Bản án số 124/2026/HS-PT ngày 22/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 124/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 124/2026/HS-PT ngày 22/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 124/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Công L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 124/2026/HS-PT Bản án số 124/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 124/2026/HS-PT Bản án số 124/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 124/2026/HS-PT
Ngày 22-8-2026.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Giang và ông Dương Văn Bản.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà:
Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 89/2026/TLPT-HS ngày 01
tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo Đỗ Công L do kháng cáo của bị cáo Đỗ
Công L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2026/HS-ST ngày 27/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thái Nguyên.
Bị cáo kháng cáo:
Đỗ Công L, Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1984, tại tỉnh Thái Nguyên; Tên
gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng HKTT và nơi hiện nay: Xóm
T, T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:
Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đ
Công H Thị Đ; Vợ: Thị H1 và 02 con; Tiền án: 01 (Tại bản án
hình sự số 30/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Thái Nguyên) xử phạt 09
tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, về tội “Hủy hoại tài
sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự). Tiền sự: Không có. Bị cáo
bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2025 cho đến nay.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh T. Có mặt tại
phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo L : Ông Phạm Ngọc K - Luật thuộc
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn bị hại, người làm chứng không liên quan
2
đến kháng cáo, Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 25 phút, ngày 28/8/2025, Đỗ Công L đến nhà anh Lê Tùng
D, sinh năm 1999, trú quán: Xóm T, T, tỉnh Thái Nguyên chơi. Lúc này tại
nhà anh D Nguyễn Hữu Thế A, sinh năm 1994, trú quán: Xóm Đ, Y, tỉnh
Lạng Sơn, hiện đang tạm trú tại: Xóm T, T, tỉnh Thái Nguyên; anh Trần Văn
N, sinh năm 1988; anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1986; anh Hoàng Văn T, sinh
năm 1988 (là những người cùng xóm với anh D) đang chơi bài lơ khơ hình
thức quỳ gối ở chiếu trải dưới nền sân để giải trí, L ngồi uống nước ở bàn ghế gỗ
xem mọi người chơi bài. Trong quá trình ngồi chơi, L bảo Thế A “30 tuổi chưa
lấy vợ thì xem lại, đời chỉ là thế thôi”, “Trường con gái thì gả cho Thế A”,
anh T bào Lực “anh cũng con gái mà”, L nói tiếp “Riêng loại nó (tức nói
Thế A) phải gọi tao bằng bố”. Nghe L nói vậy Thế A bực tức đứng dậy nói với
L “Mày bảo ai phải gọi mày bằng bố”, L trả lời “Mày phải gọi tao bằng bố”,
Thế A tiến lại gần L thì L dùng tay phải cầm chiếc điếu cày tại nhà anh D lời
nói thách thức Thế A nhưng được anh T can ngăn. Thấy L thái độ hung hăng
nên Thế A tiến lại gần, áp sát và dùng tay ôm người Lực, L giơ điếu cày lên cao
Thế A dùng tay túm, giằng điếu cày m rơi xuống nền nhà rồi L ngã
xuống nền sân nhà và dùng hai tay đấm nhiều cái trúng mặt L, mọi người có mặt
đó can ngăn nên Thế A đi về nhà ông Hoàng Văn H3, sinh năm 1971, trú tại:
Xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên (là bố nuôi của Thế A, nhà ở cạnh đường liên
V đi D). Ngay sau đó, L một mình đi đến nhà ông H3 để đuổi theo Thế A.
Khi đến gần nhà ông H3 thì thấy cháu Đỗ Công L1, sinh năm 2012 (là con trai
của L), L bảo cháu L1 đi gọi Đỗ Công Đ1 (là em trai của L) để thông báo cho
Đ1 biết L bị đánh. Lúc này, L đứng trước cổng nhà ông H3 định mở vào nhà
tìm đánh Thế A nhưng thấy cổng đã bị khóa, L dùng tay kéo ống quần bên trái
rồi to tiếng chửi bới vợ chồng ông H3 với những lời lẽ thô tục, L nhặt gạch vỡ,
đá, mảnh xi măng ở rìa đường ném vào cánh cổng nhà ông H3 gây ra tiếng động
lớn. Đồng thời, tiếp tục đi sang đường nhặt gạch vỡ, đá, mảnh xi măng ném vào
nhà ông H3 trúng khu vực các chậu cây cảnh, cánh cổng, hàng rào gây tiếng
động lớn. Cùng lúc, Đỗ Công Đ1 đến cầm theo 01 chiếc thuổng bằng kim
loại đến hỏi L thì biết Thế A người đã đánh L, liền lúc đó Đ1 L tiếp tục
nhặt gạch vỡ, đá, mảnh xi măng ném vào cổng nhà ông H3 đồng thời lời nói
chửi bới gây ồn ào. Trong khi L Đ1 ném gạch đá vào nhà ông H3 thì một số
viên gạch, đá đã trúng vào cả nhà anh Trần Văn N cạnh đó nên anh N nói với
L Đ1 không được tiếp tục ném gạch đá nữa sẽ làm hỏng xe ô tài
sản khác của gia đình anh N, khi nghe anh N nói vậy L đã nói với anh N
“hỏng ttao đền”, rồi L Đ1 tiếp tục ném gạch, đá, mảnh xi măng vào sân,
mái nhà ông H3, Đ1 cầm thuổng đập mạnh vào cánh cổng nhà H3 lấy
3
nhựa, loại sơn cổng nhà ông H3 dùng thuổng đập mạnh làm vỡ, bắn sang
ra giữa đường rồi tiếp tục đập sơn bằng nhựa làm bị vỡ bắn sang rìa
đường. L đứng ngoài đường chửi ông H3, rồi cầm đá ném vào cổng nhà ông H3.
Đ1 vào rung cổng, dùng thuổng đập chậu cây cảnh đập cổng nhà ông H3. L
dùng chân đạp cổng gây ra tiếng kêu to. Tiếp đó L Đ1 tiếp tục dùng đá, gạch
vỡ, mảnh xi măng ném trúng vào nhà và chửi ông H3 cho đến khoảng 22 giờ 30
phút cùng ngày L và Đ1 dừng lại, sau đó Đ1 đưa L đến Trung tâm y tế xã V điều
trị vết thương từ ngày 28/8/2025 đến ngày 03/9/2025.
Hậu quả: Gia đình ông H3 thiệt hại gồm 07 chậu cây, 01 nhựa, 01 cây
sung, 02 bụi cây lưỡi hổ, 01 bụi cây phát lộc, 01 tấm pin năng lượng mặt trời, 01
tấm tôn bị thủng (kích thước 03x04)cm, 01 cổng liền khung kim loại bị làm
xước. Gia đình anh N thiệt hại gồm 01 xe ô tô tải gắn BKS: 20C-26901 bị xước
sơn.
Ngày 29/8/2025, ông Hoàng Văn H3 anh Trần Văn N đơn trình báo
đến Cơ quan Công an xã T, tỉnh Thái Nguyên đề nghị giải quyết theo quy định.
Sau khi sự việc xảy ra, ngày 29/8/2025 Công an T đã tiến hành khám
nghiệm hiện trường, kết quả phát hiện thu giữ: 02 mảnh gạch, 04 cục bê tông, 02
cục đá, 10 mảnh sứ màu trắng, 01 mảnh nhựa màu đỏ, 01 mảnh kim loại,
hình dạng và kích thước khác nhau; 05 mảnh gạch, 02 cục bê tông, 05 cục đá, có
hình dạng kích thước khác nhau. Tạm gi01 mảnh vỡ nhựa. màu trắng;
01 tấm pin năng lượng mặt trời.
Tại bản kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số
671/LKTTCT-TTPY ngày 24/10/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận
đối với Đỗ Công L: Gãy xương cánh mũi. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại
thời điểm giám định 7%. chế hình thành thương tích: Do tác động của vật
tày.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01 ngày 03/12/2025 của Hội đồng
định gtài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thái Nguyên,
kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của nhà ông H3 gồm: 07 chậu cây, 01 xô nhựa có
giá trị thiệt hại là 230.500 đồng; 01 cây sung, 02 bụi cây lưỡi hổ, 01 bụi cây phát
lộc có giá trị thiệt hại là 563.300 đồng; 01 tấm pin năng lượng mặt trời có giá trị
thiệt hại 467.000 đồng; 01 tấm tôn bị thủng (kích thước 03x04)cm, 01 cổng
liền khung kim loại bị làm xước tại 08 vị trí gtrị thiệt hại 623.300 đồng
của gia đình ông Hoàng Văn H3; 01 xe ô tải gắn BKS: 20C-26901 03 vết
xước có giá trị thiệt hại 540.000 đồng của gia đình anh Trần Văn N. Tổng giá trị
thiệt hại 2.424.100 đồng (Hai triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn một trăm
đồng).
quan điều tra thu giữ 02 USB chứa các tệp tin video do ông Hoàng
Văn H3 anh Tùng D cung cấp, tiến hành cho các bị cáo Đỗ Công Đ1
Đỗ Công L xác định, kết quả: Các bị cáo xác định vị trí thực hiện hành vi phạm
4
tội thuộc đường liên xã V đi xã D, khu vực trước cửa nhà ông Hoàng Văn H3 và
anh Trần Văn N thuộc xóm T, T, tỉnh Thái Nguyên, L Đ1 người thực
hiện hành vi dùng gạch, đá ven đường ném vào cổng nhà ông H3 nhà anh N.
Đ1 sử dụng thuổng kim loại đập cổng kim loại, đập phá sơn, chậu cây cảnh
vỡ, bắn sang ra giữa đường trong khoảng thời gian từ 22 giờ 00 phút ngày
28/8/2025 đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày.
Tại bản kết luận số 688 ngày 28/11/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T,
kết luận: Tệp tin video mang tên 6956 153779328.mp4” phát hiện tại thời điểm
video hiển thị thời gian 28-08-2025 21:34:31 có thay đổi đột ngột về khung hình
thời gian tuy nhiên không đủ sở để xác định tệp tin video bị cắt ghép,
chỉnh sửa hay không.
Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các
tệp tin video mang tên “6956153787680.mp4”; “6956153796086.mp4”; “video-
1.mp4”; “video-2.mp4”; video-3.mp4”; “video-4.mp4”; “video-5.mp4” .
Ngày 12/11/2025, Ủy ban nhân dân T công văn số 1182 đề nghị
xem xét, xử lý các đối tượng có hành vi gây mất trật tự công cộng ngày
28/8/2025 nêu trên, do hành vi đó gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây dư
luận bức xúc, bất bình trong nhân dân.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 02 USB chứa 03 đoạn video clip 05 đoạn phim liên quan đến
vụ án được niêm phong kèm hồ sơ vụ án.
- 01 tấm pin năng lượng mặt trời, 07 mảnh gạch, 06 cục tông, 06 cục
đá có hình dạng và kích thước khác nhau; 10 mảnh sứ màu trắng, 01 mảnh nhựa
màu đỏ, 01 mảnh kim loại hình dạng kích thước khác nhau; 01 mảnh vỡ
xô nhựa màu trắng; 01 dụng cụ đào cây cảnh bằng kim loại màu xám.
Với hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự thẩm số: 48/2026/HS-ST,
ngày 27/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên đã tuyên bố các
Bị cáo Đỗ Công L, bị cáo Đỗ Công Đ1 phạm tội "Cố ý làm hỏng tài sản"
“Gây rối trật tự công cộng”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Công L 09
(chín) tháng về tội "Cố ý làm hỏng tài sản". Căn cứ điểm b khoản 2 Điều
318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Đỗ
Công L 36 ( ba mươi sáu) tháng vtội Gây rối trật tự công cộng”. Căn cứ
Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Đỗ Công L phải chịu
hình phạt chung cho cả hai tội 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Căn cứ Điều 56;
khoản 5 Điều 65 BLHS chuyển 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án
số 30/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhai, tỉnh
Thái Nguyên (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5, tỉnh Thái Nguyên) là thành 09
tháng tù. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo L phải chịu hình phạt chung cho cả hai
5
bản án là 54 (năm mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù được trừ đi thời hạn tạm giữ,
tạm giam của bản án số 30/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 tngày 30/5/2024
đến 21/8/2024 và được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/11/2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38
BLHS. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Công Đ1 06 (sáu) tháng tù về tội "Cố ý làm hư hỏng
tài sản”, C cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Công Đ1 24 (hai mươi bốn) tháng về tội “Gây
rối trật tự công cộng”. Căn cứ Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của hai tội
buộc bị cáo Đỗ Công Đ1 phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội 30 (Ba
mươi) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/11/2025.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về xử vật chứng, trách nhiệm dân
sự, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 09/6/2026 bị cáo Đỗ Công L đơn kháng
cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận diễn
biến hành vi phạm tội đúng như Bản án thẩm đã nêu và giữ nguyên nội dung
kháng cáo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Quyết định
hình phạt của cấp sơ thẩm căn cứ, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo không
cung cấp thêm tình tiết gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bị cáo Đỗ Công L, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhhình phạt
đối với bị cáo hình phạt áp dụng đối với bị cáo nghiêm khắc, trong vụ án
thì bị cáo cũng bị Nguyễn Thế A đánh gây thương tích, Nguyễn Thế A cũng
lỗi.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ván đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bị cáo Đỗ Công L làm trong hạn luật định và đúng theo
thủ tục quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc
thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, không tranh luận về tội danh
điều luật áp dụng, chỉ đnghị giảm nhẹ hình phạt. vậy, Hội đồng xét xử chỉ
xem xét nội dung kháng cáo liên quan đến việc bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt
theo quy định của pháp luật.
[2] Căn cứ lời khai của bị cáo các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ
án, đủ sở xác định: Ngày 28/8/2025, Đỗ ng L Đỗ Công Đ1 đã
hành vi dùng gạch, đá ven đường ném vào cổng, chậu cây, mái tôn... của nhà
6
ông Hoàng Văn H3 ném vào cổng, xe ô của nhà anh Trần Văn N, gây n
ào, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại khu vực và gây thiệt hại vtài sản cho
gia đình ông Hoàng Văn H3 và gia đình anh Trần Văn N theo kết luận định giá
tài sản.
Tòa án cấp thẩm kết luận các bị cáo phạm tội “Cố ý làm hỏng tài
sản” theo khoản 1 Điều 178 tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b
khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Công L, Hội
đồng xét xử thấy:
Tòa án cấp thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm nh sự đối với bị cáo, gồm “phạm tội gây thiệt hại không lớn”
“thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự; đồng thời xác định bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này đã được cấp thẩm
xem xét đầy đủ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xgiảm nhhình
phạt nhưng không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ hoặc tình tiết mới lợi để
làm căn cứ xem xét giảm hình phạt.
Hội đồng xét xử thấy rằng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
bị cáo được hưởng đã được cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ. Những nội dung bị cáo
trình bày tại phiên tòa phúc thẩm chỉ các tình tiết, hoàn cảnh đã được cấp
thẩm xem xét thì không phải là tình tiết mới để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt.
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho hội, xâm phạm đến trật
tự, an toàn xã hội và quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Khi quyết định
hình phạt, cấp thẩm đã xem xét toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của bị cáo
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm”,
trong khi các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được cấp thẩm xem
xét, áp dụng đầy đủ. Do đó, mức hình phạt cấp thẩm đã tuyên đối với bị
cáo là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của
bị cáo, bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không tình tiết mới lợi làm n cứ giảm
nhẹ hình phạt. vậy, không căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt của bị cáo Đỗ Công L.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét x phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Công L, giữ nguyên bản án hình sự thẩm về
phần hình phạt đối với bị cáo.
7
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại
phiên tòa phúc thẩm căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét x
nên được chấp nhận.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo không được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nhưng không có đơn miễn án
phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 6 Điều 15 của
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường v Quốc hội ngày
30/12/2016. Do đó, kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[6] Các quyết định khác của Bản án thẩm kng kháng cáo, kháng
nghị, HĐXX không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình
sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Công L, giữ nguyên Bản án hình
sự sơ thẩm số: 48/2026/HS-ST ngày 27/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 -
Thái Nguyên.
1. Vnh phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm h, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ
Công L 09 (chín) tháng tù về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Công L 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội
“Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo
Đỗ Công L phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội 45 (bốn mươi lăm) tháng
tù.
Căn cứ Điều 56 khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình s, tổng hợp với hình
phạt 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo của Bản án hình sự thẩm số
30/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhai,
tỉnh Thái Nguyên (nay Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên), buộc bị
cáo Đỗ Công L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 54 (năm mươi
bốn) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính t ngày 17 tháng 11 năm 2025;
được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30 tháng 5 năm 2024
đến ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Bản án hình sthẩm số 30/2024/HS-ST
ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhai, tỉnh Thái
8
Nguyên.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo Đỗ Công L phải chịu 200.000
đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- - Trại tạm giam số 1 - Thái Nguyên;
- - TAND khu vực 5;
- - VKSND khu vực 5;
- - THADS tỉnh Thái Nguyên;
- - Phòng THAHS khu vực 5 – Thái Nguyên
- - Công an tỉnh Thái Nguyên;
- - Bị cáo;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Anh Tuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 124/2026/HS-PT Bản án số 124/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 124/2026/HS-PT Bản án số 124/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất