, phường T,
thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố D, phường H, Thành phố Hồ Chí
Minh) là đất của ông Lê Văn T1 và bà Đoàn Thị N2 chết để lại chưa chia. Do tại
thời điểm ông T1 đăng ký để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nhà nước
quy định một người không được đứng tên quá 04 mẫu nên ông T1, bà N2 để Ú
đứng tên giùm, nhằm mục đích không đưa quyền sử dụng đất vào tập đoàn. Năm
1996, Ú được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H 170840,
số vào sổ cấp giấy chứng nhận 01123 QSDĐ. Khi ông T1, N2 còn sống thì ông
T1, bà N2 là người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau này khi ông T1,
N2 chết thì ông là người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cho đến khi
các anh chị em trong gia đình họp mặt để thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất
nói trên cho các anh chị em trong gia đình, ông mới giao giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho Ú giữ để bà Ú đi làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
để các anh chị em cùng có tên chung trong giấy chứng nhận; lúc này, Ú đổi ý
không đồng ý đi làm lại thủ tục cấp lại giấy chng nhận và giữ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho đến nay. Việc họp các anh chị em trong gia đình chỉ thỏa
thuận thống nhất bằng lời nói, không lập bằng văn bản. Ông xác định đây
5
tài sản của cha mẹ ông chết để lại chưa chia thừa kế, không phải là tài sản riêng
của Ú. Quyền sử dụng đất trên do ông trực tiếp quản lý, sử dụng. Về tài sản
trên đất, ông và vợ ông Phạm Thị Ngọc N1 trồng cao su từ năm 2005, trực
tiếp quản lý và thu hoạch mủ cao su. Việc Ú cho rằng Ú cùng ông trồng cây
cao su không căn cứ. Nay trước yêu cầu khởi kiện của Ú, ông không đồng
ý.
Về hàng thừa kế của ông Văn T1 Đoàn Thị N2, ông thống nhất
như lời trình bày của bà Ú.
Đối với kết quả đo đạc thửa đất tranh chấp Mảnh trích lục địa chính có đo
đạc chỉnh số 8-2022, ngày 21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai thị B, tỉnh Bình Dương (nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành
phố B), là bà Ú chỉ không đúng ranh đất, vì trên thực tế Ú không canh tác, sử
dụng đất n không thể biết ranh đất được. Tuy nhiên, trong vụ án này, ông không
yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá lại tài sản tranh chấp.
Đối với việc quan nnước xác nhận thửa đất đang tranh chấp với
ông Văn N bị cấp trùng với đất của ông V: Ông không yêu cầu Tòa án
giải quyết trong vụ án này.
Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà
Thị H1, Thị L2, Thị L, Thị Đ, Thị Kim M, ông Văn
L1: đều có văn bản ý kiến giống với ý kiến trình bày của ông Lê Văn N nêu trên
xác định quyền sử dụng đất tranh chấp là tài sản của ông T1, bà N2 chết để lại
chưa chia thừa kế, không phải là tài sản riêng của bà Ú, bà Ú chỉ đứng tên giùm.
Quyền sử dụng đất trên do ông N đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Về tài sản trên
đất, ông N vợ ông là bà Phạm Thị Ngọc N1 trồng cao su từ năm 2005, trực tiếp
quản và thu hoạch mủ cao su. Nay các ông, không đồng ý đối với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Về hàng thừa kế của ông Văn T1 Đoàn Thị
N2, các ông bà thống nhất như lời trình bày của bà Ú, ông N.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Ngọc N1 trình bày:
ông Văn N vợ chồng. N1 thống nhất với toàn bộ lời khai yêu
cầu của ông N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý V trình bày: Ông Lý V (sau
viết tắt là ông V) được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số N505996, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận 01367 QSDĐ ngày
06/10/1999, diện tích 14.480m
2
, thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 7. Nguồn gốc
đất do nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn T1. Trên thực tế, ông V chỉ quản lý,
sử dụng diện tích là 5.182,9m
2
, phần diện tích còn lại 9.297,1m
2
là cấp trùng vào
giấy chứng nhận của ông V. Theo Công văn số 2191 ngày 08/6/2023 của Phòng
Tài nguyên Môi trường thị B xác định diện tích đất 9.297,1m
2
(thuộc các
thửa 5, 19, 42, 18, 20, 16, 17, 435 theo Mảnh trích lục đo đạc chỉnh ngày
21/12/2022) là trùng thửa đất số 5, tbản đồ số 7 của ông V, việc cấp trùng này
ông V không biết, phần diện ch 9.297,1m
2
cấp trùng, nếu của ai thì khi nào họ
6
yêu cầu khởi kiện ông sẽ trả lại cho họ, ông không tranh chấp trong vụ án
này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý H2 (sau viết tắt là ông H2)
trình bày: Ông H2 cha ruột của ông V. Trước đây ông nhận chuyển
nhượng đất của ông Văn T1 (là cha của bà Ú, ông N) với tổng diện tích
24.480m
2
tại phường T, thành phố B, trong đó thửa đất số 5, tờ bản đồ số 7.
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông H2 có đến y ban nhân n T, huyện B thực
hiện thủ tục kê khai đăng ký đối với thửa đất số 5, tờ bản đồ số 7, ông H2 không
nhớ diện tích ông kê khai là bao nhiêu.
Sau khi kê khai, ông H2 cho thửa đất trên cho con Lý Vông V đứng
tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N505996, số vào sổ 01367 QSDĐ cấp
ngày 06/10/1999 với diện tích 14.480m
2
, thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 7.
Ông H2 không biết bị cấp trùng phần diện tích đất còn lại của ông T1 (hiện bà Ú
và ông N đang tranh chấp) và diện tích cấp trùng bao nhiêu ông không rõ. Trong
vụ tranh chấp này, nếu Tòa án xác định đất của ai thì khi nào họ yêu cầu khởi kiện
ông sẽ trả lại diện tích bị cấp trùng, ông không có tranh chấp gì trong vụ án này.
Tại Bản án dân sự thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của a án
nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Khu vực
18 Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn Thị Ú đối với bị đơn ông Văn N về việc “Tranh chấp
quyền sử dụng đất”.
Sau khi Bản án thẩm, Ú đơn kháng cáo toàn bộ Bản án thẩm.
Tại Bản án phúc thẩm số 90/2024/DS-PT ngày 23/02/2024 của Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Dương (nay Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) đã tuyên:
Hủy Bản án dân sự thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023
giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay Tòa
án nhânn Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh) giải quyết lại theo thủ tục
thẩm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 19/8/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị Ú đối với
bị đơn ông Văn N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt
hành vi trái pháp luật ” đối với các yêu cầu khởi kiện sau:
- Yêu cầu Tòa án xác định diện tích đất qua đo đạc thực tế 9.297,1m
2
, tọa
lạc tại khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay khu phố D,
phường H, Thành phố Hồ Chí Minh), thể hiện tại Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh
số 8-2022 ngày 21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B,
tỉnh Bình Dương (nay Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B),
tài sản thuộc quyền sử dụng của bà Lê Thị Út .
- Buộc ông Văn N phải trả cho Thị Ú toàn bộ diện tích đất
9.297,1m
2
, thuộc một phần các thửa đất số 5, 42, 18, 19, 20, 16, 17, 435, 9, tbản
7
đồ số 7, đất tọa lạc tại khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay
phường H, Thành phố Hồ Chí Minh), thể hiện tại Mảnh trích lục đo đạc
chỉnh lý s8-2022 ngày 21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thị
B, tỉnh Bình Dương (nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố
B).
- Buộc ông Lê Văn N chấm dứt mọi hành vi ngăn chặn, cản trở việc bà
Thị Ú thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của Lê Thị Ú đối với diện tích đất
nêu trên.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo Bản án)
2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị
Ú đối với bị đơn ông Lê Văn N đối với diện tích đất là 4.302,9m
2
đối với yêu
cầu buộc ông Lê Văn N trả lại diện tích đất trong thời hạn 01 tháng kể từ khi Bản
án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng
cáo, trách nhiệm thi hành án của đương sự.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, nguyên đơn Thị Ú kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, đnghị cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, không
rút kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét
xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi các do:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H 170840, số vào sổ cấp giấy
chứng nhận 01123 QSDĐ ngày 25/3/1996, diện tích 13.600m
2
, thuộc tbản đồ
số 1 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Sông Bé cấp cho bà Lê Thị Ú chưa bị thu
hồi hay hủy bỏ nên vẫn có giá trị pháp lý theo quy định của Luật Đất đai. Bị đơn
không có chứng cứ để cho rằng bà Ú chỉ đứng tên giùm ông T1. Bị đơn phủ nhận
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Ú nhưng không cung cấp được
chứng cứ chứng minh theo Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng
thời, tại Biên bản hòa giải ngày 04/6/2019, bị đơn thừa nhận mượn đất của Ú
nên Biên bản này giá trị chứng cứ theo Điều 94 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015. Mặt khác, ông V thừa nhận một phần thửa đất số 05 cấp trùng
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông V, ông V không tranh chấp, xác định
đất của ai sẽ trả lại cho người đó. Các văn bản cung cấp thông tin của quan
chuyên môn trong vụ án này đều cung cấp thông tin về sở dữ liệu qua các
thời kỳ, chứ không đề cập đến hiệu lực của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cấp cho Ú, xác nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Ú vẫn còn
hiệu lực.
Bị đơn ông Văn N trình bày: Yêu cầu khởi kiện của Ú không
căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận. Phần đất cấp cho ông Lê Văn
8
L1 theo giấy chứng nhận quyền sdụng đất Ú cung cấp tại Tòa án ttrong đó
một phần ông L1 tự khai phá, một phần do cha mẹ cho từ lâu đến năm 1996
mới khai, không phải đến năm 1996 mới cho. Thời điểm ông T1 làm thủ
tục để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Ú thì Ú, vợ
chồng ông N, L, M vẫn sống chung với cha mẹ, do cha mẹ thấy bà Ú giỏi
chữ hơn nên để bà Ú đứng tên, tất cả các thủ tục đều do ông T1 làm, bà Ú không
tự làm nên không có việc cho đất Ú. Đến sau này, bà Lê Thị L có khó khăn về
chỗ ở nên cha mẹ mới cho L nền đất để xây dựng nhà ở, còn những người con
khác đều chưa được cha mẹ cho đất hay tài sản gì khác. Khi cha mẹ còn sống, bà
Ú không nói đất của Ú, nay cha mẹ chết thì tranh chấp không đúng. Đề nghị
bà Ú trả lại đất để chia thừa kế tài sản do cha mẹ để lại.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Ngọc N1 trình bày:
Xác định toàn bộ cây cao su có trên đất tranh chấp là của vợ chồng bà N1 và ông
N trồng từ năm 2000, 2005 đến nay. Bà N1 thống nhất ý kiến của ông N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên
tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết, chứng cứ có trong
hồ vụ án, đối chiếu quy định của pháp luật nhận thấy, các đương sự thống nhất
phần đất tranh chấp nguồn gốc của ông Văn T1 Đoàn Thị N2. Tại
phiên tòa, bà Thị Ú trình bày ngoài việc ông T1, N2 cho đất Ú thì còn
cho anh chị em khác như ông Lê Văn L1, Thị L. Lời khai của Ú phù hợp
với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, Ú cung cấp được tài liệu, chng
cứ xác định cùng ngày 25/3/1996, ông Lê Văn L1, bà Thị Ú ông Văn T1
đều được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Sông Bé cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, trong đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn L1 có
một phần thể hiện nguồn gốc cha mẹ cho, điều y ông N cũng thừa nhận việc
ông T1 N2 cho ông L1 L quyền sdụng đất. Như vậy, lời khai của bà
Ú về việc ông T1 tặng cho quyền sử dụng đất cho Ú sở. Ú được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 01123
QSDĐ ngày 25/3/1996. Các đương sự thừa nhận phần đất Ú được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp. Bị đơn cho rằng Ú chỉ
đứng tên quyền sử dụng đất giùm ông T1, N2 nhưng không cung cấp được
chứng cứ chứng minh. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Ú là có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đnghị Hội đồng
xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án dân sự thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị Ú đối với bị đơn
ông Lê Văn N.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, Kiểm sát viên,
9
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn Thị Ú hợp lệ, nộp trong hạn luật
định, phù hợp theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tc phúc thm.
Tại phiên tòa, những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt do
yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bluật Tố tụng dân sự năm
2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định.
Theo kết quả xác minh ngày 04/01/2024 tại Ủy ban nhân dân phường T, th
B, tỉnh Bình Dương thì theo Sổ mục kê năm 1999 để trống (viết tay bằng bút
bi B); Sổ mục năm 2011 thì thửa đất số 5, tờ bản đồ số 7 do ông Hoàng
kê K; thửa số 9, 16, 17, 18, 19, 20 do ông Lê Văn T2 kê khai; thửa số 435 không
thông tin; thửa số 42 chưa cung cấp thông tin; Sổ mục năm 1999 năm
2011 không ông Văn T1, Đoàn Thị N2 đăng khai. Tuy nhiên, theo
Biên bản xác minh ngày 07/5/2026 đối với ông Lê Văn T2 thì ông Văn T2 xác
định ông T2 không đất tại vị trí tranh chấp, không phải chủ sử dụng các thửa
đất nêu trên và Biên bản xác minh ngày 26/5/2026 đối với ông Phạm Văn T3 (là
con trai của B) xác định B chỉ có một phần đất giáp với phần đất tranh chấp
(nằm bên phải phần đất tranh chấp), ranh giới ràng mương nước từ
trước đến nay. Như vậy, có thể thấy các thửa đất số 9, 16, 17, 18, 19, 20, 42, 435
không thuộc quyền sdụng của gia đình ông Lê Văn T2bà B. Do đó, việc giải
quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T2 gia đình B nên
không cần thiết phải đưa ông Lê Văn T2 B tham gia tố tụng trong vụ án này.
Tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối
với quyền sử dụng đất diện tích 4.302,9m
2
yêu cầu buộc ông N trả lại diện tích
đất trong thời hạn 01 tháng kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp sơ
thẩm đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn phù hợp.
[2] Về kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Ú thấy rằng:
[2.1] Theo Mảnh trích lục địa chính số 8-2022 ngày 21/12/2022 của Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai thị xã B thể hiện diện tích đất tranh chấp là:
9.297,1m² thuộc một phần các thửa đất sau: số 5 (6.329,9m²), số I (209,3m²), số
A (492,5m²), s17 (481m²), số 18 (125,6m²), số A (808,2m²), s20 (314,2m²),
số 42 (157,7m²) và số 435 (378,7m²), tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại phường T, thị xã
B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố D, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh). Tài
sản gắn liền trên đất có 550 cây cao su.
Quá trình giải quyết vụ án, ông N những người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan (gồm bà M, ông L1, bà L, bà Đ, bà L2H1) xác định vị trí đất do
bà Ú chỉ ranh không đúng thực tế nhưng hướng dẫn cơ quan chuyên môn đo đạc
đất, không yêu cầu Tòa án đo đạc lại phần đất tranh chấp; đồng thời ông N và bà
M, ông L1, bà L, bà Đ, bà L2, bà H1 đều thống nhất phần đất do bà Ú tranh chấp
có nguồn gốc của cha mẹ để lại, giao cho Ú đứng tên giùm. Tại phiên tòa phúc
10
thẩm, ông N xác định phần đất Ú tranh chấp đúng với phần đất ông T1, bà N2
giao Ú đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H
170840, svào sổ cấp giấy chứng nhận: 01123 QSngày 25/3/1996 cấp cho
Lê Thị Út . Các đương sự không ai yêu cầu Tòa án xem xét khôi phục mốc ranh
giới thửa đất. Do đó, Tòa án căn cứ vào Mảnh trích lục địa chính số 8-2022 ngày
21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã B và Biên bản xem
xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/12/2020 để giải quyết vụ án là phù hợp.
[2.2] Nguyên đơn Thị Ú xác định quyền sử dụng đất tranh chấp
nguồn gốc của cha mẹ ông Lê Văn T1 và Đoàn Thị N2 khai phá, sau đó ông
T1 N2 tặng cho Ú bà Ú được y ban nhân dân huyện B, tỉnh ng
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H 170840, số vào sổ cấp
giấy chứng nhận: 01123 QSngày 25/3/1996, diện tích 13.600m
2
, thuộc tờ bản
đồ số 1.
Bị đơn ông Lê Văn N người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Thị Kim M, Lê Thị L, ông Văn L1, Thị Đ, bà ThL2 Thị
H1 đều khẳng định nguồn gốc thửa đất hiện bà Lê ThÚ đang tranh chấp với ông
Lê Văn N là di sản thừa kế của ông T1, bà N2 chết để lại chưa chia, khi còn sống
ông T1, N2 chỉ cho Ú đứng tên giùm và chính ông T1 người đi đăng
kê khai, mục đích để không phải đưa đất vào tập đoàn, không có sự việc ông T1,
N2 tặng cho bà Ú như bà Ú trình bày.
Như vậy, có thể thấy các đương sự đều thống nhất xác định phần đất tranh
chấp nêu trên nguồn gốc của ông Văn T1 Đoàn Thị N2 khai phá
chính là phần đất được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Sông Bé cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số phát hành H 170840, số vào sổ cấp giấy chứng nhận:
01123 QSDĐ ngày 25/3/1996, diện tích 13.600m
2
, thuộc tờ bản đồ số 1, đứng tên
Lê Thị Út . Đây là chứng cứ không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015.
Đồng thời, việc các đương sự thừa nhận ông T1 là người trực tiếp làm thủ
tục đăng ký, kê khai để đề nghị Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Sông Bé cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H 170840, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận: 01123 QSDĐ ngày 25/3/1996 cho Ú đã giải nội dung thể hiện nguồn
gốc đất “khai phá” trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tức đất do ông T1
khai phá mà không phải bà Ú khai phá.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, Thị Ú cung cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01125 QSDĐ ngày 25/3/1996
đứng tên ông Lê Văn T1; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy
chứng nhận: 01122 QSDĐ ngày 25/3/1996 đứng tên ông Văn L1 diện tích
8.400m
2
, thuộc tờ bản đồ số 1 (nguồn gốc: khai phá, cha mẹ để lại) Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01145 QSDĐ ngày
18/02/2000 cấp cho hộ ông Văn T1 tổng diện tích 10.288m
2
gồm thửa đất
số 95, tờ bản đồ số 25 và thửa đất số 51, tờ bản đồ số 24, tại xã H, huyện B, tỉnh
Bình Dương (cập nhật tặng cho L ngày 22/10/2009). Đồng thời, ông N cũng
11
thừa nhận ngoài việc để Ú đứng tên giùm phần đất 13.600m
2
tông T1, N2
chia tài sản quyền sử dụng đất cho người con thứ 2 (ông Văn L1)
người con thứ 6 (bà Lê Thị L) như tài liệu, chứng cứÚ cung cấp.
Theo nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy
chứng nhận: 01125 QSDĐ ngày 25/3/1996 thể hiện ông T1 được cấp tổng diện
tích là 29.280m
2
, trong đó: diện tích 24.480m
2
thuộc tờ bản đồ số 1 (không có số
thửa) và các thửa đất số: thửa 2713 diện tích 1.600m
2
, thửa 2714 diện tích 1.600m
2
thửa 2715 diện tích 1.600m
2
. Ngày 06/10/1999, ông T1 đã lần lượt cập nhật
chuyển nhượng cho ông V diện tích 14.480m
2
bà Trịnh Thị G diện ch
10.000m
2
. Ông T1 chỉ còn lại 4.800m
2
thuộc các thửa đất số 2713, 2714, 2715.
Theo đđất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì cạnh hướng
Nam của phần đất diện tích 24.480m
2
(không số thửa, thuộc tbản đồ số 1)
tiếp giáp đất bà Ú và phần này đã chuyển nhượng hết cho ông Lý V và bà G, chỉ
còn lại phần đất 4.800m
2
nêu trên thuộc vị trí khác.
Nhận thấy, ngoài việc Ú được đứng tên phần đất diện tích 13.600m
2
theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01123 QSDĐ
ngày 25/3/1996 thì cùng thời điểm năm 1996, ông T1 còn tặng cho ông Văn
L1 một phần đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 01122 QSDĐ
ngày 25/3/1996 đến năm 2009, ông T1 tách thửa tặng cho Thị L diện
tích 507m
2
thuộc một phần thửa đất số 95 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01145 QSDĐ ngày 18/02/2000 cấp cho hộ
ông Lê Văn T1u trên.
[2.4] Bên cạnh đó, thời điểm ông Trung lập thủ tục để đăng phần đất
diện tích 13.600m
2
cho Ú đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01123 QSDĐ ngày 25/3/1996 thì Ú mới 18
tuổi, trong khi đó Ú con út trong gia đình, ông T1 N2 còn nhiều
người con khác như ông Lê Văn N (sinh năm 1976), bà Lê Thị Kim M (sinh năm
1973), bà Lê Thị Đ (sinh năm 1971), bà Lê Thị L (sinh năm 1969), bà Lê Thị L2
(sinh năm 1967), Thị H1 (sinh năm 1958) và ông Văn L1 (sinh năm
1955). Ông N thừa nhận thời điểm năm 1996, ngoài bà Ú thì còn vợ chồng ông
N, L M (chưa kết hôn) cùng sống chung với ông T1 N2. Ông N
khai rằng mọi thủ tục kê khai, đăng để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho bà Ú đều do ông Trung trực T4 thực hiện, không phải do bà Ú thực hiện. Do
đó, lời khai của ông N cho rằng ông T1, bà N2 thấy Ú nh chữ nghĩa hơn anh
chị em khác nên để bà Ú đứng tên quyền sử dụng đất giùm cha mẹ là không phù
hợp. Thời điểm còn sống, ông T1 N2 không ý kiến, yêu cầu hay tranh
chấp liên quan đến việc Ú đứng tên đối với quyền sử dụng đất theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H 170840, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận: 01123 QSDĐ ngày 25/3/1996.
[2.5] Tại Biên bản hòa giải ngày 04/6/2019 của Tổ hòa giải khu phố A,
phường H, thị B, tỉnh Bình Dương (bút lục 190-194) thể hiện các bên tranh
chấp Thị Ú ông Văn N, theo đó Ú yêu cầu ông N trả lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N ý kiến: Tôi mượn sổ đất của Ú nhưng
12
hiện nay tôi đã thế chấp ngân hàng nhưng giờ nói vậy thì chừng nào tôi tiền
trả thì tôi lấy về trả”, “Tôi hứa vào cuối năm nay vào ngày 30/1/2020 tôi sẽ trả”.
Tại phiên tòa, Thị Ú xác định nội dung tranh chấp theo Biên bản hòa giải
này là yêu cầu ông N trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H
170840, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01123 QSDĐ ngày 25/3/1996 cho bà Ú.
Ông N cũng xác nhận là bà Ú đòi ông N trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số phát hành H 170840, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01123 QSDĐ ngày
25/3/1996. Điều này cho thấy, Ú ông N phát sinh tranh chấp liên quan
đến việc ông N giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, chứng
minh Ú không từ bỏ quyền sử dụng đất của mình kể cả giấy tờ công nhận quyền
sử dụng đất.
[2.6] Mặt khác, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không có chứng cứ
nào xác định việc thu hồi hay hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát
hành H 170840, số o sổ cấp giấy chứng nhận: 01123 QSDĐ ngày 25/3/1996 do
Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Sông cấp cho Thị Út . Cho nên, Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H 170840, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận: 01123 QSDĐ ngày 25/3/1996 cấp cho bà Lê Thị Ú vẫn tồn tại và có giá trị
pháp lý, là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp
của Ú theo khoản 21 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2024. Ông N người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông L1, H1, L2, bà Đ, bà L, bà M không
cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào cho rằng ông T1, N2 chỉ giao bà Ú đứng
tên giùm nên lời khai này không có cơ sở xem xét.
[2.7] Tại Công văn số 956/TNMT-TTĐĐ ngày 10/10/2024 của Phòng Tài
nguyên và Môi trường thành phố B (bút lục 507) thể hiện Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số: 01367 do Ủy ban nhân dân huyện
B cấp ngày 06/10/1999 cho ông Lý V, tại thửa đất số 5, tờ bản đồ số 7, phường T
được đo đạc bằng phương pháp thủ công, không thể hiện tọa độ đỉnh thửa nên
không sđể thực hiện việc áp thửa để xác định việc cấp trùng giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất s5 thể hiện tại Mảnh trích lục
địa chính số 08 ngày 21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã
B với thửa đất số 5, tờ bản đồ số 7 trong giấy chứng nhận cấp cho ông Lý V. Tuy
nhiên, ông Lý V và ông Lý H2 thừa nhận ranh giới theo Mảnh trích lục địa chính
số 8-2022 ngày 21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị B và
xác định thửa đất số 5, tờ bản đồ số 7 cấp cho ông Vân trùng với 6.329,9m² phần
đất tranh chấp và phần đất này không nằm trong phần đất thuộc thửa đất số 5 do
cha ông V ông Hoàng N4 chuyển nhượng của ông T1 năm 1999, phần đất
tranh chấp này không thuộc quyền sử dụng của ông Lý V và ông V đồng ý trả lại
cho chủ sử dụng đất hợp pháp. Như vậy, mặc các đương sự không tranh chấp
nhưng khi xem xét công nhận quyền sử dụng đất đối với 6.329,9m² thuộc một
phần thửa đất số 5, tờ bản đồ số 7 cấp trùng cho ông V cần phải điều chỉnh
kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi để điều chỉnh theo đúng diện
tích đất theo quy định của pháp luật.
13
Đối với các thửa đất số 9, 16, 17, 18, 19, 20, 42, 435 không thông tin
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua xác minh, ông Văn T2 ông
Phạm Văn T3 đều xác định các thửa đất này không phải đất thuộc quyền sử dụng
của ông T2 và bà B.
[2.8] Từ những căn cứ trên, nhận thấy có cơ sở xác định lời khai của bà Ú
về việc ông T1, bà N2 cho bà Ú quyền sử dụng đất diện tích 13.600m
2
theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01123 QSDĐ ngày
25/3/1996 là phợp. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ú đối với ông N về việc
tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật là có căn
cứ chấp nhận, công nhận quyền sử dụng đất của Ú đối với quyền sử dụng đất
qua đo đạc thực tế diện tích 9.297,1m² theo Mảnh trích lục địa chính số 8-2022
ngày 21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B nêu trên.
[2.9] Xét, theo Biên bản xác minh ngày 13/7/2022 (bút lục 131) lời trình
bày của các đương sự tại phiên tòa, có cơ sở xác định Ú không trực tiếp quản
lý, sử dụng đất tranh chấp do vợ chồng ông N, N1 trực tiếp quản lý, sử
dụng trồng 550 cây cao su trên đất. Ú không chứng minh được việc canh
tác, sử dụng đất hay trồng cây cao su trên đất. Do đó, sở xác định toàn bộ
phần đất tranh chấp hiện do ông Lê Văn N quản lý, sử dụng và trồng toàn bộ 550
cây cao su có trên đất. Mặc dù bà Ú chủ sdụng đất nhưng Ú không tự quản
lý, sử dụng đất do ông N quản nên ông N công sức trong việc quản lý,
giữ gìn, tôn tạo quyền sử dụng đất tranh chấp. Do đó, cần xem xét công sức của
ông N N1 trong việc giữ gìn, quản đất theo tỷ lệ 10% gtrị đất tranh
chấp theo Biên bản định giá tài sản ngày 02/12/2021 xác định giá đất y lâu năm
1.500.000 đồng/m
2
x 9.297,1m² = 13.945.650.000 đồng x 10% = 1.394.565.000
đồng.
Đồng thời, Ú phải thanh toán cho ông N, N1 giá trị y cao su do ông
N N1 trồng trên đất 550 cây cao su x đơn giá 497.000 đồng/cây, thành
tiền là 273.350.000 đồng.
[2.10] Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy kháng cáo của nguyên đơn
sở chấp nhận. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh tại phiên tòa phù hợp. Do đó, cần sửa một phần bản án sơ thẩm theo
hướng phân tích nêu trên.
[3] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của bà Ú được chấp nhận nên ông
N phải chịu chi phí tố tụng. Do chi phí tố tụng đã được khấu trừ vào tiền tạm ứng
của bà Lê Thị Ú nộp, nên ông N phải nộp lại để hoàn trả cho bà Ú.
[4] Án phí dân sự thẩm: Ú phải chịu án phí đối với giá trị công sức
thanh toán cho ông N và N1; ông N phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi
kiện của bà Ú được chấp nhận.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Ú không phải nộp do
yêu cầu kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
14
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 164, Điều 296, khoản 2 Điều
308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 163, 164, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các khoản 16, 47 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2024; các khoản
16, 24 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Út .
2. Sửa Bản án dân sự thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị Ú đối với bị
đơn ông Văn N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt
hành vi trái pháp luật”.
2.1.1. Công nhận cho Thị Ú được quyền quản lý, sử dụng quyền sử
dụng đất diện tích đo đạc thực tế 9.297,1m
2
, thuộc một phần các thửa đất số: 5,
9, 42, 16, 17, 18, 19, 20 và 435, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại khu phố D, phường H,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Hình thể, diện tích, kích thước, ranh giới diện tích 9.297,1m
2
nêu trên
được xác định theo Mảnh trích lục đo đạc chỉnhsố 8-2022 ngày 21/12/2022
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là Chi
nhánh Văn phòng Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh) đính kèm theo Bản án này.
2.1.2. Buộc ông Văn N phải trả cho Thị Ú toàn bdiện tích đất
9.297,1m
2
, thuộc một phần các thửa đất số: 5, 9, 42, 16, 17, 18, 19, 20 và 435 tờ
bản đồ số 7, tọa lạc tại khu phố D, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Mảnh
trích lục đo đạc chỉnh số 8-2022 ngày 21/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai thị B, tỉnh Bình Dương (nay Chi nhánh Văn phòng Đ1,
Thành phố Hồ Chí Minh).
2.1.3. Buộc ông Lê Văn N chấm dứt mọi hành vi ngăn chặn, cản trở việc
Lê Thị Ú thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của Lê Thị Ú đối với quyền
sử dụng đất công nhận cho bà Lê Thị Ú nêu trên.
2.1.4. Buộc Thị Ú thanh toán cho ông Văn N bà Phạm Thị
Ngọc N1 giá trị công sức quản lý, giữ gìn, tôn tạo quyền sử dụng đất tranh chấp
1.394.565.000 đồng và gtrị 550 cây cao su gắn liền với đất tranh chấp
273.350.000 đồng. Tổng cộng 1.667.915.000 (một tỷ sáu trăm sáu mươi bảy
triệu chín trăm mười lăm nghìn) đồng.
K t ngày bn án, quyết định hiu lc pháp luật (đối với c trường hp
15
quan thi hành án quyền ch đng ra quyết định thi nh án) hoc k t ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối vi các khon tin
phi tr cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phi thi
hành án còn phi chu khon tin lãi ca s tin n phi thi hành án theo mc lãi
suất quy định tại Điều 357, Điều 468 ca B lut Dân s năm 2015, trừ trường
hp pháp luật có quy định khác.
2.1.5. Các đương sự (bà Lê Th Ú, ông Lý V) có quyền nghĩa vụ liên h
với quan Nhà c thm quyền để thc hin việc khai, đăng quyền
s dụng đất theo quy định ca pháp lut.
Kiến ngh quan Nhà nước thm quyn thu hi Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số phát hành H 170840, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01123 QSDĐ
ngày 25/3/1996 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Sông Bé cấp cho bà Lê Thị Ú
và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số: 01367
ngày 06/10/1999 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Sông Bé cấp cho hộ ông
V để điều chỉnh diện tích theo kết quả giải quyết của Bản án này.
2.2. Đình chỉ t xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Th
Ú đối với bị đơn ông Lê Văn N đối với diện tích đất là 4.302,9 m
2
và đối với yêu
cầu buộc ông Lê Văn N trả lại diện tích đất trong thời hạn 01 tháng kể từ khi Bản
án có hiệu lực pháp luật.
2.3. Về chi phí tố tụng:
Ông Lê Văn N phải chịu số tiền 4.519.226 (bốn triệu năm trăm mười chín
nghìn hai trăm hai ơi sáu) đồng được khấu trừ vào tiền tạm ứng bà Lê Thị
Ú đã nộp, nên ông Văn N phải nộp lại số tiền 4.519.226 đồng nêu trên đhoàn
trả lại cho bà Lê Thị Út .
2.4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Thị Ú phải chịu 62.037.450 (sáu mươi hai triệu không trăm ba mươi
bảy nghìn bốn trăm năm mươi) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số
AA/2016/0054502 ngày 23/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến
Cát, tỉnh Bình Dương và 300.000 đồng theo Biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số
AA/2021/0011637 ngày 24/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị Bến
Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi nh án dân sự Khu vực 18 – Thành phố
Hồ Chí Minh). Thị Ú còn phải nộp 61.437.450 (sáu mươi mốt triệu bốn
trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi) đồng.
Ông Lê Văn N phải nộp 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Ú không phải chịu. Trả lại
Thị Ú 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu
án phí, lệ phí Tòa án số 0012784 ngày 03/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành
phố Hồ Chí Minh.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
16
5. Trường hp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut Thi hành
án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án
hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Lut
Thi hành án dân s; thi hiệu thi hành án được thc hiện theo quy đnh tại Điều
30 Lut Thi hành án dân s.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 18 Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 18 Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Trúc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1173/2026/DS-PT Bản án số 1173/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1173/2026/DS-PT Bản án số 1173/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất