Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TAND huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 13/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 13/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 13/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TAND huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Cù Lao Dung (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
Số hiệu: | 13/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 25/07/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chị N tranh chấp HĐ với ông L, bà N1 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 13/2024/DS-ST
Ngày: 25-7-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Tâm.
Ông Nguyễn Văn Ngộ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân là Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung,
tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2024/TLST-DS ngày
06 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Danh Que Xa N – Chủ hộ kinh doanh T1.
Địa chỉ thường trú: Ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ liên hệ: Ấp
P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Mai C, sinh năm
1997; địa chỉ thường trú: Ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ liên hệ: Ấp
P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, văn bản ủy quyền ngày 19/10/2023 (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1967 (vắng mặt);
2. Bà Hà Thị N1, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tại đơn khởi kiện lập ngày 02 tháng 5 năm 2024 của nguyên đơn bà Danh Q
Xa Na – Chủ hộ kinh doanh Trường H và trong quá trình giải quyết vụ án người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Đỗ Thị Mai C trình bày:
Vào ngày 20/12/2019 ông Lê Văn T (đại diện cho hộ kinh doanh T2) với
ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 có giao dịch mua bán thức ăn và thuốc thủy
sản thông qua hợp đồng, hai bên thống nhất nội dung rằng bên ông T sẽ cung cấp
các loại thức ăn và thuốc thủy sản, khi ông L và bà N1 đặt hàng thì hàng hóa sẽ
được nhân viên giao hàng chở tận nơi tại nhà của ông L và bà N1 hoặc ông L và bà
N1 đến tận kho của ông T nhận hàng, khi nhận đủ hàng thì ông L và bà N1 sẽ ký
nhận vào sổ theo dõi giao nhận hàng. Cuối mỗi tháng hoặc khi ông L có yêu cầu,
bà N sẽ gửi bảng đối chiếu công nợ cho ông L và bà N1 kiểm tra và ký xác nhận.
Thời gian thanh toán là cuối mỗi vụ nuôi tôm ông L và bà N1 có nghĩa vụ phải
thanh toán hết số tiền hàng cho ông T.
Đến cuối năm 2019, ông Lê Văn T đã chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh T2 cho bà Danh Q Xa Na
và bà N đã được Phòng Tài chính – Kế hoạch Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy
chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số: 59H8001363, đăng ký lần đầu ngày
11/03/2020. Theo đó, tại văn bản thỏa thuận lập ngày 09/4/2020, ông Lê Văn T
đồng ý chuyển giao quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh đối với
Hộ kinh doanh T2 trước đây cho bà N; bà N được toàn quyền đòi, thu hồi các
khoản nợ và trả các khoản nợ trước đây, giải quyết các tranh chấp tại cơ quan có
thẩm quyền và cam kết không tranh chấp hay khiếu nại gì về sau. Do đó, bà N có
đầy đủ quyền và nghĩa vụ thực hiện tiếp tục giao dịch với ông L và bà N1, căn cứ
vào thỏa thuận mua bán trên bà N đã cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng hàng
hóa như hai bên thỏa thuận, sau khi nhận hàng ông L và bà N1 đều ký vào sổ theo
dõi và không hề có ý kiến phản đối hay khiếu nại về số lượng, chất lượng, chủng
loại hàng hóa mà bà N đã giao. Tuy nhiên, ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 đã
vi phạm nghĩa vụ thanh toán với bà N, cuối mỗi vụ thu tôm ông Huỳnh Văn L và
bà Hà Thị N1 đã không thanh toán đầy đủ tiền hàng cho bà N như thỏa thuận. Theo
sổ giao nhận hàng và các giấy tờ ký nhận thì tính đến ngày 25/03/2022 thì ông
Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 còn nợ gốc bà N số tiền 105.456.000 đồng. Mặc dù
bà N đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông, bà thanh toán dứt điểm công nợ nhưng
ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của
mình. Việc ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 không trả nợ đã gây cho bà N nhiều
khó khăn, thiệt hại.
Nay bà Danh Q Xa Na yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 phải trả nợ cho bà N một lần số
tiền còn thiếu là: 105.456.000 đồng và phải trả tiền lãi chậm thanh toán theo quy
định của pháp luật kể từ khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi
trả hết nợ cho bà N.
Tại biên bản lấy lời khai cùng ngày 05 tháng 5 năm 2024, bị đơn ông Huỳnh
Văn L và bà Hà Thị N1 trình bày:
3
Vào ngày 20 tháng 12 năm 2019, vợ chồng ông L, bà N1 có hợp đồng mua
thức ăn chăn nuôi thủy sản của Hộ kinh doanh Trường H, mua nhiều lần. Đến ngày
03/7/2020, vợ chồng ông L, bà N1 có chốt nợ với với H1 kinh doanh Trường H do
bà Danh Q Xa Na làm chủ, ông L, bà N1 còn nợ số tiền tổng cộng 110.456.000
đồng. Sau đó, tính đến ngày 25/03/2022 vợ chồng ông L, bà N1 có trả cho H1 kinh
doanh Trường H số tiền 5.000.000 đồng. Ông L, bà N1 thừa nhận đến nay ông, bà
còn nợ H1 kinh doanh Trường H số tiền tổng cộng 105.456.000 đồng. Do hiện nay
ông, bà gặp khó khăn về kinh tế nên xin trả nợ dần cho H1 kinh doanh Trường H,
có bao nhiêu tiền thì trả dần bấy nhiêu cho đến khi dứt nợ.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của
những người tham gia tố tụng là nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Riêng các bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 chưa thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn bà Danh
Que Xa N – Chủ hộ kinh doanh Trường H có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc các bị đơn phải có
nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số tiền còn nợ mua thức ăn, thuốc thú y để nuôi
thủy sản là 105.456.000 đồng.
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu toàn bộ
án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm có giá ngạch, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
đã nộp.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải
quyết: Khi bà Danh Q Xa Na – Chủ hộ kinh doanh Trường H nộp đơn khởi kiện,
thì người bị kiện ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1, cùng cư trú tại ấp T, xã A,
huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Bà N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L, bà
N1 phải trả số tiền mua thức ăn, thuốc thủy sản còn nợ. Bà N đã nộp đơn khởi kiện
tại Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu, chứng cứ
kèm theo. Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung đã thụ lý đơn và thông báo cho bà
N nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và bà N đã thực hiện việc
nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao
Dung, tỉnh Sóc Trăng thụ lý đơn khởi kiện của bà N là đúng thẩm quyền và đúng
4
theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Các bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; nguyên đơn
vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa nên căn cứ
vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 2, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn ông Huỳnh Văn L, bà
Hà Thị N1 và nguyên đơn bà Danh Que Xa N – Chủ hộ kinh doanh Trường H.
[2] Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu
cầu các bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền đã mua thức ăn và thuốc thủy sản với số
tiền còn nợ là 105.456.000 đồng và phải trả tiền lãi chậm thanh toán theo quy định
của pháp luật kể từ khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi trả hết
nợ cho bà N.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình
giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 đã thừa nhận tính đến
ngày 25/3/2022, ông L, bà N1 còn nợ bà Danh Q Xa Na – Chủ hộ kinh doanh
Trường H (sau đây gọi tắt là bà N) số tiền 105.456.000 đồng. Theo khoản 2 Điều
92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không
phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên
môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”,
căn cứ vào quy định này, Hội đồng xét xử công nhận ông Huỳnh Văn L và bà Hà
Thị N1 còn nợ bà N số tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản là 105.456.000 đồng là
sự thật. Tuy nhiên, ông L, bà N1 xin trả nợ dần cho nguyên đơn, có bao nhiêu tiền
thì trả dần bấy nhiêu cho đến khi dứt nợ nhưng người đại diện của nguyên đơn
không đồng ý theo đề nghị của ông L, bà N1 và vấn đề này cũng không thuộc thẩm
quyền của Hội đồng xét xử nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu của ông L, bà N1.
[5] Căn cứ vào Điều 430 Bộ luật Dân sự quy định “Hợp đồng mua bán tài
sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho
bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán” và Điều 440 Bộ luật Dân sự quy định về
nghĩa vụ trả tiền, thì tại khoản 1 quy định: “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền
theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng”. Thỏa thuận
theo hợp đồng, thì “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán dứt điểm toàn bộ công nợ cho
bên bán khi thu hoạch tôm”. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch tôm xong bên mua là
ông L, bà N1 không thanh toán dứt điểm toàn bộ công nợ cho bên bán là bà N. Do
đó, bà N yêu cầu các bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 phải trả số tiền
mua thức ăn, thuốc thủy sản còn nợ 105.456.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định
của pháp luật.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà
5
N tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản còn nợ với số tiền 105.456.000 đồng (một
trăm linh năm triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ,
đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên các bị đơn
ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch là 5.272.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm (ông Huỳnh Văn L nộp 2.636.400
đồng, bà Hà Thị N1 nộp 2.636.400 đồng).
[9] Nguyên đơn bà N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn
được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 92; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 2, 3 Điều 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự;
- Điều 357; Điều 430; khoản 1 Điều 440 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Danh Que Xa N
– Chủ Hộ kinh doanh Trường H đối với các bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị
N1.
2. Xử buộc các bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 phải có nghĩa vụ
trả cho nguyên đơn bà Danh Que Xa N – Chủ Hộ kinh doanh Trường H tiền mua
thức ăn và thuốc thủy sản còn nợ với số tiền tổng cộng là 105.456.000 đồng (một
trăm linh năm triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn bà Danh Que Xa N
– Chủ Hộ kinh doanh Trường H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành
án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng các bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà
Hà Thị N1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí:
3.1. Các bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Hà Thị N1 phải chịu 5.272.800
đồng án phí dân sự sơ thẩm (ông Huỳnh Văn L nộp 2.636.400 đồng, bà Hà Thị N1
nộp 2.636.400 đồng).
6
3.2. Nguyên đơn bà Danh Que Xa N – Chủ Hộ kinh doanh Trường H không
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Danh Que Xa N – Chủ Hộ kinh
doanh Trường H số tiền tạm tạm ứng án phí sơ thẩm 2.637.000 đồng theo biên lai
thu tiền số: 0004381 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
4. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày tuyên án; rêng các bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, thì thời hạn kháng cáo tính
từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân
tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Cù Lao Dung;
- Chi cục THADS huyện Cù Lao Dung;
- TAND tỉnh Sóc Trăng
(P.KTNV & THA);
- Lưu hồ sơ;
- Lưu Tòa án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Đặng Phước Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 07/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 23/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 23/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm