Bản án số 1238/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1238/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1238/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1238/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả lại phần đất và mở lối đi chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1238/2026/DS-PT Bản án số 1238/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1238/2026/DS-PT Bản án số 1238/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1238/2026/DS-PT
Ngày 07-9-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất,
yêu cầu công nhận lối đi chung
và ranh giới bất động sản liền kề
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Phước Đại
Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thi – Thư ký viên Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Trương Minh Diền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1377/2026/TLPT-
DS ngày 21 tháng 7 năm 2026 về tranh chấp quyền sử dụng đất, công nhận lối đi
chung và ranh giới bất động sản liền kề.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 252/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1673/2026/QĐ-PT
ngày 30 tháng 7 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số
1427/2026/QĐ-PT ngày 18 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn T, sinh năm 1959. (Có đơn xin xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số B đường A, phường C, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Từ Q, sinh năm 1953. (Có mặt)
Địa chỉ: Số A, Phường K, thành phố Cần Thơ.
3. Bà Nguyễn H, sinh năm 1982. (Có mặt)
Địa chỉ: Số M, Phường K, thành phố Cần Thơ.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn T và bà Nguyễn H: Bà Trần
H, sinh năm 1962 (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 07/5/2026). (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn T, bà Nguyễn H,
ông Từ Q: Bà Nguyễn KD, sinh năm 1963 – Luật sư của Văn phòng Luật sư
Nguyễn KD thuộc Đoàn luật sư thành phố Đồng Nai. (Có mặt)
- Bị đơn:
1. Bà Lê HT, sinh năm 1957. (Có mặt)
2. Bà Lê TT, sinh năm 1995. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số 2/47/19 Mậu Thân, Phường K, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê HT và bà Lê TT: Ông Lê N, sinh
năm 1998. (Có mặt)
Địa chỉ: đường P, khu vực H, phường Thới An Đông, thành phố Cần Thơ.
3. Ông Lê T, sinh năm: 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 2/47/19 Mậu Thân, Phường K, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê HT, bà Lê TT và ông
Lê T: Luật sư Nguyễn AT(Vắng mặt) và Luật sư Phạm P(Có mặt) – Thuộc Đoàn
Luật sư thành phố Cần Thơ.
Cùng địa chỉ: số 15/7 Lê Hồng Phong, phường Thới An Đông, thành phố
Cần Thơ.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Tấn Thời, sinh năm 1957. (Có mặt)
Địa chỉ: Số 2/47/19, Mậu Thân, Phường K, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Nguyễn VP, sinh năm 1965. (Có mặt)
Địa chỉ: 159K/13, khu vực 1, phường T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phúc: Bà Trần H (Theo Văn bản
uỷ quyền ngày 07/5/2026). (Có mặt)
3. Ông Lâm H, sinh năm 1969. (Vắng mặt)
Địa chỉ: đường T, Phường K, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hùng: Ông Lâm Thanh Giàu, sinh
năm 1993 (Theo Giấy uỷ quyền ngày 26/10/2023). (Vắng mặt)
Địa chỉ: 2/47/10B Lê Anh Xuân, Phường K, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Giàu: Bà Trần H, sinh năm 1962
(Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 07/5/2026). (Có mặt)
4. Ông Dương PC, sinh năm 1974. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Dương PC: Ông Dương D, sinh
năm 1962. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: 112/136A đường N, Phường K, thành phố Cần Thơ.
3
Người đại diện theo ủy quyền của ông Dương D: Bà Trần H, sinh năm
1962. (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 07/5/2026). (Có mặt)
5. Bà Lê Thị Ân, sinh năm 1956. (Có mặt).
6. Bà Nguyễn Thị Hồng Tâm, sinh năm 1995. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: 2/47/10B Mậu Thân, Phường K, thành phố Cần Thơ.
7. Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Địa chỉ: 156C Mậu Thân, Phường K, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Ân, bà Nguyễn Thị Hồng
Diễm và bà Nguyễn Thị Hồng Tâm: Bà Nguyễn H, sinh năm 1982 (Theo Văn
bản uỷ quyền ngày 28/10/2023). (Có mặt)
Địa chỉ: Số B, Phường K, thành phố Cần Thơ.
8. Bà Nguyễn Thị Kim Châu, sinh năm 1977. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 378/10 Nguyễn Văn Cừ, khu vực 8, phường T, thành phố Cần
Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Châu: Ông Phan Văn Chanh Ly
(Theo Văn bản uỷ quyền ngày 11/01/2025). (Vắng mặt)
Địa chỉ: P232 Chung cư 5, Tầng lô A, Khu vực 9, phường Hưng Phú,
thành phố Cần Thơ.
9. Bà Trần H, sinh năm 1962. (Có mặt)
Địa chỉ: Số 82 Lê Lợi, phường C, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo:
+ Nguyên đơn ông Nguyễn T, bà Nguyễn H, ông Từ Q.
+ Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần H, ông Dương
PC, ông Lâm H và ông Nguyễn VP.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung
như sau:
- Nguyên đơn ông Nguyễn T trình bày: Năm 2000, ông Nguyễn T có nhận
chuyển nhượng của ông Nguyễn V ở đường Mậu Thân, phường A, quận Ninh
Kiều, thành phố Cần Thơ hai phần đất có diện tích như sau: một phần đất có
diện tích 97,80m
2
và một phần đất có diện tích 32m
2
, ông Tđã đăng ký quyền sử
dụng đất phần đất 32m
2
vào năm 2003 thuộc thửa đất số 153, tờ bản đồ số 38,
loại đất vườn, phần đất này ông Tlàm lối đi chung cho phần đất 97,80m
2
và các
hộ trong hẻm 2 Mậu Thân. Nhưng thời gian qua ông Lê T đã bao chiếm phần đất
32m
2
của ông trong hàng rào phần đất của ông Thiện và kể cả đường đi chung
thông qua hẻm 2 đường Mậu Thân. Ông T có làm đơn yêu cầu hòa giải tại
4
phường A và vào ngày 22/9/2022 tại cuộc hòa giải gia đình ông Thiện đồng ý trả
lại ông Tphần đất 32m
2
và ông Txây rào lại cho rõ ràng ranh đất, tại cuộc họp
ông Thiện thống nhất vào ngày 30/9/2022 sẽ cùng các cơ quan chức năng đo đạc
và giao trả phần đất 32m
2
cho ông Tnhư biên bản hòa giải thành ngày 22/9/2022.
Đến ngày 30/9/2022, để thực hiện việc giao trả đất cho ông Tthì gia đình ông
Thiện lại không đồng ý giao trả. Do đó, ông Tkhởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc ông Lê T, bà Lê HT và bà Lê TT trả lại phần đất có diện tích 32m
2
,
thuộc thửa đất số 153, tờ bản đồ số 38, loại đất vườn, tọa lạc tại đường Mậu
Thân, phường A, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ cho nguyên đơn Nguyễn
T và kể cả đường đi chung thông qua hẻm 2 đường Mậu Thân.
- Nguyên đơn ông Từ Q trình bày: Ngày 08/02/2001, ông Từ Q với ông
Nguyễn Vcó làm Tờ Hợp đồng về việc mở lối đi công cộng. Giữa các bên cùng
nhau thoả thuận gia đình ông V thống nhất mở lối đi chung 03m từ hẻm 359 đi
thẳng vào cuối đất của ông V, đến phần đất của ông M làm lối đi công cộng
chung. Ông M đồng ý trả tiền thêm cho gia đình ông Nguyễn V01 lượng 05 chỉ
vàng 24K để đóng góp vào thêm bề ngang 1,50m và chiều dài 52m để làm lối đi
công cộng. Quá trình sử dụng lối đi công cộng này bị bà HT, bà Thảo lấn chiếm
không còn lối đi vào phần đất của ông M. Ông M đã làm đơn yêu cầu hòa giải
tại phường A và vào ngày 16/02/2023 tại cuộc hòa giải, gia đình bà HT, bà Thảo
không đồng ý trả lại ông M phần đất làm lối đi công cộng có diện tích ngang
1,5m và dài 52m, diện tích 78m
2
. Do đó, ông M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc bà HT và bà Thảo trả lại phần đất có diện tích 78m
2
chiều ngang
1,5m và chiều dài 52m, dùng làm lối đi công cộng, thuộc thửa đất số 102-96A,
tờ bản đồ số 38 và thửa đất số 63-6B, tờ bản đồ số 44 có tổng diện tích 849m
2
loại đất ở và đất vườn, cho ông M.
- Nguyên đơn bà Nguyễn H trình bày: Ngày 19/02/2008, ông Nguyễn Vvà
bà Lê Thị Ân (Cha và mẹ của nguyên đơn Nguyễn H) làm di chúc sau khi qua
đời, ông bà để lại tài sản nhà và đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00663 do UBND tỉnh Cần Thơ cấp ngày 13/9/1999 và được Ủy ban nhân dân
phường A chứng thực cùng ngày. Ngày 11/4/2008 ông V chết nên bà H yêu cầu
Ủy ban nhân dân phường A mở di chúc vào ngày 09/8/2008 và bà H được
hưởng phần tài sản nhà và đất do ông để lại. Trong quá trình quản lý và sử dụng
nhà, đất do ông V giao lại thì phần đất dành làm lối đi chung có chiều dài 52,9m
và chiều ngang khoảng 4m, đã bị hộ bà HT, bà Thảo chiếm dụng, trong đó phần
đất bị chiếm dụng khoảng 80m
2
. Suốt thời gian qua bà HT, bà Thảo đã lấn chiếm
phần đất 80m
2
của nguyên đơn trong hàng rào phần đất của bị đơn và kể cả đường
đi chung thông qua hẻm 2 đường Mậu Thân. Bà H có làm đơn yêu cầu hòa giải
5
tại phường A vào ngày 02/02/2023 tại cuộc hòa giải, gia đình bà HT, bà Thảo
không đồng ý trả lại bà H phần đất lối đi khoảng 80m
2
;
Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà HT, bà Thảo trả lại phần đất có
diện tích khoảng 80m
2
, thuộc thửa đất số 102-96A, tờ bản đồ số 38 và thửa đất số
63-6B tờ bản đồ số 44 có tổng diện tích 849m
2
, loại đất ở và đất vườn cho bà H và
đường đi chung thông qua hẻm 2 đường Mậu Thân.
Bị đơn bà Lê HT, bà Lê TT trình bày: Về nguồn gốc đất, nguyên trước
đây năm 1999 mẹ của bà Lê HT là bà Huỳnh Q được thừa kế quyền sử dụng đất
và được Ủy ban nhân dân tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 00581, tổng diện tích 6110,25m
2
và tiến hành dựng cọc ranh và hàng rào
ổn định. Đến năm 2002, trong quá trình sử dụng thì gia đình bà HT phát hiện
ông Nguyễn V(đứng tên giấy đất tại thời điểm đó và là Cha ruột của bà H) trong
quá trình cấp giấy đã cấp chồng lấn lên phần đất của gia đình bà HT, ngay sau
đó bà Huỳnh Q có làm đơn yêu cầu UBND phường A tiến hành giải quyết. Đến
ngày 04/7/2002, tổ hòa giải tranh chấp đất đai tại khu vực 5 có mời bà Q (Bà Lê
HT đại diện) và ông Nguyễn Vđến để hòa giải, tại đây ông V thống nhất tiến
hành đo đạc để xác nhận lại ranh đất của 02 bên. Đến ngày 24/7/2002, Cơ quan
đo đạc tiến hành đo đạc cấm ranh lại phần đất của gia đình bà HT và ông V.
Trên cơ sở Biên bản đo đạc ngày 24/7/2002, thì diện tích phần đất của ông V
(đứng tên giấy đất tại thời điểm đó và là Cha ruột của bà H) giảm so với giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nên đại diện của Khu vực N cùng với cán bộ địa
chính phường A tiến hành họp thông báo về việc diện tích đất của ông V giảm do
cấp chồng lấn và các hộ dân đều đồng ý trả lại phần đất lấn chiếm cụ thể tại Biên
bản việc thỏa thuận phần đất ngày 20/2/2003, riêng ông Tmời nhiều lần nhưng
không đến. Đến năm 2002, có quyết định quy hoạch và thu hồi đất làm khu đô thị
phường A nên tạm đình chỉ việc giải quyết khiếu nại, đến năm 2008 thì ông
Nguyễn Vmất vụ việc chưa được giải quyết xong. Từ đó tổng thể thửa đất của
ông V giảm diện tích do cấp chồng lấn lên gia đình bà HT và đã đồng ý giao trả
lại phần đất đó cho phía gia đình bà HT. Tuy nhiên, ông V đã tách ra nhiều lô đất
và cho các hộ dân khác (trong đó có bà H) dẫn đến việc diện tích của từng lô đất
mà các hộ dân khác bị thiếu hoàn toàn là trách nhiệm của ông V, phía bị đơn
không lấn chiếm bất kỳ phần đất nào của các hộ giáp ranh. Đối với yêu cầu khởi
kiện của ông M thì bị đơn không đồng ý vì phần đất của ông M không nằm giáp
ranh với phần đất của bị đơn mà ông M yêu cầu phải giao trả lại còn việc ông M
mua bán với ông V phần đường đi thì ông M yêu cầu người thừa kế của ông V
tiến hành giao lại cho ông còn bị đơn hoàn toàn không liên quan.
6
Bà HT có yêu cầu phản tố, buộc phía ông T giao trả lại cho bà HT phần
đất có diện tích khoảng 24m
2
. Buộc bà H giao trả lại cho bà HT phần đất có diện
tích khoảng 20m
2
.
Bị đơn ông Lê T trình bày: Không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của phía nguyên đơn, ông không đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của thửa đất nào giáp ranh với thửa 153, tờ bản đồ số 38 được cơ quan Nhà nước
cấp cho ông Nguyễn T nên ông không đồng ý có phát sinh tranh chấp với
nguyên đơn ông Thơ.
Ông Lê T2 trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của bị đơn bà Lê
HT.
Ông Nguyễn P trình bày: Ngày 06/7/2001, ông được UBND tỉnh Cần Thơ
(cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý sử dụng ổn định từ
nhiều năm nay. Hiện nay, phía bị đơn đã lấn chiếm đất của các hộ dân làm mất
đường đi nội bộ. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Ông Lâm H trình bày: Năm 2001, ông Hùng có mua phần đất từ ông
Nguyễn Hồng Việt. Khi mua lại phần đất thì ông chỉ biết vị trí, chưa cấm ranh
đất rõ ràng. Ông thống nhất với lời trình bày của phía nguyên đơn, ông Thơ, bà
H đề nghị tháo dỡ bức tường xây dựng trên phần đất lối đi, ông không có yêu
cầu độc lập trong vụ án.
Ông Dương PCtrình bày: Năm 2010, ông Dương PC nhận chuyển
nhượng phần đất và được cấp giấy đất, phần đất thuộc thửa số 109, tờ bản đồ số
38, diện tích 64,5m
2
. Hiện nay, phần đất ông bị phía bà Lê HT, ông Lê T và bà
Lê TT lấn chiếm, yêu cầu trả lại lối đi và dỡ hàng rào. Ông không có yêu cầu
độc lập trong vụ án và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt ông.
Bà Lê Thị Ân, bà Nguyễn Thị Hồng Diễm và bà Nguyễn Thị Hồng Tâm
trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn H.
Bà Nguyễn KC trình bày: Tháng 02 năm 2022, bà có mua lại phần đất của
ông Nguyễn Tấn Liệt. Ông Liệt mua lại phần đất này từ bà Trần Thị Ba Nhỏ. Bà
Nhỏ nhận chuyển nhượng từ ông V là người bị lấn chiếm ranh đất do bà H đang
quản lý. Ngày 23/5/2023, bà Nguyễn KC có mua lại một phần đất của bà Bùi
Thị Bé Năm, bà Năm cũng nhận chuyển nhượng từ ông V là người bị lấn chiếm
ranh đất do bà H đang quản lý. Bà Châu cho rằng bà là người bị ảnh hưởng
trong vụ việc tranh chấp giữa các bên, do hiện nay bà chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Bà Trần H trình bày: Thống nhất với ý kiến quan điểm của nguyên đơn
ông Nguyễn T và phía luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà.
7
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 252/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ đã tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
T, ông Từ Q và bà Nguyễn H yêu cầu bị đơn bà Lê HT, bà Lê TT và ông Lê T về
việc tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới bất động sản liền kề và công nhận lối
đi chung.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê HT ổn định diện tích đất
theo hiện trạng thực tế theo Bản trích đo địa chính số 194/TTKTTNMT ngày
05/3/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần
Thơ (Hiện nay thuộc Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố Cần Thơ) (kể cả các
vị trí tranh chấp theo bản trích đo). Bà HT được liên hệ cơ quan có thẩm quyền
chỉnh lý biến động diện tích đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền
kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm và trong hạn luật định, đương sự có kháng cáo:
Nguyên đơn ông Nguyễn T, bà Nguyễn H, ông Từ Q và những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần H, ông Dương PC, ông Lâm H và ông
Nguyễn Pcó đơn kháng cáo với cùng nội dung như sau:
- Sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn;
- Buộc các bị đơn trả lại toàn bộ diện tích 137,3m
2
là lối đi nội bộ theo
Bản trích đo địa chính số 194/TTKTTNMT ngày 24/01/2024;
- Buộc các bị đơn phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất;
- Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét áp dụng quy định pháp luật về hiệu lực
thi hành ngay đối với phần nghĩa vụ trả lại lối đi nhằm bảo đảm quyền sử dụng
đất của nguyên đơn;
- Buộc các bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất;
- Buộc các bị đơn phải hoàn trả chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo.
- Bà Trần H, ông Dương PC, ông Lâm H và ông Nguyễn Pgiữ nguyên
kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa
nhận định:
+ Hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng là đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự.
8
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là đúng
theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung tranh chấp giữa các đương sự thấy rằng:
[2.1] Theo Giấy chứng nhận QSDĐ số 00663 cấp ngày 13/9/1999 thể hiện
ông Nguyễn Vchủ quyền sử dụng đất (Chết) sau đó bà Nguyễn H thừa kế, khi ông
V còn sống có chuyển nhượng 05 phần đất theo các ký hiệu:
+ Phần A: Chuyển nhượng sang ông Nguyễn T, diện tích 97,8m
2
; loại đất
vườn;
+ Phần B: Chuyển nhượng sang ông Nguyễn MT, diện tích 64,5m
2
, loại đất
vườn;
+ Phần C: Chuyển nhượng sang ông Nguyễn VP, diện tích 71,5m
2
, loại đất
vườn;
+ Phần D: Chuyển nhượng sang ông Lâm H, diện tích 132,90m
2
, loại đất
vườn;
+ Phần Đ: Chuyển nhượng sang ông Nguyễn T diện tích 32m
2
;
Phần còn lại của thửa đất bà H thừa kế có diện tích 402,3m
2
. Tổng diện
tích đất ông Tlà 97,8m
2
(ODT) + 32m
2
(CLN)
= 129,8m
2
. Theo Bản trích đo địa
chính số 194/TTKTTNMT ngày 05/3/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên
và Môi trường thành phố Cần Thơ (Hiện nay thuộc Văn phòng Đăng ký Đất đai
thành phố Cần Thơ) thể hiện ông T có diện tích 120m
2
, so với diện tích chuyển
nhượng và được cấp giấy thì ông T còn thiếu 9,8m
2
(chưa kể phần đất tranh
chấp có ký hiệu M trên lược đồ).
[2.2] Tại thửa đất số 96A, diện tích 52,5m
2
; Thửa 6B
1
+63+96A
1
+102=
131,4m
2
(48m
2
đất ODT); Thửa 6B diện tích 162,2m
2
(CLN); Tổng diện tích của
bà H được thừa kế từ ông Nguyễn Vlà 346,1m
2
, so với giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất được cấp thì sẽ thiếu 56,2m
2
.
[2.3] Tại thửa đất của bị đơn Lê HT theo Bản trích đo địa chính số
194/TTKTTNMT ngày 05/3/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi
trường thành phố Cần Thơ thì tại thửa 11A diện tích 536,8m
2
, thửa 101B diện
tích 77,4 m
2
và thửa 120 diện tích 1087m
2
, tổng diện tích là 1.701,2m
2
giấy được
cấp tại thửa 11A diện tích là 837,1m
2
và thửa 120 diện tích 1090,9m
2
(Theo giấy
9
chứng nhận QSD Đất số vào sổ cấp H01472.QSDĐ, cấp ngày 13/3/2007) thì diện
tích là 1.090,9m
2
và thửa 101B diện tích là 138m
2
tổng diện tích theo giấy được
cấp số H01472.QSDĐ ngày 13/3/2007là 2.066m
2
. Diện tích bản trích đo thể hiện
là 1701,2m
2
chưa cộng vào phần vị trí tranh chấp tại E= 11,9m
2
; F= 30,3m
2
; G=
17,7m
2
; H= 0,5m
2
; I= 1,2m
2
; J= 14,9m
2
; K= 17,4m
2
; M= 15,7m
2
, so với diện tích
được cấp thì còn thiếu 364,8 m
2
.
[2.4] Bà Thảo được cấp giấy số CH07604 ngày 16/9/2019 diện tích
165,8m
2
(ODT) đo đạc thực tế 144,8m
2
, so với giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất được cấp thì thiếu 21m
2
. Nếu cộng vị trí tranh chấp (A= 4,9m
2
; B= 12,7m
2
;
C= 0,4m
2
; D= 9,7m
2
, tổng cộng diện tích là 27,7m
2
). Tổng diện tích thực tế và
vị trí tranh chấp là 172,5m
2
so với Giấy chứng nhận được cấp cho bà Thảo dư
6,7m
2
.
[3] Qua xem xét tổng diện tích của các bên cho thấy diện tích thực tế của
các bên đều thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Do đó
cần phải xem xét đến các yếu tố khác như số đo các cạnh tiếp giáp với nhau, hồ
sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mục đích sử dụng đất…
[4] Căn cứ Biên bản xác minh hiện trạng nhà ở - đất ở ngày 12/3/1999
(Bl: 1009) của cơ quan quản lý đất đai để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Nguyễn V thể hiện chiều ngang phần đất của ông Nguyễn
Vlần lượt một cạnh là 16,3m và cạnh còn lại là 15,8m. Theo đo đạc thực tế thì
chiều ngang có số đo là 16,23m (11,05+5,18) so với hình thể vẽ trong biên bản
xác minh hiện trạng ngày 12/3/1999 thì cạnh này vẫn còn thiếu 0,07m. Còn cạnh
còn lại theo đo đạc thực tế là 15,29m (7,17 + 8,12), so với hình thể vẽ trong biên
bản xác minh hiện trạng ngày 12/3/1999 thì cạnh này còn thiếu 0,51m. Nếu cộng
cạnh của phần đất tranh chấp 0,57m vào thì cũng chỉ dư 0,06m chiều ngang.
Xét Biên bản xác minh hiện trạng nhà ở - đất ở ngày 12/3/1999 của cơ
quan quản lý đất đai được tiến hành công khai, có chữ ký giáp ranh của bà
Huỳnh Q là người để lại quyền sử dụng đất cho các bị đơn và là mẹ của bà HT.
Trong biên bản xác minh này có chữ ký của bà HT ký và ghi “Con Thắm”. Điều
này thể hiện rằng bà Q bà HT đã thống nhất ranh và số liệu đó và có giá trị pháp
lý. Hình thể và số liệu các cạnh của Biên bản xác minh này phù hợp với thực tế
khi đo đạc lại.
Căn cứ vào Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng đất ngày 20/6/2019
(BL: 231) thể hiện phần đất thửa 207 của bà HT là 165,8m
2
, có chỉ số cạnh
chiều ngang 4m tiếp giáp với hẻm và khi đo đạt thực tế cạnh này cũng 4m là
đúng với số đo vào năm 1999. Do vậy nếu cộng cạnh tranh chấp là 0,57m vào
thì cạnh sẽ dư 0,57m.
10
[4] Tại biên bản hòa giải ngày 19/8/2024 (BL:150) ông Phúc trình bày “Bà
HT đã ký giáp ranh cho ông V khi ông V làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau đó ông V bán đất cho từng hộ trong phạm vi đất của ông V được cấp, khi các
hộ dân mua đã tự chừa ra 2m để làm đường đi nội bộ, 2m đất đường đi nội bộ
nằm trong phần đất bà HT đang sử dụng”. Tại biên bản này ông Đức cũng thống
nhất lời trình bày của ông Phúc. Mặt khác, tại biên bản hòa giải thành ngày
22/9/2022 ông Thiện thống nhất vào ngày 30/9/2022 sẽ cùng các cơ quan chức
năng đo đạc và giao trả phần đất 32m
2
cho ông Thơ. Đến ngày 30/9/2022, đông
đủ các thành phần để thực hiện việc giao trả đất cho ông Tthì gia đình ông Thiện
lại không đồng ý giao trả.
[5] Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận các phần đất tranh chấp là
lối đi chung có yêu cầu đó phù hợp với ý chí của ông V khi còn sống đã thỏa
thuận với các hộ dân và như đã phân tích tại các phần trên cho thấy phần diện tích
mà các nguyên đơn yêu cầu là có căn cứ và phù hợp với thực tế. Do vậy cần chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Công nhận các phần đất tranh chấp
là lối đi nội bộ chung của các hộ dân. Các bị đơn có trách nhiệm tháo dỡ các vật
dụng, công trình đã xây dựng trên phần đất tranh chấp và không được cản trở việc
sử dụng phần đất tranh chấp để làm lối đi nội bộ chung.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn cho bà Thảo do đã trên 60 tuổi. Ông
Thiện và bà HT mỗi
người phải nộp 300.000 đồng.
[7] Chi phí tố tụng: Nguyên đơn thống nhất chịu nên được ghi nhận.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên không ai
phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: các điều 158, 169, 175, 254 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều
100; Điều 101; Điều 202; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 137; Điều 138
Luật Đất đai năm 2024;
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn T, bà Nguyễn H, ông
Từ Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần H, ông Dương
PC, ông Lâm H và ông Nguyễn VP.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 252/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ.
11
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn T, bà
Nguyễn H, ông Từ Q.
[2] Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê HT về việc ổn định
diện tích đất theo hiện trạng thực tế.
[3] Công nhận các phần đất tranh chấp có tổng diện tích 137,3m
2
theo ký
hiệu A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, M trên Bản trích đo địa chính số
194/TTKTTNMT ngày 05/3/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi
trường thành phố Cần Thơ (Hiện nay thuộc Văn phòng Đăng ký Đất đai thành
phố Cần Thơ) là lối đi nội bộ chung của các hộ dân (Kèm theo lược đồ)
[4] Buộc bà Lê HT, bà Lê TT và ông Lê T tháo dỡ, di dời các vật dụng,
công trình, tài sản trên phần đất được công nhận làm lối đi nội bộ chung và
không được ngăn cản, cản trở việc sử dụng lối đi nội bộ chung.
[5] Kiến nghị cơ quan quản lý đất đai khi cấp hoặc chỉnh lý quyền sử
dụng đất hay chuyển giao quyền sử dụng đất theo quy định (nếu có) cần xác lập
việc hạn chế quyền của chủ thể sử dụng đất theo thực trạng giải quyết tranh chấp
tại Tòa án (như đã nêu trên).
[6] Án phí dân sự sơ thẩm:
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê HT. Bà Lê TT và ông Lê T mỗi
người phải nộp 300.000 đồng.
- Trả lại cho bà Nguyễn H 500.000 đồng theo Biên lai số 0000785 ngày
16/3/2023 của bà H tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận K, thành phố Cần Thơ
(nay là Phòng Thi hành án khu vực 1 – Cần Thơ).
[7] Chi phí tố tụng: Nguyên đơn thống nhất chịu 9.727.000 đồng và chi
xong.
[8] Án phí phúc thẩm: không ai phải chịu.
[9] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Cần Thơ;
- TAND KV1 - Cần Thơ;
- Phòng THADS KV1 - Cần Thơ;
- Đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lƣơng Phƣớc Đại
12
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1238/2026/DS-PT Bản án số 1238/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1238/2026/DS-PT Bản án số 1238/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất