Bản án số 1233/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1233/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1233/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1233/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim C và Ngân hàng TMCP Đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1233/2025/DS-PT Bản án số 1233/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1233/2025/DS-PT Bản án số 1233/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1233/2025/DS-PT
Ngày: 19/9/2025
V/v tranh chấp hợp đồng ủy
quyền, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy
biến động chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, chấm dứt hành vi
trái pháp luật, hủy hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
Bà Trần Thị Thanh Trúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ s
771/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 8 năm 2025 về việc: Tranh chấp hợp đồng ủy
quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy biến động chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, chấm dứt hành vi trái pháp luật, hủy hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay Tòa án nhân dân khu
vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm s4314/2025/QĐ-PT ngày 04
tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 15167/2025/QĐ-PT
ngày 26 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Vụ thứ nhất:
- Nguyên đơn: Thị Minh T, sinh năm 1969; địa chỉ: số nhà B, ấp C,
A, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã A, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1967; địa chỉ: 7
đường L, Phường I, thành phố Đ, tỉnh m Đồng (nay phường L - Đ, tỉnh Lâm
2
Đồng), người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/01/2023);
mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Tuấn S, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã V, huyện P,
tỉnh Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có đơn yêu cầu độc lập:
Ông Trần Văn B, sinh năm 1983; địa chỉ: phường A, thành phố B, tỉnh Bình
Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:
1. Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp C, T, huyện P, tỉnh
Bình Dương (nay là xã A, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
2. Ông Văn D, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình
Dương (nay là xã A, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1968; địa chỉ: p
C, T, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là A, Thành phố Hồ Chí Minh), người
đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/4/2023); có mặt.
3. Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3); địa chỉ: số A, đường Đ, xã V, huyện
P, tỉnh Bình Dương (nay là P, Thành phố Hồ Chí Minh); đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt.
4. Văn phòng C4 (nay Văn phòng C5); địa chỉ: Quốc lộ A, xã L, huyện B,
tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt.
5. Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T5, Phòng G; địa chỉ: thửa đất số 104, tờ
bản đồ số 11, đường Đ, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường
B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh V - Chức vụ: Giám đốc Chi
nhánh, là người đại diện theo pháp luật.
Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Quốc V1 hoặc bà Trần Thị Kiều O
hoặc ông Trần Châu T1; cùng địa chỉ liên hệ: số C đường Y, phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền; ông V1 mặt; O ông T1 vắng
mặt.
6. Chi nhánh n phòng Đăng ký đất đai huyện P.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Minh H Giám đốc, người đại diện
theo pháp luật; địa chỉ: khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là
P, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
7. Ông Tấn T2, sinh năm 1988 bà Phạm Thị T3, sinh năm 1981; địa chỉ:
số nhà D, tổ A, ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã A, Thành phố Hồ
Chí Minh); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
8. Huỳnh Thị M, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp C, A, huyện P, tỉnh Bình
Dương (nay là xã A, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
3
9. Đỗ Thị Q, địa chỉ: ấp C, A, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã A,
Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
10. Ông Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp C, A, huyện P, tỉnh
Bình Dương (nay là xã A, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
Vụ thứ hai:
- Nguyên đơn: Ông Văn D, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp C, T, huyện P,
tỉnh Bình Dương (nay là xã A, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1968; địa chỉ: p
C, T, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là A, Thành phố Hồ Chí Minh), người
đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/4/2023); có mặt.
- Bị đơn: Thị Minh T, sinh năm 1969; địa chỉ: Số nhà B, ấp C, A,
huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã A, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1967; địa chỉ: 7
đường L, Phường I, thành phố Đ, tỉnh m Đồng (nay phường L - Đ, tỉnh Lâm
Đồng), người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/01/2023);
mặt.
- Người kháng cáo: người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim
C, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T5, Phòng G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản lấy lời khai quá trình hòa giải
nguyên đơn và đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy L trình bày:
Phần đất diện tích đất 2.692m
2
thuộc thửa số 145, tờ bản đồ s26, tọa lạc
tại ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ) số AD151032, số vào sổ H03216 do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện
P cấp ngày 12/7/2005 đứng tên Lê Thị Minh T. Ngày 01/4/2018, T hợp
đồng đặt cọc với ông Trần Văn B. Theo đó, T chuyển nhượng cho ông B diện
tích đất 320m
2
thuộc một phần thửa số 145 nêu trên. Giá trị chuyển nhượng
450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng), ông B đặt cọc cho bà T số tiền
240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng), số tiền còn lại sẽ thanh toán sau
khi hoàn thành xong thủ tục. Do không am hiểu về pháp luật nên T có nhờ ông
Tuấn S thực hiện thủ tục tách thửa giúp T. Theo bản giao kèo viết tay ngày
07/4/2018 giữa bà T và ông S, ông S sẽ liên hệ cơ quan Nhà nước làm thủ tục tách
thửa đối với phần đất nêu trên cho T với giá 30.000.000 đồng (ba mươi triệu
đồng), T đã giao trước cho ông S 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Sau
đó, bà T nhu cầu tách thêm 01 phần nữa nên đã giao thêm cho ông S 30.000.000
đồng (ba mươi triệu đồng). Tuy nhiên, khi giao tiền thì T ông S không lập
giấy biên nhận về khoản tiền này. Tổng cộng T đã giao cho ông S 50.000.000
đồng (năm mươi triệu đồng). Sau khi nhận giấy tờ của bà T, ông S hướng dẫn bà T
phải ký ủy quyền cho ông để làm thủ tục vay tiền. Ngày 25/01/2019, T và ông S
Hợp đồng ủy quyền số 000128 tại Văn phòng C2. Trong hợp đồng này nội
4
dung bà T y quyền cho ông S thực hiện việc chuyển nhượng đối với phần diện tích
đất 2.692m
2
, thửa số 145, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Trong thời gian chưa làm thủ tục sang tên cho ông B, T cần tiền nên ngày
20/12/2018 bà T có ký vào giấy mượn tiền và thế chấp bản chính GCNQSDĐ mục
đích vay tiền cho ông S, khi T vay ông S số tiền 300.000.000 đồng ông S yêu
cầu bà T đến Văn phòng C2 kết hợp đồng ủy quyền toàn phần để làm tin, không
nhằm mục đích bán đất. Nhưng ông S lại lấy sổ đất của T để vay tiền của C.
Để đảm bảo khoản vay C yêu cầu ông S làm thủ tục ủy quyền lại cho C
viết giấy đặt cọc sang nhượng lại cho C với giá cả thửa đất 200.000.000 đồng
(việc ký hợp đồng ủy quyền lại từ ông S sang bà C là nhằm mục đích vay tiền). Sau
đó, C tự sang nhượng lại cho chồng bà C ông Văn D. Việc C tự tiện
sang nhượng đất cho chồng bà ông D, ông S T không được biết, C không
thông báo về việc bán đất, giá tiền bán. Như vậy, việc T, ông S và bà C lập các
hợp đồng ủy quyền cho nhau hợp đồng giả tạo của hợp đồng vay tiền. Thực tế
năm 2018, bà T đã sang nhượng cho ông B với giá 01m ngang 45.000.000 đồng
(10m 450.000.000 đồng); trong khi đó, ông S bán cho C cả thửa đất (khoảng
60m ngang) giá 200.000.000 đồng; bà C chuyển nhượng cho ông Danh giá
50.000.000 đồng.
Ngày 11/9/2019, bà T đã liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
P để tìm hiểu thông tin về quyền sdụng đất của mình tT nhận được thông
tin: Ngày 26/01/2019, ông S đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Kim C thực hiện các
công việc theo Hợp đồng ủy quyền số 000128 T đã ủy quyền cho ông S; ngày
13/8/2019, Nguyễn Thị Kim C đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với
phần đất của T cho ông Văn D; ngày 29/8/2019, UBND huyện P đã cấp
GCNQSDĐ đối với phần đất của Thị Minh T cho ông Văn D; ttháng
01/2018 đến nay, gia đình bà T vẫn ở trên đất, gia đình ông B1 cất nhà trên đất năm
1997 đến năm 2018 bán lại cho M và không thấy bất cứ ai liên hệ đòi đất của
T.
Nay, bà Lê Thị Minh T khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
1. Tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền số 000128, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 25/01/2019 lập tại Văn phòng C2 giữa bà Lê Thị Minh T và ông Tuấn S.
2. Tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền số 000131, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 26/01/2019 tại Văn phòng C2 giữa ông Vũ Tuấn S và bà Nguyễn Thị Kim C.
3. Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3136, quyển số
08/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/8/2019 lập tại Văn phòng C4 giữa bà Nguyễn Th
Kim C và ông Văn D vô hiệu.
4. Tuyên hủy đăng biến động sang tên cho ông Văn D theo hồ số:
005523.CN.002 ngày 29/8/2019.
5. Hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa vợ chồng Nguyễn Thị
Kim C, ông Võ Văn D với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T5 - Phòng G đối với
phần thế chấp quyền sử dụng đất theo GCNQS đất số AD151032 cấp ngày
5
12/7/2005 thuộc thửa s145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại A, huyện P, tỉnh Bình
Dương cho bà Thị Minh T.
6. Buộc Ngân hàng trả lại bản chính GCNQSDĐ số AD151032 cấp ngày
12/7/2005 thuộc thửa số 145, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại A, huyện P, tỉnh Bình
Dương cho bà Thị Minh T.
Nguyên đơn thống nhất biên bản định giá và Mảnh trích lục đo đạc chỉnh
ngày 10/5/2024.
- Tại phiên tòa thẩm đại diện nguyên đơn trình bày: Việc C mua bán
thửa đất của T nhưng không biết tcận, không biết tài sản nhà của M
trên đất; việc mua bán ca bà C giá cả không phù hợp với giá thực tế đang mua bán
(ông B mua 450.000.000 đồng/10m ngang), C đã khai trước đây sự vay
mượn tiền giữa T với ông S, do đó hợp đồng ủy quyền giữa các bên giả tạo
che giấu hợp đồng vay tiền nên đề nghị Tòa án tuyên các hợp đồng ủy quyền
hiệu do giả tạo; tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà C và ông D vô
hiệu; yêu cầu Ngân hàng B2 trả lại GCNQSDĐ bản chính cho T; việc Ngân hàng
kết hợp đồng tín dụng với con C nhận thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất
145, tờ bản đồ số 26 không phù hợp, không đi xem xét, thẩm định tại chỗ nên
không biết gia đình T cũng như gia đình M còn đang ở trên đất, do đó việc thế
chấp vay vốn tại Ngân hàng là không đúng trình tự thủ tục đề nghị Tòa án xem xét.
Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn D.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, tại phiên tòa bị đơn ông Tuấn S
trình bày: T y quyền cho ông đi vay tiền, hai bên có làm giấy ủy quyền tại Văn
phòng C2, do ông vay nhiều lần của C nên C yêu cầu khi vay tiền phải thế
chấp bằng quyền sử dụng đất thửa đất 145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại xã A, huyện
P, tỉnh Bình Dương bằng cách làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
nếu trả được tiền tbà C trả lại GCNQSDĐ. Khi vay tiền của C 200.000.000
đồng, ông đưa cho T, hai bên giấy tờ, ngoài ra ông cho T vay
300.000.000 đồng. Số tiền vay bà T chưa trả cho C nên C vẫn giữ GCNQSDĐ
của T. Với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông đồng ý với yêu cầu của nguyên
đơn hủy toàn bộ hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, buộc bà T trả lại cho bà C 200.000.000 đồng cùng lãi suất theo quy định.
Đối với số tiền ông cho bà T vay 300.000.000 đồng, ông sẽ khởi kiện bằng một vụ
án khác. Ông thống nhất biên bản định giá Mảnh trích lục đo đạc chỉnh
ngày 10/5/2024.
- Tại bản tự khai tại phiên tòa người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đơn yêu cầu độc lập ông Trần Văn B trình bày: Vào ngày 01/4/2018, ông lập
hợp đồng đặt cọc với nguyên đơn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện
tích 320m
2
(10m x 32m), trong đó 50m
2
đất và 270m
2
đất cây lâu năm tài
sản gắn liền với đất thuộc thửa đất 145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại A, huyện P,
tỉnh Bình Dương với số tiền 450.000.000 đồng, ông đã giao tổng cộng cho nguyên
đơn số tiền 240.000.000 đồng, số tiền còn lại của gtrị chuyển nhượng ông sẽ giao
cho nguyên đơn trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày 01/4/2018 hai bên sẽ ra công
chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên tđó đến nay,
6
nguyên đơn không thực hiện được các thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất nói
trên nên ông yêu cầu nguyên đơn trả lại cho ông số tiền 240.000.000 đồng không
yêu cầu trả lãi suất.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai tại phiên tòa người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim C, đồng thời người đại diện theo ủy quyền
của ông Văn D trình bày: không chấp nhận toàn bộ u cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Cụ thể: Ngày 26/01/2019, bị đơn lập hợp đồng ủy quyền đ
bị đơn ủy quyền cho bà thực hiện các công việc liên quan đến thửa đất 145, tờ bn
đồ số 26 diện tích trên 2.600m
2
. Sau khi lập hợp đồng ủy quyền nói trên thì
giữ bản chính GCNQSDĐ của thửa đất 145, tờ bản đồ số 26. Cùng ngày 26/01/2019,
bà với bị đơn ký hợp đồng đặt cọc mua bán đất về việc chuyển nhượng đất đối với
thửa đất 145, tờ bản đồ số 26 với giá trị chuyển nhượng là 200.000.000 đồng, giao
trước 120.000.000 đồng. Không có sự việc bà cho bị đơn vay tiền như lời trình bày
của bị đơn tại bản tự khai, việc bị đơn hợp đồng ủy quyền liên quan đến
thửa đất 145, tờ bản đồ số 26 nhằm mục đích bà giữ bản chính GCNQSDĐ, không
cho bị đơn thực hiện các giao dịch ủy quyền liên quan đến thửa đất này. Đến
ngày 18/02/2019, tiếp tục giao cho bị đơn số tiền 30.000.000 đồng. Tổng cộng
giao cho bị đơn số tiền 150.000.000 đồng. Đến ngày 26/4/2019, với bị đơn lập
hợp đồng đặt cọc mua bán đất về việc chuyển nhượng đất đối với thửa đất 145, tờ
bản đồ số 26 với giá trị chuyển nhượng là 200.000.000 đồng và có xác nhận bà đặt
cọc lần 1 cho bị đơn số tiền 150.000.000 đồng (thực tế đây là số tiền bà đã giao cho
bị đơn vào các ngày 26/01/2019 18/02/2019) thanh toán lần 2 vào ngày
06/5/2019 số tiền 50.000.000 đồng cho bị đơn. Như vậy, tổng cộng bà đã giao cho
bị đơn số tiền 200.000.000 đồng. Kể từ sau thời điểm ngày 06/5/2019 thì đã
không liên lạc được với bị đơn (do bị đơn phải đi chấp hành án). Bà đã đến trực tiếp
đến nhà T để liên hệ, đồng thời cho T mua lại thửa đất 145, tờ bản đồ số 26
nhưng T không có thiện chí nên bà đã chuyển nhượng thửa đất 145, tờ bản đồ số
26 cho ông Võ Văn D và đã cập nhật chỉnh biến động sang tên ông D vào ngày
29/8/2019. Hiện tại thửa đất 145, tờ bản đồ số 26 đang được thế chấp để bảo đảm
khoản vay 1.500.000.000 đồng cho con trai là ông Tấn T2 tại Ngân hàng Đ (B2)
- Chi nhánh T5 - Phòng G. đại diện cho ông D yêu cầu T chấm dứt hành vi
trái pháp luật là dời khỏi mảnh đất tại thửa đất 145, tờ bản đồ số 26 do ông D đang
đứng tên để trả lại cho ông D quản lý, sử dụng đất của ông D mua bán hợp
pháp, đất này hiện nay đã thế chấp cho Ngân hàng. không yêu cầu độc lập đối
với vụ án này, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, thống nhất
biên bản định giá và Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh lý ngày 10/5/2024.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, tại phiên tòa người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn ông Văn D Nguyễn Thị Kim C trình bày: Năm 2019,
ông D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Thị Minh T phần đất
diện tích 2.692m
2
(trong đó, đất tại nông thôn 400m
2
) thuộc thửa số 145, tbản
đồ số 26, tọa lạc tại ấp C, A, huyện P, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ số
AD151032, số vào sổ H03216 do UBND huyện P cấp ngày 12/7/2005 đứng tên bà
Lê Thị Minh T. Ngày 29/8/2019, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P đã
đăng ký biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất đứng tên Võ Văn D. Sau khi
7
ông D được cấp GCNQSDĐ, bà Thị Minh T và ông Vũ Tuấn S có xảy ra tranh
chấp liên quan đến phần đất đã chuyển nhượng cho ông D. Do các bên không tự
thỏa thuận được nên bà T đã khởi kiện ông S đến Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo
để giải quyết. Đến ngày 16/8/2022, ông D và bà C cùng bà T đã thỏa thuận cho bà
T quyền sử dụng đất một phần diện tích chiều ngang 17m chiều i hết đất
nằm trong phần đất diện 2.692m
2
(trong đó, đất tại nông thôn 400m
2
) thuộc
thửa số 145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương theo
GCNQSDĐ số AD151032, số vào sổ H03216 do UBND huyện P cấp ngày
12/7/2005 đứng tên Thị Minh T. Sau khi ký thỏa thuận, ông D đã thực hiện
đúng cam kết. Ngày 19/8/2022, ông D làm thủ tục đề nghđo đạc, điều chỉnh bản
vẽ để tặng cho phần đất diện tích chiều ngang 17m và chiều dài hết đất nằm trong
phần đất diện tích 2.692m
2
(trong đó, đất tại nông thôn 400m
2
thuộc thửa số
145, t bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp C, A, huyện P, tỉnh nh Dương theo
GCNQSDĐ số AD151032, số vào sổ H03216 do UBND huyện P cấp ngày
12/7/2005 đứng tên bà Lê Thị Minh T. Đến ngày 12/9/2022, Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện P tiến hành đo đạc xác minh hiện trạng thửa số 145, tờ bản
đồ số 26, tọa lạc tại ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương thì không thể tiến hành
được, lý do T Huỳnh Thị M đang tranh chấp đối với một phần thửa số 145,
tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, lỗi hoàn toàn do
bà T gây ra nên bà T phải chịu trách nhiệm do vi phạm thỏa thuận.
Nay, ông D khởi kiện yêu cầu giải quyết: Buộc bà Lê Thị Minh T phải rời khỏi
phần đất diện tích 2.692m
2
(trong đó, đất tại nông thôn 400m
2
) thuộc thửa số 145,
tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp C, A, huyện P, tỉnh Bình Dương để trả lại cho
nguyên đơn ông D quản lý, sử dụng.
- Tại biên bản lấy lời khai người quyền lợi, nghĩa vliên quan Huỳnh
Thị M trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp giữa T và ông S là của bà T diện tích
khoảng hơn 02 sào đất. Năm 1994, ông B1 mua đất của bà T ngang 6m dài hết đất,
ông B1 đã xây nhà trên đất và bán lại cho bà cả nhà và đất năm 2018 có 100m
2
đất
thổ với giá 405.000.000 đồng, nay các bên tranh chấp thống nhất ý kiến của
nguyên đơn. Năm 2017, bà nghe ông B mua đất của bà T ngang 10m chiều dài
hết đất với giá 450.000.000 đồng nhưng chưa sang tên được là do đất bị tranh chấp.
- Tại biên bản lấy lời khai ông Phạm Văn B1 trình bày: Năm 1994, ông nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Thị Minh T thuộc một phần thửa số
145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại A, huyện P, tỉnh Bình Dương diện tích ngang
6,5m dài 30,5m mua bán bằng giấy tay. Năm 2018, ông bán lại cho Huỳnh Thị
M nhà và đất với giá 400.000.000 đồng, hiện tại bà M đang quản lý, sử dụng. Diện
tích đất trên ông đã bán nên đề nghị Tòa án giải quyết cho M được quyền sdụng
đất. Do tuổi cao không còn liên quan đến thửa đất đã bán nên đề nghị Tòa án
không đưa ông vào tham gia tố tụng.
- Tại bản tự khai ông Võ Tấn T2 và bà Phạm Thị T3 trình bày: Vợ chồng ông
bà có làm thủ tục vay Ngân hàng B2 do ba mẹ bảo lãnh vay stiền 1.500.000.000
đồng trả góp, trong khi thế chấp đất cho Ngân hàng quyền sử dụng đất không
8
tranh chấp. Ông đã vay trên 03 năm, nay tranh chấp, ông không khả
năng đóng tiền lãi cho Ngân hàng nên giao cho Ngân hàng giải quyết khoản vay.
- Tại văn bản trình bày ý kiến Văn phòng C2 (nay Văn phòng C3) trình bày:
Về trình tự thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền: Đối với Hợp đồng ủy quyền
công chứng số 000128 quyển 01 TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Văn
phòng Công chứng C2 ký là đúng quy định.
- Tại văn bản ngày 24/6/2020 và ngày 18/10/2023 Văn phòng C4 (nay là Văn
phòng C5) trình bày: Về trình tthủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất công chứng số 3136 quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD ngày
13/8/2019. Hợp đồng số 3136 được thực hiện việc công chứng trên cơ sở bà Lê Thị
Minh T (chủ sử dụng đất) ủy quyền cho ông Vũ Tuấn S theo hợp đồng ủy quyền s
công chứng 00128 do Công chng viên Văn phòng C2 chứng nhận ngày
25/01/2019; ông Tuấn S ủy quyền lại cho bà Nguyễn Thị Kim C theo Hợp đồng
ủy quyền scông chứng 00131 do Công chứng viên Văn phòng C2 chứng nhn
ngày 26/01/2019; Nguyễn Thị Kim C đại diện ủy quyền chuyển nhượng cho ông
Văn D theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3136 do Công
chứng viên Văn phòng C4 chứng nhận ngày 13/8/2019. Việc công chứng hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3136 nêu trên đúng trình tự thủ tục pháp
luật.
- Tại bản tự khai và tại phiên tòa Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T5, Phòng
G trình bày:
Ngày 21/7/2020, Ngân hàng đã nhận thế chấp hợp pháp thửa đất tranh chấp từ
ông Văn D Nguyễn Thị Kim C. Tại thời điểm thế chấp, GCNQSDĐ đã
được đăng ký sang tên ông D ngày 29/8/2019. Ngân hàng là bên nhận thế chấp hợp
pháp, tài sản khi thế chấp tại Ngân hàng đã đáp ứng thực hiện đầy đủ các quy
định pháp luật về giao dịch bảo đảm, đảm bảo quyền ưu tiên thanh toán cao nhất
của Ngân hàng. Ngân hàng không biết và không buộc phải biết về giao dịch dân sự
giữa bà Lê Thị Minh T và ông Vũ Tuấn S. Vì vậy, căn cứ quy định pháp luật (Điều
133 Bộ luật Dân sự) hướng dẫn của a án nhân dân tối cao tại Mục II.1 Văn
bản số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019, Ngân hàng với cách bên nhận thế
chấp tài sản ngay tình, hợp pháp, Ngân hàng phải được pháp luật công nhận và bảo
vệ. Giao dịch nhận thế chấp tài sản của Ngân hàng đương nhiên hiệu lực pháp
luật. Trường hợp, các bên giải quyết ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất đang
được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T5 - Phòng G, bên thế chấp tài
sản nghĩa vụ thực hiện theo đúng nội dung các điều khoản điều kiện các
bên thỏa thuận thống nhất kết như trong Hợp đồng thế chấp bất động sản ngày
21 tháng 7 năm 2020, số 123/2020/9315896/HĐBĐ của Ngân hàng TMCP Đ - Chi
nhánh T5 - Phòng G, nghĩa là phải có tài sản khác có giá trị tương đương hoặc lớn
hơn để thế chấp thay cho tài sản hiện đang được đảm bảo theo hợp đồng nói trên.
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
nhưng không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn bà T, ông D.
9
Tại Bản án dân sự thẩm s08/2025/DS-ST ngày 26/02/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 19
Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh T vviệc “tranh chấp hợp
đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy biến động
quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông
Vũ Tuấn S.
1.1. Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số 000128, quyển số 01/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 25/01/2019 lập tại Văn phòng C2 giữa nguyên đơn Thị
Minh T và bị đơn ông Vũ Tuấn S hiệu.
1.2. Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số 000131, quyển số 01/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 26/01/2019 lập tại Văn phòng C2 giữa ông Tuấn S
Nguyễn Thị Kim C vô hiệu.
1.3. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3136, quyển số
08/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/8/2019 lập tại Văn phòng C4 giữa bà Nguyễn Th
Kim C và ông Văn D vô hiệu.
1.4. Tuyên hủy cập nhật biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên
cho ông Võ Văn D (theo hồ số: 005523.CN.002) ngày 29/8/2019 trên
GCNQSDĐ số AD 151032 cấp ngày 12/7/2005 thuộc thửa số 145, tờ bản đồ số 26
tọa lạc tại xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
1.5. Tuyên hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa vợ chồng Nguyễn
Thị Kim C, ông Võ Văn D với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T5 - Phòng G đối
với phần thế chấp quyền sử dụng đất theo GCNQSDĐ đất số AD 151032 cấp ngày
12/7/2005 thuộc thửa s145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại xã A, huyện P, tỉnh Bình
Dương.
1.6. Buộc Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T5 - Phòng G (nay là Phòng Giao
dịch Thành phố M) trả lại bản chính GCNQSDĐ số AD 151032 cấp ngày 12/7/2005
thuộc thửa số 145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại A, huyện P, tỉnh Bình Dương do
Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho bà Lê Thị Minh T.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn D đối với
bị đơn Thị Minh T về việc “kiện đòi tài sản, yêu cầu chấm dứt hành vi trái
pháp luật”.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn B về việc yêu cầu Thị
Minh T trả lại số tiền 240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng).
Buộc bà Lê Thị Minh T có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn B số tiền
240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của ông
B về việc không yêu cầu T trả lãi suất.
4. Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện P n cứ vào bản án của Tòa
án để giải quyết, xóa điều chỉnh đăng biến động đã đăng ký trong GCNQSDĐ,
quyền sở hữu nhà các tài sản khác gắn liền với đất số AD 151032 cấp ngày
10
12/7/2005 thuộc thửa s145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại A, huyện P, tỉnh Bình
Dương mang tên bà Lê Thị Minh T.
5. Giành quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết hậu quả của các hợp đồng ủy
quyền bị hiệu, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị hiệu hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất bị hủy cho các đương sự khởi kiện bằng một vụ
án khác khi có yêu cầu.
Ngoài ra bản án n quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm trả
và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Kim CNgân hàng TMCP Đ đơn
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. C yêu cầu hủy Bản án thẩm, Ngân hàng
TMCP Đ yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Thị Kim C người đại diện hợp pháp
của Ngân hàng TMCP Đ xác định đối với phần yêu cầu độc lập của ông Trần Văn
B thì bà C và Ngân hàng TMCP Đ không kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và thu
thập chứng cứ chưa đầy đủ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo
của Nguyễn Thị Kim C Ngân hàng TMCP Đ, hủy Bản án dân sự thẩm,
giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương
sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3, Văn phòng C5, Chi
nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện P, ông Tấn T2, Phạm Thị T3 đơn
yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Vũ Tuấn S; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Huỳnh Thị M, ông Nguyễn Quốc T4; người đại diện hợp pháp của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đ là bà Trần Thị Kiều O,
ông Trần Châu T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không códo. Do đó,
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định tại Điều
296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim C người đại diện hợp pháp của Ngân
hàng TMCP Đ xác định không kháng cáo đối với phần quyết định của bản án
thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn B, buộc bà Lê Thị Minh T trả lại
số tiền 240.000.000 đồng. Do đó, phần quyết định này của bản án thẩm đã
hiệu lực pháp luật. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm
11
chỉ xem xét, giải quyết các nội dung còn lại trong phạm vi kháng cáo của C
Ngân hàng TMCP Đ.
[3] Quyền sử dụng đất đang tranh chấp thửa số 145, tờ bản đồ số 26, diện
tích 2.692m
2
tại xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Thửa đất này đã được cập nhật
biến động sang tên ông Võ Văn D vào ngày 29/8/2019 và hiện đang được thế chấp
tại Ngân hàng TMCP Đ theo Hợp đồng thế chấp số 123/2020/9315896/HĐBĐ ngày
21/7/2020.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên hủy hợp đồng thế chấp nêu trên. Tuy nhiên, Tòa
án cấp sơ thẩm lại không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại
Điều 131 Bộ luật Dân sự mà tách ra để giải quyết bằng một vụ án khác. Việc tách
yêu cầu này là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, không đảm bảo hai cấp xét xử quy
định tại Điều 17 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Nguồn gốc quyền sử dụng đất trên ông D nhận chuyển nhượng từ
Thị Minh T (do Nguyễn Thị Kim C là người đại diện ủy quyền) theo Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 13/8/2019. C người được ông
Tuấn S ủy quyền theo Hợp đồng y quyền ngày 26/01/2019 và ông Tuấn S là
người được bà Lê Thị Minh T ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền ngày 25/01/2019.
[5] Bà T cho rằng ủy quyền của bà T cho ông S nhằm mục đích vay của ông
S số tiền 300.000.000 đồng nhưng ông S sử dụng ủy quyền trên để vay tiền của bà
C và ký hợp đồng ủy quyền cũng như hợp đồng đặt cọc cho bà C nên hợp đồng ủy
quyền của bà T cho ông S và ông S cho bà C là giả tạo che giấu cho việc vay tiền.
C trên sở ủy quyền cho ông D (chồng C) với giá 50.000.000 đồng trong
khi T chuyển nhượng cho ông B giá 01m ngang đã 45.000.000 đồng, đồng
thời, trên đất tài sản là nhà của T và bà M nên hợp đồng chuyển nhượng vô
hiệu. Do đó, T u cầu hủy các hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng
hợp đồng thế chấp nêu trên.
[6] Ông S cho rằng, hợp đồng ủy quyền của bà T để ông S đi vay tiền, ông
S đã vay tiền của C số tiền 200.000.000 đồng của C và giao lại T, số tiền
300.000.000 đồng T tại giấy cho vay tiền mặt ngày 20/12/2018 số tiền khác
nên bà T có nghĩa vụ trả lại cho bà C số tiền 200.000.000 đồng cùng lãi suất.
[7] C cho rằng không cho ông S vay, ông S chuyển nhượng đất cho
dưới hình thức ủy quyền, giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng và bà Cúc cung
C1 Hợp đồng đặt cc ngày 26/01/2019 để chứng minh.
[8] Xét, theo chứng cứ là “Giấy cam kết và nhận tiền” ngày 06/5/2019
Thị Minh T xuất trình thể hiện nội dung “hôm nay ngày 06/5/2019 tôi Tuấn S
có giao cho Lê Thị Minh T với số tiền 3 đợt là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu
đồng) v/v T y quyền toàn quyền cho ông Tuấn S đứng vay QSDĐ số
H03216/GCN HD:151032 ngày 12/7/2005, thửa 145, tờ bản đồ 26/ DT 2.692m
2
tôi nhận đủ số tiền trên nếu sai trái gì tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật” (bút
lục 56) và tại giấy cam kết trên tại mục người nhận tên ghi họ tên Lê Thị Minh
T, tại mục người giao tên ghi họ tên Tuấn S. Như vậy, n cứ vào giấy
cam kết trên, chng minh T ủy quyền cho ông S để đi vay tiền số tiền vay
12
200.000.000 đồng, không phải T để che giấu cho khoản vay 300.000.000 đồng
theo giấy vay mượn tiền mặt ngày 20/12/2018 việc vay mượn này diễn ra trước
khi ký ủy quyền.
[9] Đối chiếu với chứng cứ trên với chứng cứ do bà C xuất trình là Hợp đồng
đặt cọc mua bán đất ngày 26/01/2019 (cùng ngày ông S ký hợp đồng ủy quyền cho
C). Theo nội dung hợp đồng đặt cọc, ông S đồng ý bán cho C thửa 145 với
giá 200.000.000 đồng, phương thức thanh toán thành 03 đợt: lần 1 ngày 26/01/2019
đặt cọc 120.000.000 đồng, thanh toán lần 2 ngày 18/02/2019 số tiền 30.000.000
đồng, giao 50.000.000 đồng vào ngày 06/5/2019. Như vậy, chứng cứ này phù
hợp với “Giấy cam kết nhận tiền” ngày 06/5/2019 về việc ông S giao tiền vay
cho T. Đồng thời, theo Biên bản hòa giải ngày 28/7/2020 (bút lục 257-262),
C đã thừa nhận việc hợp đồng đặt cọc ủy quyền nhằm mục đích cho vay
tiền. Như vậy, căn cứ xác định hợp đồng đặt cc hợp đồng y quyền là giả tạo
nhằm che giấu cho giao dịch vay tiền.
Tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch
dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân
sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp
giao dịch đó cũng hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác liên
quan”. Theo quy định trên, hợp đồng ủy quyền bị vô hiệu nhưng hợp đồng vay vẫn
hiệu lực. Việc Tòa án cấp thẩm tách giao dịch vay mượn để giải quyết bằng
một vụ án khác là không đúng. Nếu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết vấn
đề này sẽ không đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử theo quy định tại Điều 17 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[10] Đồng thời, trong hồ sơ có Văn bản thỏa thuận ngày 16/8/2022, giữa T,
C ông D. Theo nội dung thỏa thuận, các bên căn cứ vào Biên bản hòa giải
ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo. Tại văn bản này, C và ông
D đã đồng ý cho bà T quyền sử dụng một phần đất có chiều ngang 17m, chiều dài
hết đất, thuộc thửa số 145, tờ bản đồ số 26, xã A. Các bên cũng thỏa thuận về việc
rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngân hàng và thực hiện thủ tục tặng cho,
sang tên phần đất này (bao gồm 100m² đất ở) cho bà T, cụ thể:
Do bà Tông S xảy ra tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng phần đất
trên, không tự thỏa thuận được nên T đã khởi kiện ông S đến Tòa án nhân dân
huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương để giải quyết.
Tại buổi hòa giải ngày 03/8/2022 tại Tòa án nhân dân huyện PGiáo, tỉnh
Bình Dương. Bà Nguyễn Thị Kim C đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của
ông Văn D với Thị Minh T đã thương lượng thống nhất với nhau nội
dung sau:
Nguyễn Thị Kim C đồng thời là Người đại diện theo ủy quyền của ông
Văn D cho Thị Minh T quyền sử dụng đất một phần đất diện tích chiều
ngang 17m và chiều dài hết đất nằm trong phần đất diện tích 2692m² thuộc
thửa đất số 145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại: ấp C, A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Đất do UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/7/2005
13
đứng tên bà Lê Thị Minh T. Số phát hành AD151032, số vào sổ cấp GCN: H03216.
Đã đăng ký biến động chuyển quyền đứng tên ông Võ Văn D.
Nội dung thỏa thuận:
Thứ nhất: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 16/08/2022, Nguyễn Thị Kim
C ông Võ Văn D tiến hành liên hệ với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T5, phòng
G (gọi tắt Ngân hàng B2). Địa chỉ: T đất số 104, tờ bản đồ số 11, đường Đ,
phường P, thị T, tỉnh Bình Dương, để thực hiện thủ tục rút Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa số 145, tờ bản đồ số 26;
Thứ hai: Ngay khi C và ông D nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất (Bản chính), trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày bà C và ông D nhận được Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản chính), C ông D phải thực hiện thủ tục
tặng cho, đăng ký biến động sang tên Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
+ 100m² đất thổ cư, đối với phần đất diện tích chiều ngang 17m chiều
dài hết đất (trong đó 100m² đất thổ cư); nằm trong phần đất diện tích
2692m² thuộc thửa đất số 145, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại: ấp C, A, huyện P,
tỉnh Bình Dương cho bà Lê Thị Minh T.
Tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 4 do bà T xây dựng.
Vị trí phần đất cho bà T được xác định kèm theo Sơ đồ phác họa của Văn bản
thỏa thuận này.
Các thỏa thuận khác: Hai bên cam kết kể từ ngày ký vào biên bản thỏa thuận
này, những người thỏa thuận thực hiện đúng công việc, nghĩa vụ của mình theo nội
dung của thỏa thuận này. Văn bản thỏa thuận này chúng tôi tự nguyện thống
nhất thực hiện trên tinh thần tự nguyện thỏa thuận, bình đẳng, không bị ai ép buộc,
trong trạng thái tinh thần hoàn toàn minh mẫn, chúng tôi đủ năng lực hành vi
dân sự cùng thống nhất ký vào văn bản này”.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ án đã không đánh giá chứng
cứ này, cũng như không thu thập Biên bản hòa giải ngày 03/8/2022 để làm rõ ý chí
sự tự nguyện của các bên. Tòa án cấp sơ thẩm cần làm do dẫn đến thỏa
thuận, xác định phần đất 17m ngang tổng diện tích bao nhiêu giá trị tương ứng
của phần đất 17m ngang tại thời điểm đó. Để có sở đánh giá thỏa thuận này
thay thế cho các giao dịch trước đó hay không, từ đó mới xác định được hiệu lực
của hợp đồng chuyển nhượng của ông D cũng như xem xét giải quyết yêu cầu khởi
kiện của ông D đối với bà T.
[11] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp thẩm thu thập chứng cứ
chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân svà vi phạm
nghiêm trọng về thủ tục tố tụng nên Tòa án cấp phúc thẩm hủy một phần bản án
thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của T, yêu cầu khởi kiện của ông D. Do đó, kháng
cáo của Nguyễn Thị Kim CNgân hàng TMCP Đ là có căn cứ chấp nhận một
phần.
[12] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại
phiên tòa là phù hợp.
14
[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu theo quy
định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, Điều 296, khoản 3 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường v
Quc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim CNgân hàng TMCP Đ.
2. Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 26 tháng 02
năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình ơng (nay Tòa án
nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh).
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 19 Thành phố Hồ Chí Minh
giải quyết lại theo thủ tục chung.
3. Một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh) đã có hiệu lực pháp luật, như sau:
3.1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn B vviệc yêu cầu bà Lê Thị
Minh T trả lại số tiền 240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng).
Buộc bà Lê Thị Minh T có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn B số tiền
240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của ông
Trần Văn B về việc không yêu cầu bà Lê Thị Minh T trả lãi suất.
Kể tngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải
thi hành án chưa thi hành xong số tiền thì hàng tháng người phải thi hành án n
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân snăm 2015 tương ứng với số tiền thời gian chậm
thi hành án.
3.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Thị Minh T phải chịu số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu
đồng).
Hoàn trả cho ông Trần Văn B số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) tạm ứng
án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí a án số 0005545 ngày
24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay
là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Trả lại cho Nguyễn Thị Kim C số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số
15
0006883 ngày 12/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân shuyện Phú Giáo, tỉnh Bình
Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh).
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số
0006879 ngày 10/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân shuyện Phú Giáo, tỉnh Bình
Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 19 – Thành phố
Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (23), 72.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Mộng Tuyết
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1233/2025/DS-PT Bản án số 1233/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1233/2025/DS-PT Bản án số 1233/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất