Bản án số 592/2026/DS-PT ngày 14/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 592/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 592/2026/DS-PT ngày 14/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 592/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa 1 phần bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 592/2026/DS-PT Bản án số 592/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 592/2026/DS-PT Bản án số 592/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 592/2026/DS-PT
Ngày: 14/7/2026
V/v tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất; huỷ hợp đồng cho mượn
quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời nhà, tài
sản trả lại đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Th
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Huy
Ông Võ Ngọc Giàu
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Dương Thị Vy - Thư Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét
xử phúc thẩm công khai ván thụ số: 901/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 12
năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; huỷ
hợp đồng cho mượn quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời nhà, tài sản trả lại đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 112/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực Y Đồng Tháp bị kháng cáo Kháng nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực Y Đồng Tháp.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2026/QĐ-PT ngày
10/02/2026; Thông báo về việc mlại phiên tdân sự phúc thẩm số 449/TB-
TA ngày 01 tháng 6 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà: 884/2026/QĐ-PT,
ngày 17 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phùng Văn N, sinh năm 1953.
Địa chỉ: Ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp E, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn:
1. Ông Phan Văn L, sinh năm 1968.
2. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
2
Người đại diện theo uỷ quyền của Trần Thị T1: Ông Bùi Văn P, sinh
năm: 1961;
Địa chỉ: Số A, ấp B, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Huỳnh Thị T2, sinh năm 1950;
2. Ông Nguyễn Văn Toản A, sinh năm 1974.
Ông Toản A ủy quyền cho bà Huỳnh Thị T2.
Địa chỉ: Ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3. Ông Phan Văn C, sinh năm 1984 (con ông L);
4. Bà Phan Thị Bích H, sinh năm 1985 (con ông L);
5. Ông Phan Thái Q, sinh năm 1987 (con ông L);
6. Bà Phan Thị Bích N1, sinh năm 1988 (con ông L);
Địa chỉ: Ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
7. Ông Trần Văn N2, sinh năm 1971 (con bà B1);
Địa chỉ: Ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi ở hiện tại: Ấp N, xã A, tỉnh Đồng Tháp.
8. Ông Trần Văn C1, sinh năm 1974 (con bà B1);
9. Ông Trần Văn T3, sinh năm 1979 (con bà B1);
10. Ông Tạ Văn N3, sinh năm 1975 (chồng bà T1);
11. Ông Tạ Văn Ở, sinh năm 2006 (con bà T1);
Địa chỉ: Ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
12. Bà Phan Thị Bích N1, sinh năm 1973 (vợ ông N5, con bà B1);
13. Ông Trần Bình M, sinh năm 1998 (con ông N5);
14. Ông Trần Minh T4, sinh năm 2006 (con ông N5);
Cùng địa chỉ: Ấp N, xã A, tỉnh Đồng Tháp.
15. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1968 (con bà B1);
Địa chỉ: Số G H, khóm B, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. (nay
phường L, tỉnh Tây Ninh)
16. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1969 (con bà B1);
Địa chỉ: Ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
17. Bà Trần Thị T5, sinh năm 1984 (con bà B1).
Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo của: Nguyên đơn Phùng Văn N; Bị đơn bà Trần Thị T1;
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N2 Kháng nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực Y - Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm:
3
- Đại diện của nguyên đơn ông Phùng Văn N ông Nguyễn Phước T trình
bày: Vào năm 2020, ông Phùng Văn N thỏa thuận nhận chuyển nhượng của
vợ chồng ông P1 đất thổ diện tích 300m
2
thuộc thửa 244, tbản đồ
số 3 do vợ chồng ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
giá chuyển nhượng 400.000.000đ. Bên ông N đã trả đủ tiền sang nhượng đất
cho vợ chồng ông X. Thời điểm chuyển nhượng đất, vợ ông B bệnh nặng
nên không đến Ủy ban nhân dân xã để làm thủ tục sang tên được, nên hai bên
làm giấy tay sang nhượng đất với nhau và có nhờ Ban nhân dân ấp xác nhận. Do
bệnh nặng nên vợ ông L hiện nay đã chết. Do phần đất vợ chồng ông L sang
nhượng cho ông N trước đây ông C2 cho bên B1 (mẹ của bà T1, ông
N2) mượn cất nhà ở, hiện nayB1 đã chết.
Nay ông N yêu cầu ông L và các con của ông P2 làm thủ tục sang tên
phần đất đã chuyển nhượng cho ông N theo quy định; yêu cầu bên T1 phải di
dời căn nhà của bà T1 cất trên thửa đất trên để giao trả đất cho ông N quản lý
sử dụng và yêu cầu ông N2 các con B1 di dời căn nhà của B1 để giao
trả đất cho ông N quản lý và sử dụng.
- Bị đơn ông Phan Văn L trình bày: Thừa nhận vào năm 2020, vchồng
ông thỏa thuận chuyển nhượng cho ông N phần đất thổ diện tích
300m
2
thuộc thửa 244, tờ bản đồ s3 do vợ chồng ông đứng tên Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, giá chuyển nợng 400.000.000đ. Bên ông N đã trả
đủ tiền sang nhượng đất cho vợ chồng ông xong. Do thời điểm chuyển nhượng
đất, vợ ông bị bệnh nặng nên không đến Ủy ban nhân dân xã để làm thủ tục sang
tên được, nên hai bên làm giấy tay sang nhượng đất với nhau nhờ Ban
nhân dân ấp xác nhận.
Phần đất ông chuyển N4 cho ông N trước đây vào năm 2012 ông C2
thỏa thuận cho B1 ông N2 (con B1) mượn để cất nhà ở, thời hạn mượn
15 năm, kể từ năm 2012 (có xác nhận của UBND P), nhưng hiện nay
B1 đã chết, ông N2 đang sinh sống bên vợ A, căn nhà của B1 cất trên
phần đất mượn của ông hiện nay không ai ở.
Nay ông N yêu cầu ông L các con ông L1 thủ tục sang tên phần đất
đã chuyển nhượng cho ông N theo quy định, ông L đồng ý.
Đối với yêu cầu bên T1 di dời căn nhà của T1 cất trên thửa đất trên,
để giao trả đất cho ông N quản sử dụng, ông L không ý kiến, phần
đất trên là của ông N.
Ông yêu cầu hủy giấy cho mượn đất ngày 28/5/2012 giữa ông V B1
với ông N2 đối với thửa đất số 244, tờ bản đồ số 3 ông đã sang nhượng cho
ông N. Yêu cầu ông N2 các con B1 di dời căn nhà của B1, để giao trả
đất cho ông N quản lý và sử dụng, ông L không có ý kiến, vì phần đất trên là của
ông N.
- Bị đơn Trần Thị T1 trình bày: Phần đất tranh chấp hiện nay nguồn
gốc của cha, mẹ bà (bà B1 ông M2) được Nhà nước cấp chiều ngang 20
mét, chiều dài 25 mét. Đến năm 1995, t B1 được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, thuộc thửa 913, tờ bản đồ số 3, diện tích 150m
2
. Năm 2006,
4
thì bà vcất nhà trên phần đất trên. Năm 2019, bà B1 lập thủ tục tặng cho
phần đất trên lại cho T1 và T1 được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Do phần đất T1 đang cất nhà hiện nay của cha, mẹ cho lại
đã được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sdụng đất nên T1 không
đồng ý di dời nhà trả đất theo yêu cầu của ông N.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N2 trình bày: Thừa
nhận vào năm 2012 ông B1 (mẹ ông) thỏa thuận mượn của ông M1
phần đất để cất nhà ở, khi mượn đất thì làm giấy với nhau, ông mẹ ông
tên vào giấy mượn đất trên (giấy ngày 28/5/2012). Tuy nhiên, sau khi thỏa
thuận mượn đất thì gia đình ông không có sử dụng phần đất trên, do ông T6 (con
T3) tranh chấp không cho ông cất nhà ở.
Nay ông N yêu cầu ông N2 cùng các anh, chị em ông di dời nhà của B1
(mẹ ông) để giao trả đất lại cho ông N, ông cũng đồng ý nhưng yêu cầu ông N
ông P2 giao cho ông một nền nhà khác để các em ông chỗ hoặc đề
nghị chính quyền cấp cho các em ông một nền nhà kc để có chỗ ở.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Đ, Trần Thị H1,
ông Trần Văn C1 ông Trần Văn T3 trình bày: Các ông, con của
Nguyễn Thị B1 và ông Trần Văn M2. Năm 1978-1979 cha, mẹ chúng tôi việt
kiều Campuchia về nước sinh sống, được Nhà nước cấp đất để cất nhà ở. Sau
khi được cấp đất gì, cha mẹ chúng tôi cất nhà ổn định cho đến nay. Từ trước
đến nay chúng tôi không nghe cha, mẹ chúng tôi nói mượn đất của ông L.
Nay chúng tôi khẳng định phần đất tranh chấp của cha, mẹ chúng tôi nên
chúng tôi không đồng ý di dời nhà, tài sản trả đất theo yêu cầu của ông N và ông
L.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tạ Văn N3 ông Tạ Văn
trình bày: Thống nhất theo ý kiến trình bày của T1; ông N3 ông không
có ý kiến gì thêm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Bích N1, ông Trần
Bình M ông Trần Minh T4 trình bày: Chúng tôi vợ con của ông Trần
Văn N5 (con B1), phần đất tranh chấp giữa ông N, ông V bên T1,
chúng tôi không ý kiến, không tranh chấp, phần đất trên không liên quan
đến chúng tôi.
* Tại bản án dân sthẩm số: 112/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực Y Đồng Tháp đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn N đối với ông Phan
Văn L, ông Phan Văn C, Phan Thị Bích H, ông Phan Thái Q Phan Thị
Bích N1 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 18/9/2020 giữa ông Phùng
Văn N với bên ông Phan Văn L đối với thửa đất số 244, tờ bản đồ số 3, diện tích
300m
2
(đo đạc thực tế 290,2m
2
), mục đích sử dụng đất: Đất tại nông thôn,
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05256 cấp ngày 20/8/2019 do
hộ ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
5
Buộc hộ ông Phan Văn L gồm: Ông Phan Văn L, ông Phan Văn C, bà Phan
Thị ch H, ông Phan Thái Q Phan Thị Bích N1 trách nhiệm sang tên
cho ông Phùng Văn N thửa đất số 244, tờ bản đsố 3 (bản đồ chính quy thửa
99, tờ bản đồ số 4), diện tích là 300m
2
(đo đạc thực tế 290,2m
2
) gồm các mốc số
1,2,5,6,7 về mốc 1, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05256 cấp
ngày 20/8/2019 do hộ ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Văn L đối với ông Trần Văn
N2 về việc hủy giấy cho mượn đất ngày 28/5/2012 giữa ông Phan Văn L với
Nguyễn Thị B1 (mẹ ông N2) và ông Trần Văn N2.
Hủy giấy cho mượn đất ngày 28/5/2012 giữa ông Phan Văn L với
Nguyễn Thị B1 (mẹ ông N2) ông Trần Văn N2 đối với thửa đất số 244, tờ
bản đồ số 3, do hộ ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn N đối với
Trần Thị T1 và ông Tạ Văn N3.
Giữ y phần đất (có căn nhà của bà T1) có diện tích là 87m
2
gồm các mốc số
1,2,B,A về 1 cho bà Trần Thị T1ông Tạ Văn N3 tiếp tục sử dụng.
Buộc Trần Thị T1 ông Tạ Văn N3 (chồng T1) trách nhiệm trả
lại giá trị đất cho ông N diện tích là 87m
2
với số tiền là 52.200.000đ (Năm mươi
hai triệu hai trăm nghìn đồng).
4. Buộc ông Phùng Văn N trách nhiệm sang tên lại cho Trần Thị T1
ông Tạ Văn N3 diện tích 87m
2
gồm các mốc số 1,2,B,A về 1 thuộc một phần
thửa đất số 244, tờ bản đồ số 3 (bản đồ chính quy thửa 99, tờ bản đồ số 4),
diện tích là 300m
2
(đo đạc thực tế 290,2m
2
), mục đích sử dụng đất: Đất nông
thôn, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05256 cấp ngày
20/8/2019 do hộ ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sdụng đất
(sau khi ông L thực hiện sang tên cho ông N xong).
5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn N đối với Trần Thị
T1, ông Trần Văn N2, ông Trần Văn C1, ông Trần Văn T3, Trần Thị Đ,
Trần Thị H1 Trần Thị Thao .
Buộc Trần Thị T1, ông Trần Văn N2, ông Trần Văn C1, ông Trần Văn
T3, Trần Thị Đ, Trần Thị H1 và bà Trần Thị T5 có trách nhiệm di dời một
phần căn nhà của B1 diện tích 40,8m
2
gồm các mốc số D,C,8,E về D, các
cây trồng và các tài sản khác có trên đất để giao trả cho ông N diện tích 203,2m
2
gồm các mốc số A,B,8,5,6,7 vA thuộc một phần thửa đất số 244, tờ bản đồ số
3 (bản đồ chính quy là thửa 99, tờ bản đồ số 4).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm trả, án
phí và quyền kháng cáo theo quy định.
- Ngày 13/10/2025, nguyên đơn ông Phùng Văn N đơn kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực Y Đồng Tháp. Yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông N.
6
- Ngày 15/10/2025, bị đơn bà Trần Thị T1; Người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan ông Trần Văn N2 đơn kháng cáo bản án thẩm của Tòa án nhân
dân khu vực Y Đồng Tháp. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm
theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N về việc buộc gia đình
T1 trả giá trị diện tích đất 87m
2
và không buộc các anh em của ông N2 di dời
nhà trả đất cho ông N. Yêu cầu được giữ nguyên hiện trạng căn nhà cho anh em
ông được tiếp tục sử dụng.
- Ngày 15/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực Y - Đồng
Tháp Quyết định kháng nghị số: 02/QĐ-VKS-DS kháng nghị bản án thẩm
số: 112/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực Y
Đồng Tháp theo hướng Huỷ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông N trình bày: Ông N giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Trần Thị T1 trình bày: T1 giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N2 giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo.
Các bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tại phiên tòa phát biểu ý
kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư và những người tham gia tố tụng tkhi
thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng
các quy định của Bộ luật T tụng dân sự.
Nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát ginguyên nội dung kháng nghị
số: 02/QĐ-VKS-DS ngày 15/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
khu vực Y - Đồng Tháp; Đồng thời phân tích các vi phạm ttụng của bản án sơ
thẩm như nội dung kháng nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực Y -
Đồng Tháp. Việc Tòa án cấp thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ gây ảnh
hưởng đến quyền lợi của bà Trần Thị T1, ông Tạ Văn N3. Đồng thời, áp dụng án
phí giá ngạch trên diện tích 203,2m
2
thuộc 1 phần thửa 244 (nay thửa 99)
vi phạm quy định theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí gây
ảnh hưởng quyền lợi của Trần Thị T1, ông Trần Văn N2, ông Trần Văn C1,
ông Trần Văn T3, Trần Thị Đ, bà Trần Thị H1 và bà Trần Thị Thao .
Các vi phạm trên Toà án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên đề
nghị huỷ bản án thẩm chuyển hồ vụ án cho Toà án cấp thẩm giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Hội đồng
xét xử nhận định:
7
[1] Về tố tụng: ông Phùng Văn N, Trần Thị T1, ông Trần Văn N2 nộp
đơn kháng cáo thực hiện các thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu
vực Y - Đồng Tháp trong hạn luật định nên xem xét giải quyết theo thủ tục
phúc thẩm.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ
hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án.
[2] Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, qua xem xét tài liệu chứng
cứ, Hội đồng xét xử xét thấy:
- T1 ông N2 (anh ruột T1) đều xác định phần đất tranh chấp hiện
T1 đang cất nhà ở và phần căn nhà của bà B1 cất, nguồn gốc của B1
(mẹ T1 ông N2) được Nhà nước cấp, chiều ngang 20 mét, chiều dài 25
mét. Năm 1995, B1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa
913, tờ bản đồ số 3, diện tích 150m
2
. Năm 2019, bà B1 tặng cho thửa đất trên lại
cho bà T1, nên bà T1 không đồng ý trả đất theo yêu cầu của ông N. Xét thấy, lời
trình bày của ông N2 và bà T1 là không có căn cứ chấp nhận. Bởi vì; theo các tài
liệu, chứng cứ thập chứng cứ thu thập được thể hiện: Trước đây nhà của mẹ
(bà B1) được cất cập kênh Da. Năm 2012, Nhà nước chủ trương lên
đê bao khép kín, làm đường lớn hơn để canh tác lúa 3 vụ, nên yêu cầu B1
di dời nhà ra phía sau để Nhà nước làm đường do đó bà B1 đã di dời nhà ra phía
sau (nhà hiện nay). Theo T1 trình bày, phần đất B1 được cấp chiều ngang
20 mét, chiều dài 25 mét (500m
2
) nhưng năm 1995, B1 được Ủy ban nhân
dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (lần đầu) thuộc thửa 913,
tờ bản đồ 3, diện tích 150m
2
. Từ khi B1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho đến nay, bên bà B1 không ai ý kiến hay tranh chấp đối với
diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất nêu trên. Như vậy,
căn cứ xác định phần đất bà B1 được cấp với diện tích là 150m
2
, chứ không phải
500m
2
như T1 và ông N2 trình bày. Mặt khác, tại văn bản số 608/UBND-NC
ngày 21/3/2025 của Ủy ban nhân dân huyện T cung cấp thông tin liên quan đến
thửa đất tranh chấp thể hiện: Ngày 10/9/2001, Ủy ban nhân dân huyện T cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (lần đầu) số 01817QSDĐ/404/H đối với
thửa đất số 244, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m
2
, cho hộ ông Phan Văn L được
thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại văn bản số
254/CNVPĐKĐĐHTN ngày 06/3/2025 thể hiện: phần đất tranh chấp giữa ông
N, ông L, T1 bên B1 hiện nay thuộc thửa 244, tờ bản đồ số 3, diện tích
300m
2
do hộ ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông L trình bày: Năm 2012, khi Nhà nước nâng cấp đê bao khép kín, mở rộng
đường thì B1 không còn đất cất nhà , nên bà B1 ông N2 mới thỏa thuận
mượn phần đất của ông để cất nhà (giấy mượn đất ngày 28/5/2012 giữa ông
V B1 và ông N2, chứng thực của Ủy ban nhân dân P) tại phiên
tòa sơ thẩm, ông N2 thừa nhận vào năm 2012, ông mẹ ông (bà B1) thỏa
thuận tên ợn phần đất trên. Việc này cũng phù hợp với nội dung của
Công văn số 1091/CNVPĐKĐĐKVXX-KTĐC, ngày 25/5/2026 của Chi nhánh
8
Văn phòng đăng đất đai khu vực XX thể hiện: Qua đối chiếu hiện trạng với
bản đồ 299 thửa đất số 913 thuộc lộ nông thôn do mở rộng lộ; Thửa đất số 913
thửa đất số 244 cùng tờ bản đồ số 3 không trùng vị trí. Như vậy, căn cứ
xác định phần đất tranh chấp là của ông L, nên không sở để chấp nhận lời
trình bày của bà T1 và ông N2.
- Đối với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông N với
vợ chồng ông L. Xét thấy, ngày 18/9/2020, ông N vchồng ông thỏa T7
nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 300m
2
, mục đích sử dụng đất: Đất
nông thôn, thuộc thửa đất số 244, tbản đồ số 3, do hộ ông Phan văn L đứng
tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với số tiền là 400.000.000đ (có giấy tay
chuyển nhượng đất với nhau, xác nhận của Ban nhân dân ấp). Sau khi thỏa
thuận chuyển nhượng, ông N đã giao đủ tiền chuyển nhượng cho vợ chồng ông
N6 chưa lập thủ tục sang tên theo quy định. Ông L trình bày: Do thời điểm
chuyển nhượng đất vợ ông bị bệnh nặng, ông chuyển nhượng đất để lấy tiền trị
bệnh cho vợ ông nên chưa làm thủ tục sang tên được, hiện nay ông L cũng thống
nhất sang tên thửa đất nêu trên cho ông N theo quy định.
Về hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và
vợ chồng ông C2 giao kết hợp đồng với nhau bằng văn bản, nhưng không
được công chứng, chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp thẩm quyền vi
phạm về nh thức hợp đồng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 129 Bộ
luật Dân sự quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi
phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã
thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một
bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng
thực”. Như vậy, sau khi thỏa thuận chuyển nhượng xong, ông N đã thực hiện
đúng nghĩa vụ của hợp đồng (giao đủ tiền sang nhượng) và bên ông Lê C3 thống
nhất sang tên, nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N
bên ông Lê K bị vô hiệu về hình thức. Do đó, ông N yêu cầu hộ ông C2 trách
nhiệm sang tên thửa đất đã chuyển nhượng cho ông N là có căn cứ chấp nhận.
- Đối với yêu cầu của ông N yêu cầu bên T1 di dời nhà trả đất cho ông
N. Xét thấy, căn nhà của T1 cất trên phạm vi đất của ông chuyển N4 cho
ông N. Tuy nhiên, phần căn nhà bà T1 xây cất trên phần đất tranh chấp là nhà bê
tông, nên việc di dời sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến công năng sử dụng của căn
nhà. Mặt khác, qua thu thập chứng cứ, hiện nay ngoài căn nhà trên, vợ chồng bà
T1 không còn phần đất nào khác nên buộc vợ chồng bà T1 có trách nhiệm trả lại
giá trị đất, giữ y căn nhà cho vợ chồng T1 là phù hợp đúng quy định.
Qua xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện: phần đất T1 cất nhà chiều
ngang 5,8 mét, chiều dài 15,01 mét. Tổng diện tích 87m
2
theo Quyết định
số 29/2024/QĐ-UBND ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Đ, quy định điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất diện tích đất tối thiểu được
tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp thì đủ điều kiện tách
thửa theo quy định.
9
Căn cứ vào biên bản định giá ngày 20/3/2025: Phần đất tranh chấp thuộc
thửa 244, tờ bản đồ 3, mục đích sử dụng đất: Đất ở nông thôn có g
600.000đ/m
2
, nên căn cứ vào giá này để buộc vchồng T1 trả giá trị đất cho
ông N là phù hợp và đúng theo quy định.
- Đối với yêu cầu của ông L, yêu cầu hủy giấy cho mượn đất cất nhà
ngày 28/5/2012 giữa ông Lê V B1 (mẹ ông N2), qua thu thập chứng cứ và tại
phiên tòa, ông Lê C2 cung cấp một Giấy mượn đất cất nhà ở tạm. Theo nội dung
Giấy mượn đất thể hiện: B1 ông N2 mượn của ông M1 phần đất chiều
ngang 10 mét, chiều dài 20 mét thuộc thửa 244 và 998, tờ bản đồ số 3 để cất nhà
ở. Thời hạn mượn 15 năm, kể từ năm 2012. Tuy thời hạn cho mượn đất cất
nhà chưa hết hạn, nhưng hiện nay bà B1 đã chết, ông N2 hiện nay sinh sống
A, không còn mượn đất cất nhà trên phần đất theo giấy mượn, căn nhà cất
bằng gỗ tạp của B1 hiện nay không ai ở. Tại phiên tòa thẩm, ông N2 cũng
thống nhất đối với yêu cầu hủy Giấy cho mượn đất giữa các bên. Do đó, yêu cầu
hủy Giấy cho mượn đất cất nhà tạm ngày 28/5/2012 giữa ông với B1
(mẹ ông N2) ông N2, buộc các con bà B1 di dời nhà trả lại đất căn cứ
chấp nhận.
- Đối với phần căn nhà của T1 B1 cất trên thửa đất s998, tờ bản
đồ số 3, do hộ ông đứng T8 Giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Hiện nay
ông L đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông T9, ông T9 không ý kiến hay
tranh chấp đối với phần đất trên trong vụ án này nên không xem xét giải
quyết. Nếu sau này ông T9 tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ
kiện khác.
Từ những phân tích trên xét thấy về nội dung bản án dân sự thẩm số:
112/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực Y
Đồng Tháp là có căn cứ.
[3] Toà án cấp thẩm buộc: Trần Thị T1, ông Trần Văn N2, ông Trần
Văn C1, ông Trần Văn T3, Trần Thị Đ, Trần Thị H1 Trần Thị T5
phải chịu 6.396.000đ tiền án phí dân sự thẩm chưa phù hợp như Kháng
nghị của Viện kiểm sát đã nêu. Nên chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát sửa
bản án thẩm về án phí sơ thẩm theo hướng buộc các đương sự nêu trên chịu
án phí theo mức không có giá ngạch;
Những vi phạm của cấp thẩm theo kháng nghị của Viện kiểm sát đã nêu
Toà án cấp phúc thẩm khắc phục được nên không cần thiết phải huỷ bản án
thẩm.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là phù
hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử như đã phân tích trên nên
chấp nhận một phần.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông N, bà T1, ông N2 chấp nhận một phần kháng nghị số: 02/QĐ-VKS-DS
ngày 15/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực Y - Đồng Tháp;
Sửa một phần bản án dân sự thẩm số: 112/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực Y Đồng Tháp.
10
- Đối với việc ông N2 khai nại cho rằng Thẩm phán chủ toạ phiên toà
thẩm mối quan hệ với phía ông N là nguyên đơn trong vụ án nên việc giải
quyết không đảm bảo khách quan. Xét thấy, trong quá trình Toà án cấp thẩm
giải quyết vụ án không đương sự nào khiếu nại mối quan hệ giữa Thẩm
phán chủ toạ phiên toà thẩm với ông N như trình bày của ông N2 thì không
thuộc trường hợp người tiến hành tố tụng phải từ chối hoặc bị thay thế theo quy
định.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên
Trần Thị T1, ông Trần Văn N2 phải chịu án pphúc thẩm. Ông Phùng Văn
N được miễn toàn bộ tiền án phí do là người cao tuổi.
[6] Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148; Điều 157, Điều 158; khoản 2 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 129, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều
26 Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024; khoản 2 và khoản 9 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 217 Bộ
luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định vmức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông N, ông N2, bà T1 chấp
nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực Y -
Đồng Tháp.
Sửa một phần bản án dân sthẩm số: 112/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực Y Đồng Tháp.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn N đối với ông Phan
Văn L, ông Phan Văn C, Phan Thị Bích H, ông Phan Thái Q Phan Thị
Bích N1 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 18/9/2020 giữa ông Phùng
Văn N với bên ông Phan Văn L đối với thửa đất số 244, tờ bản đồ số 3, diện tích
300m
2
(đo đạc thực tế 290,2m
2
), mục đích sử dụng đất: Đất tại nông thôn,
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05256 cấp ngày 20/8/2019 do
hộ ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc hộ ông Phan Văn L gồm: Ông Phan Văn L, ông Phan Văn C, bà Phan
Thị Bích H, ông Phan Thái Q Phan Thị Bích N1 trách nhiệm sang tên
cho ông Phùng Văn N thửa đất số 244, tờ bản đsố 3 (bản đồ chính quy thửa
99, tờ bản đồ số 4), diện tích là 300m
2
(đo đạc thực tế 290,2m
2
) gồm các mốc số
1, 2, 5, 6, 7 về mốc 1, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05256
11
cấp ngày 20/8/2019 do hộ ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Văn L đối với ông Trần Văn
N2 về việc hủy giấy cho mượn đất ngày 28/5/2012 giữa ông Phan Văn L với
Nguyễn Thị B1 (mẹ ông N2) và ông Trần Văn N2.
Hủy giấy cho ợn đất ngày 28/5/2012 giữa ông Phan Văn L với
Nguyễn Thị B1 (mẹ ông N2) ông Trần Văn N2 đối với thửa đất số 244, tờ
bản đồ số 3, do hộ ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn N đối với
Trần Thị T1 và ông Tạ Văn N3.
Trần Thị T1 ông Tạ Văn N3 tiếp tục sử dụng phần đất (có căn nhà
của bà T1) có diện tích là 87m
2
gồm các mốc số 1, 2, B, A về 1.
Buộc Trần Thị T1 ông Tạ Văn N3 (chồng T1) trách nhiệm trả
lại giá trị đất cho ông N diện tích là 87m
2
với số tiền là 52.200.000đ (Năm mươi
hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự năm 2015.
4. Buộc ông Phùng Văn N trách nhiệm sang tên lại cho Trần Thị T1
ông Tạ Văn N3 diện tích 87m
2
gồm các mốc số 1, 2, B, A về 1 thuộc một
phần thửa đất số 244, tờ bản đồ số 3 (bản đồ chính quy thửa 99, tờ bản đồ số
4), diện tích 300m
2
(đo đạc thực tế 290,2m
2
), mục đích sử dụng đất: Đất
nông thôn, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05256 cấp ngày
20/8/2019 do hộ ông Phan Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sdụng đất
(sau khi ông L thực hiện sang tên cho ông N xong).
5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn N đối với Trần Thị
T1, ông Trần Văn N2, ông Trần Văn C1, ông Trần Văn T3, Trần Thị Đ,
Trần Thị H1 và bà Trần Thị Thao .
Buộc Trần Thị T1, ông Trần Văn N2, ông Trần Văn C1, ông Trần Văn
T3, Trần Thị Đ, Trần Thị H1 và bà Trần Thị T5 có trách nhiệm di dời một
phần căn nhà của B1 diện tích 40,8m
2
gồm các mốc số D,C,8,E về D, các
cây trồng và các tài sản khác có trên đất để giao trả cho ông N diện tích 203,2m
2
gồm các mốc số A,B,8,5,6,7 vA thuộc một phần thửa đất số 244, tờ bản đồ số
3 (bản đồ chính quy là thửa 99, tờ bản đồ số 4).
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án sơ đđo đạc của
Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện T (nay là Chi nhánh văn phòng
Đ1).
6. Về chi phí ttụng: Ông N tnguyện chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ và định giá là 6.884.710đ (đã nộp xong).
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
12
Trần Thị T1 và ông Tạ Văn N3 phải chịu 2.610.000đ (Hai triệu sáu trăm
mười nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm;
Trần Thị T1, ông Trần Văn N2, ông Trần Văn C1, ông Trần Văn T3, bà
Trần Thị Đ, Trần Thị H1 Trần Thị T5 phải chịu 300.000đ (ba trăm
nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm;
Ông Phùng Văn N được miễn toàn bộ tiền án phí theo quy định (người cao
tuổi).
Ông Phan Văn L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân
sự thẩm, ông L đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0004350 ngày
13/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp nên xem như đã nộp xong.
8. Về án phí phúc thẩm:
Ông Trần Văn N2, Trần Thị T1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo
các Biên lai số 0004921, ngày 15/10/2025 và 0005124, ngày 17/10/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp nên xem như đã nộp xong.
Ông Phùng Văn N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Những quyết định khác của Bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực Y Đồng Tháp;
- VKSND khu vực Y Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Phú Thọ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 592/2026/DS-PT Bản án số 592/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 592/2026/DS-PT Bản án số 592/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất