Bản án số 277/2026/DS-PT ngày 21/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 277/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 277/2026/DS-PT ngày 21/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 277/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 277/2026/DS-PTNgày 21/9/2026V/v Yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng thuê khoán
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 277/2026/DS-PT Bản án số 277/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 277/2026/DS-PT Bản án số 277/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số 277/2026/DS-PT
Ngày 21/9/2026
V/v Yêu cầu bồi thường thiệt hại
phát sinh từ hợp đồng thuê
khoán
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Duy và bà Võ Thị Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Nguyễn Thị Kim
Cúc – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 21 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2026/TLPT-DS ngày 19 tháng 8 năm 2026
về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng thuê khoán”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 25/2026/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 11 – Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 354/2026/QĐ-PT ngày
20 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1979, CCCD số ************, địa
chỉ: Thôn D, xã C, tỉnh Gia Lai.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Mạnh Đ, sinh
năm 1962, CCCD số ************, địa chỉ: Số A đường H, thôn A, xã C, tỉnh
Gia Lai (theo giấy ủy quyền ngày 06/3/2025). Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi
tuyên án.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1966, CCCD số ************
và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1973, CCCD số ************, cùng địa chỉ:
Thôn D, xã C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Thế Đ1, sinh năm 1994,
địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Lệ .
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn bà Lê Thị L trình bày
Ngày 28/01/2022, ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 cho bà Lê
Thị Lệ N thuê khoán diện tích đất 4797,4 m2, trên đất có 500 cây cà phê đang
trong giai đoạn kinh doanh với thời hạn 05 năm, giá thuê là 15.000.000 đồng/vụ.
Theo thỏa thuận, trong trường hợp ông L1 và bà L2 chuyển nhượng diện tích đất
trên cho người khác thì phải bồi thường chi phí đầu tư cho bà Lê Thị Lệ . Khi
nhận rẫy, vườn cây có chất lượng kém, bà L đã đầu tư chăm sóc trong 03 năm
(Từ 2022 đến 2024) giúp vườn cây phục hồi và đạt sản lượng cao. Giữa hai bên
không lập biên bản xác định tình trạng vườn cây khi giao nhận rẫy với nhau.
Đến ngày 25/12/2024, sau khi thu hoạch xong vụ mùa năm 2024, ông L1 bà L2
có thông báo chấm dứt hợp đồng thuê rẫy với bà L. Đối với niên vụ năm 2025,
bà L chưa thực hiện các công đoạn chăm sóc.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà L đã thanh toán cho ông L1 bà L2
số tiền thuê khoán mùa vụ năm 2022 và năm 2023. Đối với năm 2024, vợ chồng
ông L1 bà L2 không nhận tiền thuê và xem như là tiền bồi thường do họ lấy rẫy
lại trước thời hạn, bà L không đồng ý.
Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông L1 bà L2 bồi thường thiệt hại
cho bà L tổng số tiền đầu tư năm 2024 là 79.350.000 đồng. Bao gồm các khoản
như sau:
1. C cắt cành: 03 đợt x 50 công x 250.000 đồng/công = 12.500.000 đồng;
2.Làm chồi: 03 công/tháng x 9 tháng x 250.000 đông/công = 6.750.000
đồng;
3.Tiền thuốc sâu, rầy, rệp: Số lượng 05 x 45.000 đồng/chai = 2.250.000
đồng;
4. Tiền công phun thuốc: 04 công x 300.000 đồng/công = 1.200.000 đồng;
5. Công tưới: 05 lần x 03 công x 500.000đồng/công = 7.500.000 đồng;
6. Tiền điện tưới nước = 3.000.000 đồng;
7. Phân bón hữu cơ (phân bò): 01 lần x 10 m3 x 800.000 đồng/ khối =
8.000.000 đồng;
8. C bón phân bò: 03 công x 250.000đồng/công = 750.000đồng;
9. Phân bón mùa khô: 01 đợt x 05 bao x 840.000đồng/bao = 4.200.000
đồng;
10. C bỏ phân: 03 công x 250.000đồng/công = 750.000 đồng;
11.Bỏ phân mùa mưa:
- Lân Văn Đ2: 10 bao x 260.000đồng/bao = 2.600.000 đồng;
3
- N1: 05 bao x 570.000đồng/bao = 2.850.000 đồng;
- Phân MTU 16/15/8: 05 bao x 750.000 đồng/bao = 3.750.000 đồng;
- Phân NPK 17/7/17: 05 bao x 760.000 đồng/bao = 3.850.000 đồng;
- Phân NPK 18/6/18: 05 bao x 780.000 đồng/bao = 3.900.000 đồng;
- Phân Kali can xi bo: 05 bao x 90.000 đồng/bao = 450.000 đồng;
- TVG 20 (450ml) 05 bao x 110.000 đồng/bao = 550.000 đồng;
12. C bón phân: 04 đợt x 03 công/đợt x 250.000 đồng/công = 3.000.000
đồng;
13.C làm cỏ: 04 đợt x 04 công/đợt x 250.000 đồng/công = 4.000.000 đồng;
14. C mở bồn cà phê (đào bồn): 25 công x 300.000 đồng/công = 7.500.000
đồng.
Tuy nhiên, tại phần tranh luận tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Do năm 2024, bà L chưa thanh toán
tiền hợp đồng thuê khoán cho bị đơn số tiền 15.000.000 đồng và bị đơn có ý kiến
không yêu cầu bà L thanh toán số tiền này nên sau khi đối trừ số tiền 15.000.000
đồng tiền thuê khoán năm 2024 mà bà L chưa trả cho vợ chồng ông L1 bà L2, bà
L yêu cầu vợ chồng ông L1 bà L2 phải thanh toán số tiền còn lại là 64.350.000
đồng.
1.2. Bị đơn ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 trình bày
Ông L1 và bà L2 thừa nhận vào năm 2022, khi vợ chồng ông cho bà L
thuê rẫy cà phê vẫn đang tươi tốt đến khi ông bà nhận lại rẫy vườn cà phê vẫn
nguyên như khi bàn giao cho bà L. Bà Lê Thị L đã thu hoạch được 03 vụ và trả
sản lượng cho vợ chồng ông như thỏa thuận là 15.000.000 đồng/vụ vào các năm
2022 và 2023 (Năm 2024, vợ chồng ông chưa nhận 15.000.000 đồng tiền sản
như thỏa thuận với mục đích hỗ trợ bà L do vợ chồng ông đã chuyển nhượng đất
cho người thứ ba).
Theo ông L1, bà L2 hai bên thỏa thuận với nhau về việc bồi thường khi
lấy lại rẫy trước thời hạn trong trường hợp ông, bà lấy lại vườn khi bà L chưa thu
hoạch chứ không phải như nội dung khởi kiện của bà L trong vụ án này. Trước
khi lấy lại vườn vợ chồng ông đã thông báo trước cho bà L sẽ lấy lại vườn sau
vụ thu hoạch. Vì vậy, sau khi bà L thu hoạch xong vụ cà phê năm 2024 bà L
chưa đầu tư vào diện tích vườn mà hai bên thỏa thuận cho thuê khoán một khoản
đầu tư nào.
Tuy nhiên, do vợ chồng ông đã lấy lại rẫy trước thời hạn nên ông, bà đồng
ý không nhận số tiền 15.000.000 đồng tiền sản lượng của năm 2024 với mục đích
hỗ trợ bà Lê Thị L (Bản tự khai và biên bản lấy lời khai cùng ngày 04/12/2025,
ông L1 đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật). Ngoài ra, vợ chồng
ông không đồng ý hỗ trợ hay thanh toán thêm cho bà L bất cứ một khoản tiền
nào khác.
4
1.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Thế Đ1 trình bày
Ông là con rễ của ông L1 và bà L2. Ngày 10/01/2025, ông Đ1 đã nhận
chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích đất rẫy cà phê của ông L1 bà L2. Ông không
biết gì về việc thỏa thuận thuê khoán rẫy trước đây giữa bố mẹ vợ ông là ông L1
bà L2 với bà L. Ông không liên quan gì tới việc khởi kiện giữa ông L1 bà L2 với
bà L. Đồng thời ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt ông.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 25/2026/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 11 – Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 91, 92, 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266 Bộ luật Tố tụng
dân sự; và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố
tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật
phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án năm 2025.
Căn cứ các Điều 3, 385, 404, 483, 484, 485, 486, 487, 489. 490, 491, 492
và 493 của BLDS;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L
về việc buộc ông L1 bà L2 bồi thường chi phí đầu tư, chăm sóc rẫy cà phê trong
năm 2024 với tổng số tiền 79.350.000 đồng.
Về án phí: Buộc nguyên đơn bà Lê Thị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ
thẩm tương ứng với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận là 3.967.500 đồng,
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.985.000 đồng theo biên lai
thu tạm ứng án phí số 0005496 ngày 21/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia
Lai. Bà L còn phải tiếp tục nộp số tiền 1.982.500 đồng (Một triệu chín trăm tám
mươi hai ngàn năm trăm đồng) để sung Công quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo
quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo
Ngày 14/7/2026, nguyên đơn bà Lê Thị L kháng cáo bản án 25/2026/DS-
ST ngày 01 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Gia Lai, yêu cầu
hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm
giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa
5
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, căn cứ hợp đồng thuê khoản, ông
L1 và bà L2 cam kết trong trường hợp chuyển nhượng cho người khác sẽ phải bồi
thường thiệt hại; thừa nhận sau khi nguyên đơn thu hoạch xong vụ mùa cà phê
năm 2024, nguyên đơn chưa đầu tư vào vụ mùa cà phê năm 2025, tuy nhiên vườn
cây tươi tốt như hiện tại là công sức đóng góp lâu dài.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Đảm bảo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy
định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội
đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án
thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn bà Lê Thị L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị L đảm bảo thời hạn kháng cáo,
đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại các điều 273 và 276 của
Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị L, thấy rằng:
[2.1] Đối với “Bản hợp đồng cà phê” ghi ngày 28/01/2022 giữa bà Nguyễn
Thị L3 và ông Nguyễn Văn L1, thấy:
Bà Nguyễn Thị L3 và ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị L2 đều thừa
nhận giữa hai bên có ký kết “Bản hợp đồng cà phê” ghi ngày 28/01/2022 với nội
dung ông L1, bà L2 giao rẫy cà phê, trên đất có trồng 500 cây cà phê cho bà L3
để hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ cây cà phê và bà L3 có nghĩa vụ trả tiền thuê
15.000.000 đồng/năm, thời hạn thuê là 05 năm kể từ thời điểm ký kết hợp đồng;
bà L3 đã hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ cây cà phê trong các năm 2022, 2023
và 2024, đồng thời trả tiền thuê trong các năm 2022 và 2023, tổng cộng
30.000.000 đồng, đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều
92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy, các bên tham gia giao kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự,
năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, việc tham gia
giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự
6
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng đặt cọc
có hiệu lực theo Điều 117 của Bộ luật Dân sự, các bên bắt buộc phải tôn trọng và
thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận.
[2.2] Về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê khoán, thấy:
Bà L3 cho rằng sau khi bà thu hoạch cà phê vụ mùa năm 2024 thì ông L1
và bà L2 thông báo về việc lấy lại rẫy cà phê, chấm dứt hợp đồng thuê khoán nên
có căn cứ xác định ông L1 và bà L2 đã báo cho bà L3 biết trước một thời gian hợp
lý về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, phù hợp với thời vụ hoặc
chu kỳ khai thác theo khoản 1 Điều 492 của Bộ luật Dân sự nên ông L1 và bà L2
không có lỗi.
[2.3] Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà L3, thấy:
Tại đơn khởi kiện và trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bà L3
yêu cầu ông L1, bà L2 bồi thường thiệt hại các khoản tiền công, tiền thuốc, tiện
điện và tiền phân bón mà bà L3 đã đầu tư vào vườn cây năm 2024, với tổng số
tiền 79.350.000 đồng, trừ số tiền 15.000.000 đồng tiền thuê khoán năm 2024 mà
bà L3 chưa trả cho ông L1, bà L2, số tiền còn lại bà L3 yêu cầu bồi thường là
64.350.000 đồng.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/6/2026 (bút lục số 70), bà L3 khai như
sau:
“… Kết thúc vụ thu hoạch năm 2024 tôi chưa thực hiện công đoạn chăm
sóc nào của niên vụ năm 2025.
H: Kể từ thời điểm chị nhận rẫy chị có đầu tư máy móc, đường ống nước
hoặc đầu tư gì khác không?
Đ: Tôi không đầu tư máy móc gì trên đất.”.
Tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 01/7/2026 (bút lục số 89 – 94), người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trả lời như sau:
“H: … vụ mùa năm 2025 bà L3 đã thực hiện công đoạn chăm sóc, đầu tư
nào chưa?
TL: Chưa. Tuy nhiên, để cà phê đạt sản lượng cao thì phải đầu tư liên tục
chứ không phải đầu tư vào là được thu ngay.”.
Từ phân tích tại mục [2.2] về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng thuê khoán không do lỗi của ông L1, bà L2; từ sau khi thu hoạch vụ mùa
cà phê năm 2024, bà L3 không đầu tư, chăm sóc đối với vườn cây cà phê nên
không có thiệt hại thực tế xảy ra nên yêu cầu bồi thường của bà L3 là không có
căn cứ chấp nhận, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là phù hợp.
Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị L,
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm
7
Do kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Lê K được chấp nhận nên bà L
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266
Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên,
Luật phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án năm 2025.
Căn cứ các điều 3, 385, 404, 483, 484, 485, 486, 487, 489, 490, 491, 492
và 493 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban T ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Lệ .
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 25/2026/DS-ST ngày 01 tháng 7
năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Gia Lai, giữa nguyên đơn bà Lê
Thị L và bị đơn ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị L2 về việc “Yêu cầu bồi
thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng thuê khoán”.
Tuyên xử:
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L về việc
buộc ông Nguyễn Văn L1 và bà Lê Thị L4 bồi thường chi phí đầu tư, chăm sóc
rẫy cà phê trong năm 2024 với tổng số tiền 79.350.000 đồng.
4. Về án phí:
4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Thị L phải chịu 3.967.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào
số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.985.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số 0005496 ngày 21/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia
Lai. Bà L còn phải nộp thêm số tiền 1.982.500 (một triệu chín trăm tám mươi hai
ngàn năm trăm) đồng.
4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm
Bà Lê Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc
thẩm, được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000816 ngày 22/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Bà L đã nộp đủ.
8
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8 và
36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 11 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 11 – Gia Lai;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 277/2026/DS-PT Bản án số 277/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 277/2026/DS-PT Bản án số 277/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất