Bản án số 162/2024 ngày 12/12/2024 của TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 162/2024
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 162/2024
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 162/2024
Tên Bản án: | Bản án số 162/2024 ngày 12/12/2024 của TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Thới Bình (TAND tỉnh Cà Mau) |
Số hiệu: | 162/2024 |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 12/12/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Phạm Thị T khởi kiện Võ Lệ H về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN THỚI BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 162/2024/DS-ST
Ngày 12 - 12 - 2024
“Tranh chấp hợp đồng cầm cố
quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Kim Cương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Hùng
Ông Đinh Chí Hiển
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hồng Như - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện
Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tham gia phiên tòa:
Bà Đào Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới
Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 107/2024/TLST-DS ngày
06 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐXXST-DS, ngày 07 tháng 11
năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị T, sinh năm 1970
Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã T, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Kim Chan ĐR, sinh năm
1987. Địa chỉ cư trú: Khóm 3, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Cà Mau (theo văn bản
uỷ quyền ngày 15/5/2024 – có mặt).
- Bị đơn: Bà Võ Lệ H, sinh năm 1959 ( có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
2
Chị Đặng Ngọc D (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
Chị Đặng Phương L, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp TM, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
Anh Đặng Thanh H (Đặng Văn H) (vắng mặt)
Anh Đặng Thanh C (Đặng C) (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa đại
nguyên đơn ông Kim Chan ĐR trình bày:
Vào ngày 22/01/2021 vợ chồng bà Võ Lệ H và ông Đặng Văn T có thoả
thuận cố cho bà Phạm Thị T một phần đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là 8.840m
2
thuộc các thửa đất số 185, 186 tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc
tại ấp 3, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau, thoả thuận cố đất với giá 06 lượng vàng
24k. Thời hạn cố đất là 03 năm kể từ ngày 22/01/2021 đến 22/01/2024. Việc cố
đất thì hai bên không có làm hợp đồng nhưng sau đó ông T, bà H có làm đơn xin
xác nhận đề ngày 22/01/2021 và được Uỷ ban nhân dân xã TP, huyện TB xác
nhận về việc ông T, bà H cố đất cho bà T. Sau khi xác lập thoả thuận phía bà T đã
giao đủ vàng cho phía ông T, bà H. Ông T bà H cũng đã giao phần đất thoả thuận
cố như trên cho phía bà T canh tác và giao giấy chứng nhận quyền sử đất nói trên
cho phía bà T quản lý.
Đến tháng 4 năm 2021 ông T chết, sau đó phía bà H cùng các con bà H
mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất đã cố nói trên để làm thủ
tục thừa kế, nên bà T đã giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho bà
H. Đến ngày 22/01/2024 đến hạn chuộc lại đất phía bà T chủ động yêu cầu bà H
cùng các con chuộc lại đất thì bà H hứa hẹn nhưng không chuộc đất theo thoả
thuận, bà T cũng không có nhu cầu sử dụng tiếp phần đất đã cố.
3
Nên nay bà T yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng cố đất giữa ông Đặng Văn
T, bà Võ Lệ H với bà Phạm Thị T là vô hiệu. Yêu cầu bà H cùng hàng thừa kế thứ
nhất của ông T liên đới trả lại cho bà T 06 lượng vàng 24K. Bà T giao lại cho bị
đơn phần đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 8.840m
2
thuộc
các thửa đất số 185, 186 tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc tại ấp 3, xã TP, huyện TB, tỉnh
Cà Mau.
- Bị đơn bà Võ Lệ H trình bày:
Bà thừa nhận vào ngày 22/01/2021 vợ chồng ông có thỏa thuận với bà
Phạm Thị T cố cho bà T phần đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là 8.840m
2
thuộc các thửa đất số 185, 186 tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc tại ấp 3,
xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Phần đất có tứ cận: Mặt tiền giáp đất
ông Nguyễn Văn K, mặt hậu giáp Kinh 500; cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp đất
ông Lê Văn L, cạnh trái giáp đất ông Phạm Văn K. Khi cố đất, thoả thuận giá cố
đất là 06 lượng vàng 24k. Thời hạn cố đất là 03 năm kể từ ngày 22/01/2021 đến
22/01/2024. Khi cố đất không làm hợp đồng nhưng bà có làm đơn xin xác nhận đề
ngày 22/01/2021 có Uỷ ban nhân dân xã Trí phải xác nhận về việc ông T, bà H cố
đất cho bà T. Quá trình cố đất phía bà T giao vàng và tiền cho bà nhiều lần nhưng
các bên thống nhất quy ra thành vàng tổng cộng là 06 lượng vàng 24k, bà đã nhận
đủ. Phía bà cũng đã giao phần đất cầm cố nói trên cho bà T canh tác. Phần đất
cầm cố nói trên đã được Uỷ ban nhân dân huyện Thới Bình cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất vào ngày 08/4/1997 cho ông Đặng Văn T, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hiện do bà đang quản lý. Đến tháng 4/2021 ông T chết, hàng
thừa kế thứ nhất của ông T gồm có bà và Đặng Ngọc D, Đặng Phương L, Đặng
Văn Đ, Đặng Thanh H (Đặng H), Đặng Thanh C. Sau khi mãn hợp đồng cố đất
theo thoả thuận thì do điều kiện khó khăn chưa có khả năng chuộc lại đất nên bà
có thoả thuận với gia đình bà T gia hạn thêm một năm. Nên nay bà không đồng ý
với yêu cầu của bà T do bà không có khả năng chuộc đất nên tiếp tục giao đất cho
bà T canh tác và gia hạn hợp đồng cố đất thêm 03 năm, khi có khả năng chuộc
đất thì bà sẽ báo trước cho bà T 03 tháng.
4
- Các bị đơn chị Đặng Phương L, chị Đặng Ngọc D, anh Đặng Văn Đ trình
bày: Thống nhất với lời trình bày của bà H không có ý kiến gì khác.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu quan điểm:
Về chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự
đều thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 123, Điều 131 của Bộ luật dân sự; Điều 6,
khoản 4 Điều 12, Điều 167 của Luật đất đai năm 2013. Chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất được xác lập ngày
22/01/2021 giữa ông bà Võ Lệ H, ông Đặng Văn T với bà Phạm Thị T vô hiệu.
Buộc bà H và chị D, chị L, anh H, anh Đ, anh C cùng liên đới trả cho bà T 60 chỉ
vàng 24k. Buộc bà T giao lại cho các bị đơn phần đất diện tích theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 0053 do Uỷ ban nhân dân huyện Thới Bình cấp ngày
08/4/1997 là 8.840m
2
thuộc các thửa đất số 185, 186 tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc tại
ấp 3, xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Án phí các đương sự phải chịu
theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Đặng Thanh H, anh Đặng Thanh C, chị
Đặng Ngọc D, chị Đặng Phương L đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai
nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ
án vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa các đương sự đặt ra được xác định
là tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, các bị đơn có địa chỉ cư trú tại
huyện Thới Bình nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, phía nguyên đơn và bị đơn đều thống
nhất xác định: Vào ngày 22/01/2021 vợ chồng ông Đặng Văn T và bà Võ Lệ H có
thỏa thuận cố quyền sử dụng đất theo “Đơn xin xác nhận” cho bà Phạm Thị T
5
phần đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0053 do Uỷ ban
nhân dân huyện Thới Bình cấp ngày 08/4/1997 là 8.840m
2
thuộc các thửa đất số
185, 186 tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc tại ấp 3, xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà
Mau với số vàng là 60 chỉ vàng 24k. Ông T bà H đã nhận đủ số 60 chỉ vàng 24k
và cũng đã giao cho bà T canh tác phần đất đã cố nói trên.
Tại đơn khởi kiện và tại phiên toà nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng
cầm cố quyền sử dụng đất được xác lập ngày 22/01/2021 giữa bà Võ Lệ H, ông
Đặng Văn T với bà Phạm Thị T vô hiệu. Buộc bà H cùng hàng kế thứ nhất của
ông T liên đới trả lại cho bà T 06 lượng vàng 24K. Bà T giao lại phần đất diện
tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 8.840m
2
thuộc các thửa đất số
185, 186 tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc tại ấp 3, xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà
Mau. Bị đơn xin tiếp tục gia hạn hợp đồng, không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng: Hợp đồng hợp đồng cầm cố
quyền sử dụng đất là “ĐƠN XIN XÁC NHẬN” lập ngày 22/01/2021 (dương lịch)
giữa vợ chồng ông Đặng Văn T và bà Võ Lệ H với bà Phạm Thị H thì tại thời
điểm cố đất những người tham gia giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi
dân sự; hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện giữa các bên; đơn xác nhận
cố đất nói trên có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã Trí phải, huyện Thới Bình.
Phần đất cầm cố đã được y ban nhân dân huyện Thới Bình cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất vào sổ số 0053 là 8.840m
2
thuộc các thửa đất số 185, 186 tờ
bản đồ số 5, đất toạ lạc tại ấp 3, xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau cho
ông Đặng Văn T. Tuy nhiên, pháp luật về đất đai mà cụ thể tại Điều 167 Luật đất
đai năm 2013 chỉ quy định người sử dụng đất “được quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử
dụng đất” không quy định người sử dụng đất được quyền cầm cố quyền sử dụng
đất, cho nên giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông Đặng Văn
T, bà Võ Lệ H với bà Phạm Thị T là vi phạm điều cấm của luật.
6
Do đó, căn cứ Điều 123, Điều 131 của Bộ luật dâ sự và Điều 6, khoản 4
Điều 12, Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 thì giao dịch dân sự nói trên không
có phát sinh hiệu lực, dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu. Nên yêu cầu của nguyên
đơn về việc tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà H, ông T với bà
T vô hiệu là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Xét hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại
Điều 131 Bộ luật Dân sự:
“ Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập”. Giao dịch dân sự vô hiệu
thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu hoàn trả cho nhau những gì đã
nhận”.
Cho nên, nguyên đơn bà Phạm Thị T có nghĩa vụ trả lại cho bị đơn phần đất
có diện tích 8.840m
2
thuộc các thửa đất số 185, 186 tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc tại
ấp 3, xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất vào sổ số 0053 đứng tên cho ông Đặng Văn T. Phần đất có tứ cận theo
nguyên bị đơn xác nhận như sau: Mặt tiền giáp đất ông Nguyễn Văn K, mặt hậu
giáp Kinh 500; cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp đất ông Lê Văn L, cạnh trái giáp
đất ông Phạm Văn K.
Bên cố đất là ông T và bà H có nghĩa vụ hoàn trả cho bà T 60 chỉ vàng 24k,
nhưng hiện ông T đã chết năm 2021 nên người thừa kế hàng thứ nhất của ông T
theo xác định của bà H vợ ông T gồm có: Chị Đặng Ngọc D, chị Đặng Phương L,
anh Đặng Văn Đ, anh Đặng Thanh H (Đặng H), anh Đặng Thanh C. Nên buộc bà
H và Đặng Ngọc D, Đặng Phương L, Đặng Văn Đ, Đặng Thanh H (Đặng H),
Đặng Thanh C liên đới hoàn trả cho bà Phạm Thị T số vàng cố đất là 60 (sáu
mươi) chỉ vàng 24k là phù hợp.
[3] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và án phí dân sự có giá ngạch theo quy
định của pháp luật trên số vàng buộc trả lại cho nguyên đơn. Giá vàng được tính
theo bảng giá vàng Hội Mỹ nghệ Kim Hoàn tỉnh Cà Mau công bố ngày

7
11/12/2024 là 8.310.000 đồng/chỉ. Riêng bà Võ Lệ H trên 60 tuổi có đơn xin miễn
án phí nên được miễn án phí. Nguyên đơn không phải chịu án phí đã dự nộp tạm
ứng án phí nên được nhận lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 227, 228, 235, 271, 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 123, Điều 131 của Bộ luật Dân sự; Điều 6, khoản 4 Điều 12,
Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T. Tuyên bố hợp đồng cầm
cố quyền sử dụng đất được xác lập bằng “ĐƠN XIN XÁC NHẬN” ngày
22/01/2021 (dương lịch) giữa ông Đặng Văn T, bà Võ Lệ H với bà Phạm Thị T là
vô hiệu.
Buộc bị đơn bà Võ Lệ H, chị Đặng Ngọc Diễm, chị Đặng Phương L, anh
Đặng Văn Đ, anh Đặng Thanh H (Đặng H), anh Đặng Thanh C có nghĩa vụ liên
đới hoàn trả cho bà Phạm Thị T 60 (sáu mươi) chỉ vàng 24k.
Buộc bà Phạm Thị T trả lại cho bà Võ Lệ H, chị Đặng Ngọc D, chị Đặng
Phương L, anh Đặng Văn Đ, anh Đặng Thanh H, anh Đặng Thanh C phần đất có
diện tích 8.840m
2
thuộc các thửa đất số 185, 186 tờ bản đồ số 5, đất toạ lạc tại ấp
3, xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện Thới Bình cấp vào sổ số 0053 đứng tên cho
ông Đặng Văn T. Phần đất có tứ cận: Mặt tiền giáp đất ông Nguyễn Văn K, mặt
hậu giáp Kinh 500; cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp đất ông Lê Văn L, cạnh trái
giáp đất ông Phạm Văn K.
Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Đặng Ngọc D, chị Đặng
Phương L, anh Đặng Văn Đ, anh Đặng Thanh H, anh Đặng Thanh C phải chịu là

8
300.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch chị Đặng Ngọc D, chị Đặng
Phương L, anh Đặng Văn Đ, anh Đặng Thanh H, anh Đặng Thanh C phải chịu
19.954.000 đồng. Bà Võ Lệ H được miễn án phí. Bà Phạm Thị T không phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm, ngày 26/4/2024 bà Phạm Thị T có dự nộp án phí số tiền
10.520.000 đồng theo biên lai thu số 0016166 tại Chi cục thi hành án dân sự
huyện Thới Bình được nhận lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIỂN TÒA
(Đã ký)
Phạm Kim Cương
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Cà Mau
- VKSND huyện Thới Bình;
- Chi cục THADS huyện Thới Bình;
- Các đương sự;
- Lưu.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 23/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 18/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 17/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 12/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 12/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/11/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 20/11/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 12/11/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 22/10/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 22/10/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 21/10/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 17/10/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 29/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 20/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm