Bản án số 283/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 283/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 283/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 283/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 283/2026/DS-PTNgày 22/9/2026V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 283/2026/DS-PT Bản án số 283/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 283/2026/DS-PT Bản án số 283/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số 283/2026/DS-PT
Ngày 22/9/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và đòi lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và bà Võ Thị Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh
– Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2026/TLPT-DS ngày 14 tháng 8 năm 2026
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 34/2026/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 342/2026/QĐ-PT ngày
17 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh ngày 20/01/1951, căn cước công dân
************; địa chỉ: Thôn B, xã I, tỉnh Gia Lai.
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Trần Quý N,
sinh ngày 02/02/1987, địa chỉ: Số nhà C đường L, phường D, tỉnh Gia Lai. Có
mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị T1, sinh ngày 10/6/1979 và ông Chu Thanh P, sinh
ngày 08/10/1977, địa chỉ: Thôn C, xã I, tỉnh Gia Lai.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trịnh Đăng H, sinh ngày
24/7/1997, địa chỉ: Số nhà F đường T, phường D, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày
Ngày 19/3/2025, thông qua Hợp đồng thế chấp tài sản, bà Trần Thị T1 xác
nhận vợ chồng bà Trần Thị T1 và ông Chu Thanh P có vay còn nợ của bà Lê Thị
T số tiền là 7.862.270.000 đồng, thời hạn trả nợ là 03 tháng (từ ngày 19/3/2025
đến ngày 19/6/2025), không lãi suất. Mặc dù vợ chồng bà T1 và ông P là người
vay tiền nhưng khi lập hợp đồng chỉ có mình bà T1 và bà T1 ký tên vào Hợp đồng
thế chấp tài sản ghi ngày 19/3/2025.
Tài sản thế chấp là 02 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 01
bản gốc Trích lục bản đồ địa chính như sau: bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 560299, số
vào sổ cấp giấy chứng nhận: 00021 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày
23/02/2010, đứng tên ông Chu Thanh P và bà Trần Thị T1 đối với thửa đất số 441,
tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại địa chỉ thôn A, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là
thôn A, xã I, tỉnh Gia Lai); 01 bản gốc Trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai huyện C cấp ngày 18/8/2023 cho bà Trần Thị T1 đối
với thửa đất số 20, 33, 46, tờ bản đồ số 48, đất tọa lạc tại địa chỉ thôn E, xã N,
huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là thôn E, xã C, tỉnh Gia Lai); 01 bản gốc Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CM 565714, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 03018 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh G cấp ngày 02/5/2018, đứng tên ông Chu Thanh P và bà Trần Thị T1
đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại địa chỉ thôn E, xã N, huyện
C, tỉnh Gia Lai (nay là thôn E, xã C, tỉnh Gia Lai).
Đến ngày 01/4/2025 bà T1 đã mượn lại của bà T 02 bản gốc Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và 01 bản gốc Trích lục bản đồ địa chính nói trên để đăng
ký thay đổi thông tin cá nhân và làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng
thời, bà T1 cam kết sau khi làm xong thì sẽ giao trả lại cho bà T giữ bản gốc Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và Trích lục bản đồ địa chính. Tuy nhiên, sau khi
nhận lại giấy tờ thì đến nay bà T1 và ông P đã không giao lại cho bà T cũng như
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thoả thuận. Bà T1 và ông P là vợ chồng
nên ông P phải có nghĩa vụ liên đới trong việc trả nợ và trả lại giấy tờ đất cho bà
T.
Do vậy, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 và ông P phải
liên đới trả cho bà T số tiền nợ gốc là 7.862.270.000 đồng, tiền lãi chậm trả tính
từ ngày 20/6/2025 đến khi bà T1 và ông P thanh toán xong toàn bộ số nợ gốc và
nợ lãi phát sinh, với mức lãi suất 10%/năm, tương ứng 0,027%/ngày; Buộc bà T1
và ông P phải trả lại cho bà T 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BA 560299, số vào sổ cấp GCN: 00021
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 23/02/2010 cho ông Chu Thanh P và bà
Trần Thị T1 đối với thửa đất số 441, tờ bản đồ số 47 xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai;
01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài snả khác gắn liền
với đất số CM585714, số vào sổ cấp GCN CS 03018 do Sỏ Tài nguyên và Môi
3
trường tỉnh G cấp ngày 02/5/2018 cho ông Chu Thanh P và bà Trần Thị T1 đối
với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 4 xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai; 01 Trích lục bản
đồ địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh G – Chi nhánh huyện C cấp ngày
18/8/2023 cho bà Trần Thị T1 đối với thửa đất số 20, 33, 46 tờ bản đồ số 48 xã
N, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Đối với lời trình bày của bà T1 và ông P, bà T có ý kiến như sau: Tổng số
tiền bà T1 chuyển cho bà T là 15.171.438.000 đồng theo bản sao kê bà T1 đã cung
cấp cho Toà án là đúng, việc chuyển khoản qua lại giữa bà T và bà thuỷ có nhiều
mục đích khác nhau, bà T là người kinh doanh xăng dầu nên lượng tiền mặt rất
nhiều, việc chuyển tiền qua lại ngoài việc vay mượn thì còn có việc đổi tiền mặt
bằng hình thức bà T1 chuyển khoản cho bà T, còn bà T đưa tiền mặt cho bà T1 để
buôn bán, không phải tiền bà T1 chuyển khoản cho bà T vay.
Nguồn gốc của số tiền 7.862.270.000 đồng bà T1 và ông P nợ bà T là từ
tiền bà T1 vay nhiều lần, sau khi hai bên tổng kết lại tiền nợ thì chốt lại đến ngày
19/3/2025 bà T1 và ông P còn nợ bà T là 7.862.270.000 đồng nên sau khi ký hợp
đồng thì không có việc giao hay chuyển tiền nữa. Đồng thời để xác thực số tiền
nợ bà T cũng đã yêu cầu bà T1 nói rõ số tiền nợ theo bản ghi âm ngày 20/3/2025,
bà T đã cung cấp chứng cứ này theo Vi Bằng số 29/2026/VB-TPL ngày
27/02/2026 của Văn phòng T2. Bà T1 cho rằng bà T có hành vi thôi miên, ép buộc
là vô lý, không có căn cứ. Bà T cũng chưa nhận được bất kỳ thông báo nào của
Cơ quan điều tra theo lời trình bày của bà T1 về việc có tố giác bà T về hành vi
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Mặc dù ông P không ký vào hợp đồng nhưng bà T1
và ông P có mối quan hệ là vợ chồng nên họ phải có trách nhiệm liên đới trong
việc thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
1.2. Bị đơn bà Trần Thị T1 trình bày
Năm 2023, bà T1 quen biết với bà T thông qua việc đổ xăng, dầu tại cây
xăng nhà bà T tại xã I (cũ). Qua những lần gặp gỡ, bà T1 được bà T trò chuyện,
chia sẻ về cuộc sống và cách làm giàu. Từ đây, bà T giới thiệu và mời gọi cùng
tham gia khoá học về sự thành công, làm giàu trên ứng dụng Zalo có tên là “Câu
Lạc Bộ Chạm Tay Hóa V”. Qua hội nhóm này, bà T giới thiệu bà T1 làm quen
với nhóm bà Nguyễn Thị Kim L là người trực tiếp giảng dạy khoá học qua app
“Zoom”và bà Đào Thị X là con gái của bà T và cũng là thành viên của khoá học.
Khi bà T1 đồng ý tham gia thì bà T thường xuyên gọi điện, nhắn tin kêu gọi bà
T1 chia sẻ thông tin làm ăn, công việc.
Đến năm 2024, bà T1 có chia sẻ thông tin đang kinh doanh thu mua cà phê
với bà tình. Khi biết bà T1 đang kinh doanh, buôn bán thì bà T có trao đổi và đề
nghị cùng hợp tác làm ăn mua bán cà phê với bà T1 để nhằm mục đích chia sẻ
kinh nghiệm làm giàu lên hội nhóm. Từ đây, nhiều lần bà T nhiều lần đưa ra thông
tin và yêu cầu bà T1 chuyển tiền cho bà T một số tiền lớn để hai bên cùng đăng
tải, chia sẻ những thông tin, hình ảnh này lên hội nóm làm giàu để mọi người thấy
được sự thành công của cả hai người. Sau đó sẽ tính toán và chuyển trả lại cho
nhau. Tuy nhiên, sau đó bà tình không tính toán, đối chiếu khoản tiền này để trả
4
cho bà T1, cụ thể:
Từ ngày 20/9/2023 đến ngày 12/4/2025 bà T1 nhiều lần dùng tài khoản
Ngân hàng V1, số tài khoản 042179002723 chuyển khoản đến số tài khoản
101871321538 của ngân hàng V2 cho bà Lê Thị T vay tổng số tiền là
15.171.438.000 đồng. Ngược lại từ ngày 26/9/2023 đến ngày 07/3/2025, bà Lê
Thị T mới chuyển khoản trả cho bà Trần Thị T1 tổng số tiền 4.768.680.000 đồng.
Như vậy, trên thực tế số tiền bà T1 chuyển cho bà T là 15.171.438.000 đồng và
bà T chỉ chuyển cho bà T1 là 4.768.680.000 đồng, số tiền chênh lệch bà T chưa
chuyển trả cho bà T1 là 10.402.758.000 đồng.
Tuy nhiên, vào ngày 19/3/2025 bà Tình tự tổng hợp số tiền bà T cho rằng
đã chuyển cho bà T1 vay và tự chốt nợ xác định số tiền bà T1 nợ bà T là
7.862.270.000 đồng, đồng thời bà T lập Hợp đồng thế chấp tài sản ghi ngày
19/3/2025 yêu cầu bà T1 ký xác nhận số tiền nợ để làm tin. Việc xác ký Hợp đồng
thế chấp và xác nhận nợ tại bản ghi âm là do bà T1 bị ép buộc do thời gian này bà
T1 đang bị nợ nhiều nơi, tinh thần hoảng loạn, nên bà T1 chỉ ký tên vào hợp đồng
này để xác nhận nợ nhưng trên thực tế không có việc xác định tiền gốc, tiền lãi và
sau khi ký hợp đồng thế chấp bà T1 cũng không nhận từ bà T số tiền 7.862.270.000
đồng.
Như vậy, bù trừ giữa số tiền bà T1 chuyển cho bà T với số tiền bà T đang
khởi kiện thì thấy rằng bà T1 không nợ tiền của bà T. Đối với số tiền bà T1 đã
chuyển cho bà T nhưng bà T không trả thì bà T1 sẽ yêu cầu bà T trả lại trong một
vụ án khác.
Đối với tài sản thế chấp 02 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
01 bản gốc Trích lục bản đồ địa chính của bà T1 và ông P, sau khi ký hợp đồng
thế chấp thì bà T để nghị trả lại cho bà T1 để đính chính thông tin. Bà T1 có trao
đổi với ông P thì ông P phát hiện ra việc bà T1 ký hợp đồng thế chấp với bà T, có
yêu cầu bà T đối chiếu lại tiền nợ nhưng bà T không đồng ý nên bà T1 và ông P
không trả lại cho bà T.
Bà T1 đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T
về việc buộc vợ chồng bà T1, ông P liên đới trả số nợ gốc 7.862.270.000 đồng và
tiền lãi phát sinh cũng như đòi các giấy tờ về quyền sử dụng đất của vợ chồng bà
T1. Đồng thời, đề nghị Toà án tạm ngừng phiên toà để đối chất giữa bà T với bà
T1 và thu thập chứng cứ về việc giải quyết tin báo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an tỉnh G về việc và T1 tố giác bà T1 cùng những người liên quan về hành
vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1.3. Bị đơn ông Chu Thanh P trình bày
Ông Chu Thanh P có mối quan hệ với bà Trần Thị T1 là vợ chồng. Ông P
không biết gì về quan hệ làm ăn chuyển tiền qua lại giữa bà T1 và bà T. Ông P
không biết và không ký tên vào Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 19/3/2025 và
cũng không giao nhận giấy tờ đất với bà T. Ông P cũng không được bà T1 đưa
khoản tiền nào liên quan đến bà T để sử dụng vào mục đích chung của gia đình.
5
Ông P chỉ biết sự việc sau khi bà T1 đã ký Hợp đồng thế chấp với bà T do bà T1
có trao đổi với ông P về việc đính chính thông tin giấy tờ đất, ông P có nói bà T1
yêu cầu bà T đối chiếu lại tiền nợ nhưng bà T không đồng ý nên bà T1 và ông P
không trả lại giấy tờ đất cho bà T. Ông P không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
bà T về việc buộc ông P phải liên đới cùng bà T1 trả số nợ gốc 7.862.270.000
đồng và tiền lãi phát sinh cũng như đòi các giấy tờ về quyền sử dụng đất của của
ông P và bà T1.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 34/2026/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ Điều 144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 318, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân
sự; khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024; khoản 1 Điều 35 Nghị định 21/2021/NĐ-
CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Điều 25
Nghị định 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
Buộc bà Trần Thị T1 phải trả cho bà Lê Thị T toàn bộ số tiền nợ tính đến
ngày 02/7/2026 là 8.664.692.936 đồng, trong đó nợ gốc là 7.862.270.000 đồng,
nợ lãi là 802.422.936 đồng và tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết nợ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xt xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T về việc yêu cầu bà
Trần Thị T1 và ông Chu Thanh P trả lại cho bà Lê Thị T bản gốc Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA
560299, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 00021 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp
ngày 23/02/2010, đứng tên ông Chu Thanh P và bà Trần Thị T1 đối với thửa đất
số 441, tờ bản đồ số 47 tại thôn A, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là thôn A, xã
I, tỉnh Gia Lai); Trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất
đai huyện C cấp ngày 18/8/2023 cho bà Trần Thị T1 đối với thửa đất số 20, 33,
46, tờ bản đồ số 48 tại thôn E, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là thôn E, xã C,
tỉnh Gia Lai); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CM 565714, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 03018
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 02/5/2018, đứng tên ông Chu
Thanh P và bà Trần Thị T1 đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 4 tại thôn E, xã
N, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là thôn E, xã C, tỉnh Gia Lai).
6
- Về án phí: Buộc bà Trần Thị T1 phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ
thẩm có giá ngạch là 116.664.693 đồng; Bà Lê Thị T được miễn toàn bộ tiền án
phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo
quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo
Ngày 13/7/2026, bị đơn bà Trần Thị T1 kháng cáo bản án 34/2026/DS-ST
ngày 02 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai, yêu cầu sửa
bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn và bị đơn ông Chu Thanh P không kháng cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa
- Tại Văn bản trình bày ý kiến kháng cáo ghi ngày 17/9/2026 của người đại
diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ bản chất
khoản nợ thực tế, không xem xt đến sự chênh lệch trong tổng số tiền chuyển
khoản giữa hai bên, cụ thể bị đơn đã chuyển khoản cho nguyên đơn tổng số tiền
15.171.438.000 đồng, nguyên đơn chuyển khoản cho bị đơn tổng số tiền
4.768.680.000 đồng, như vậy nguyên đơn còn nợ bị đơn số tiền 10.402.758.000
đồng nên việc khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp; không có căn cứ xác
định nguyên đơn chuyển tiền cho bị đơn vay, việc bị đơn ký vào hợp đồng thế
chấp là không tự nguyện và việc tính lãi suất chậm trả là không đúng quy định
của pháp luật.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện, không đồng ý với ý kiến trình bày của người đại diện theo ủy quyền
của bị đơn.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Đảm bảo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy
định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội
đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án
thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Về án phí: Bị đơn bà Trần Thị T1 phải án phí dân sự phúc thẩm.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T1 đảm bảo thời hạn kháng cáo, đã
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại các điều 273 và 276 của Bộ
luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo bị đơn bà Trần Thị T1
là ông Trịnh Đăng H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng
xét xử tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt ông H theo khoản 2 Điều
296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T1, thấy rằng:
[2.1] Đối với hợp đồng thế chấp tài sản ghi ngày 19/3/2025 (bút lục số 76
– 78), thấy:
Nguyên đơn bà Lê Thị T và bị đơn bà Trần Thị T1 đều thừa nhận có xác
lập và ký kết hợp đồng thế chấp tài sản ghi ngày 19/3/2025 nên đây là tình tiết, sự
kiện không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hợp đồng thế chấp tài sản ghi ngày 19/3/2025 thể hiện nội dung bà T1 và
ông P đồng ý thế chấp tài sản gồm: Bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số BA 560299, được UBND huyện C cấp ngày 23/02/2010, bản gốc giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CM 565714, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
G cấp ngày 02/5/2018 và bản gốc trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai huyện C cấp ngày 18/8/2023, để bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ cho số tiền vay 7.862.270.000 đồng, mục đích để đầu tư kinh doanh cà phê và
hàng nông sản, thời hạn trả nợ từ ngày 19/3/2025 đến ngày 19/6/2025.
Bà T cho rằng số tiền 7.862.270.000 đồng có nguồn gốc từ việc bà T1 nhiều
lần vay tiền bà T, đến ngày 19/3/2025, hai bên tính toán chốt công nợ xác định số
tiền bà T1 và ông P còn nợ bà T tính đến ngày 19/3/2025 là 7.862.270.000 đồng,
đồng thời có giao nộp nội dung bản ghi âm cuộc hội thoại giữa bà T và bà T1 thể
hiện bà T1 thừa nhận có lấy của bà T số tiền 7.862.270.000 đồng để đi mua cà
phê theo Vi Bằng số 29/2026/VB-TPL ngày 27/02/2026 của Văn phòng T2 (bút
lục số 63 – 74). Bà T1 cho rằng số tiền 7.862.270.000 đồng do bà Tình tự tổng
hợp, chốt nợ và tự lập Hợp đồng thế chấp tài sản ghi ngày 19/3/2025 yêu cầu bà
T1 ký xác nhận số tiền nợ để làm tin, việc ký Hợp đồng thế chấp và xác nhận nợ
tại bản ghi âm là do bà T1 bị ép buộc do thời gian này bà T1 đang bị nợ nhiều nơi,
tinh thần hoảng loạn, bà T1 chỉ ký tên vào hợp đồng này để xác nhận nợ nhưng
trên thực tế bà T1 cũng không nhận từ bà T số tiền này.
Quá trình giải quyết bà T1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho việc thời
điểm ký và xác nhận nợ tinh thần bà bị hoảng loạn, không tự nguyện nên lời trình
bày của bà T1 là không có căn cứ. Bà T cho rằng ông P có trách nhiệm liên đới
cùng bà T1 trả nợ, tuy nhiên tại hợp đồng thế chấp không có chữ ký của ông P;
bà T1 không chứng minh được số tiền vay là để bảo đảm điều kiện để đáp ứng
8
nhu cầu thiết yếu của gia đình ông P, bà T, ngoài ra bà T1 và ông P cũng không
thừa nhận vấn đề này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà T có nợ và buộc bà
phải trả cho bà T1 số tiền 7.862.270.000 đồng là phù hợp, tại phần nhận định của
bản án sơ thẩm thể hiện việc không chấp nhận yêu cầu của bà T về việc buộc ông
P phải có nghĩa vụ liên đới với bà T1 trả tiền, tuy nhiên tại phần quyết định của
bản án sơ thẩm không tuyên là có sự thiếu sót, Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh,
bổ sung lại cách tuyên về vấn đề này cho phù hợp.
[2.2] Đối với việc bà T yêu cầu bà T1 và ông P trả lại bản gốc giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và trích lục bản đồ địa chính, thấy:
Hợp đồng thế chấp tài sản ghi ngày 19/3/2025 bản chất là biên bản đối chiếu
công nợ, trong đó thỏa thuận về số tiền còn nợ, thời hạn trả nợ, việc “thế chấp”
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trích lục bản đồ địa chính chỉ nhằm mục
đích làm tin, đảm bảo cho việc trả nợ, đây không phải là một trong các biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo Điều 292 của Bộ luật Dân sự.
Mặc dù bà T1 có đưa cho bà T bản gốc các giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và trích lục bản đồ địa chính, tuy nhiên các tài liệu này đã được bà T trả lại
cho bà T1 theo Giấy mượn tài sản thế chấp ghi ngày 19/3/2025 (bút lục số 75).
Xét thỏa thuận thế chấp tài sản không được đăng ký biện pháp bảo đảm
theo Điều 298 của Bộ luật Dân sự nên thoỏa thuận này không có hiệu lực pháp
luật, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đối với yêu cầu này của nguyên đơn là
có căn cứ.
[2.3] Đối với tiền lãi phát sinh, thấy:
Tại Hợp đồng thế chấp tài sản ghi ngày 19/3/2025 các bên không thỏa thuận
lãi suất vay.
Khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định:
“Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
...
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc
trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất
theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy
định khác.”.
Từ ngày 20/6/2026 đến ngày 02/7/2026 là 378 ngày, tiền lãi là
7.862.270.000 đồng x 10%/năm x 378 ngày = 814.229.605 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định tiền lãi là 802.422.936 đồng là có sự nhầm lẫn
trong tính toán, tuy nhiên việc nhầm lẫn này là có lợi cho bị đơn, đồng thời nguyên
đơn không kháng cáo về vấn đề này nên Hội đồng xét xử giữ nguyên số tiền lãi
như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định.
[2.4]. Đối với số tiền bà T1 chuyển khoản cho bà T phát sinh từ thời điểm
9
ngày 19/3/2026, thấy:
Căn cứ Sao kê chi tiết giao dịch do bà Thủy cung C (bút lục số 120 – 125),
có căn cứ xác định từ ngày 19/3/2026, bà T1 có 04 lần chuyển tiền cho bà T, cụ
thể:
- Vào lúc 11 giờ 16 phút, ngày 19/3/2025, chuyển số tiền 400.000.000 đồng.
- Vào lúc 14 giờ 06 phút 21 giây, ngày 19/3/2025, chuyển số tiền 50.000
đồng.
- Vào lúc 08 giờ 30 phút 56 giây, ngày 27/3/2025, chuyển số tiền 65.000
đồng.
- Vào lúc 09 giờ 36 phút 19 giây, ngày 12/4/2025, chuyển số tiền 30.000
đồng.
Mặc dù số tiền chuyển khoản từ ngày 19/3/2025 trở về sau, tuy nhiên quá
trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phía bị đơn đều xác định sau thời
điểm ký Hợp đồng thế chấp tài sản bị đơn chưa thanh toán tiền cho nguyên đơn
nên không có căn cứ xác định số tiền này chuyển khoản nhằm thanh toán cho
khoản tiền 7.862.270.000 đồng.
Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần
Thị T1, giữ nguyên bản án dân sơ sơ thẩm, tuy nhiên cần điều chỉnh, bổ sung về
cách tuyên án cho đảm bảo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm
Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T1 không được chấp nhận
nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 266 và 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 318, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân
sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024;
Căn cứ khoản 1 Điều 35 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ
luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Điều 25 Nghị định 99/2022/NĐ-CP
về đăng ký biện pháp bảo đảm.
10
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban T3 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T1.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 34/2026/DS-ST ngày 02 tháng 7
năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai, giữa nguyên đơn bà Lê Thị
T và bị đơn bà Trần Thị T1, ông Chu Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Tuyên xử:
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
Buộc bà Trần Thị T1 phải trả cho bà Lê Thị T số tiền 8.664.692.936 (tám
tỷ sáu trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn chín trăm ba mươi
sáu) đồng, trong đó tiền gốc 7.862.270.000 (bảy tỷ tám trăm sáu mươi hai triệu
hai trăm bảy mươi nghìn) đồng và tiền lãi 802.422.936 (tám trăm linh hai triệu
bốn trăm hai mươi hai nghìn chín trăm ba mươi sáu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357,
468 của Bộ luật Dân sự.
4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T, cụ thể:
Không chấp nhận đối với yêu cầu buộc ông Chu Thanh P có nghĩa vụ liên
đới cùng với bà Trần Thị T1 trả số tiền 8.664.692.936 (tám tỷ sáu trăm sáu mươi
bốn triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn chín trăm ba mươi sáu) đồng.
Không chấp nhận đối với yêu cầu buộc bà Trần Thị T1 và ông Chu Thanh
P trả lại bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 560299, được UBND
huyện C cấp ngày 23/02/2010, bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CM 565714, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 02/5/2018 và
bản gốc trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện
C cấp ngày 18/8/2023.
5. Về án phí:
5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị T1 phải chịu 116.664.693 (một trăm mươi sáu triệu sáu trăm
sáu mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lê Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
5.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Trần Thị T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) án phí dân sự phúc
thẩm, được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí
11
dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000840
ngày 22/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Bà T1 đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8 và
36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 9 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 9 – Gia Lai;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 283/2026/DS-PT Bản án số 283/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 283/2026/DS-PT Bản án số 283/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất