Bản án số 1216/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1216/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1216/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1216/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu xác định ranh đất giữa NĐ bà Nguyễn Thị Thái X, BĐ ông Nguyễn Phú C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1216/2025/DS-PT Bản án số 1216/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1216/2025/DS-PT Bản án số 1216/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1216/2025/DS-PT
Ngày 19-9-2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu xác định ranh đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Nguyễn Thị Duyên Hằng
Ông Nguyễn Trung Dũng
Bà Trần Thị Thanh Trúc
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thùy Trang - TTòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đi din Vin Kim st nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kim sát viên.
Trong các ngày 12 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
63/2025/TLPT-DS ngày 22/01/2025 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất
yêu cầu xác định ranh đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 146/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nayTòa án nhân dân khu vực
18 - Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 179/2025/QĐ-PT ngày
13/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 229/2025/QĐ-PT ngày
01/4/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 56/2025/QĐ-PT ngày
29/4/2025, Thông báo mở lại phiên tòa số 15719/2025/TB-TA ngày 03/9/2025,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thái X, sinh năm 1959; địa chỉ: số A, N,
Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ
Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Phúc T, sinh năm
1985; địa chỉ: số A, N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), người đại diện theo ủy quyền (Văn bản
ủy quyền ngày 12/12/2022).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Việt B,
Luật Văn phòng L - thuộc Đoàn Luật Thành phố H; địa chỉ: số D N, Phường
A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phú C, sinh năm 1969; địa chỉ: khu phố D, phường
A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Hữu P, sinh năm 1969; địa
chỉ: phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ
Chí Minh), là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 27/8/2020).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Tôn Thạnh N, sinh năm 1958; địa chỉ: sA, đường N, Phường H,
quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Nguyễn Minh T1, sinh năm 1968; địa chỉ: phường A, thành phố B,
tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị Thái X.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Thái X người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn ông Phan Phúc T trình bày:
Ngày 01/9/2006, bà X nhận chuyn nhượng từ ông Trần Phước K 6.000m
2
đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa số 251, tbản đồ số 50, tại thị trấn M,
huyện B, tỉnh Bình Dương thuộc một phần đất của thửa đất số 70 theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) số AB995714, số vào sổ H00132
do Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) huyện B cấp ngày 14/3/2005 cho ông Trần
Phước K, hợp đồng được chứng thực tại UBND thị trấn M. X đã tiến hành các
thủ tục đăng đất đai được UBND huyện B cấp quyền sử dụng đất đối với
diện tích 6.000m
2
nêu trên theo GCNQSDĐ số AG 368132, số vào sổ H00730
ngày 14/11/2006 với thông tin thửa đất nsau: Thửa đất số 251, tờ bản đồ số
50; địa chỉ thửa đất: thị trấn M, huyện B, tỉnh Bình Dương; diện ch: 6.000m
2
;
hình thức sử dụng riêng: 6.000m
2
sử dụng chung: không m
2
; mc đích sử dụng:
đất trồng cây hàng năm khác; thời hạn sử dụng: 8/2018; nguồn gốc: đổi
GCNQSDĐ số 01641, 01547 cấp ngày 19/02/2003; nhận quyền sử dụng đất do
chuyn nhượng quyền sử dụng đất (trong đó có 200m
2
đất được chuyn nhượng
mục đích từ đất trồng cây hàng năm khác sang đất tại đô thị với thời hạn sử
dụng lâu dài theo Quyết định số 1154/QĐ-UBND ngày 14/02/2007.
Khoảng cuối năm 2018, X tiến hành đo đạc lại thửa đất số 251 đ thực
hiện thủ tục gia hạn thời hạn sdụng đối với đất trồng cây hàng m khác, nhưng
khi đo đạc lại thì phát hiện thửa đất số 250 giáp ranh với thửa đất số 251 đã xây
hàng rào lấn sang đất của bà X với diện tích 1.000m
2
. Do không biết ai là chủ sử
dụng thửa đất số 250 nên X đã không th làm việc đ xác định ranh giới
yêu cầu gỡ bỏ hàng rào lấn chiếm, X đã căn cứ diện tích đất, ranh giới đất
được cấp giấy chứng nhận đ tháo gỡ hàng rào nhằm đo đạc đúng diện tích đất
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của X. Sau khi bà X tháo dỡ hàng rào, ông
Nguyễn Phú C gặp bà X, cho biết thửa đất số 250 thuộc quyền sử dụng của ông
C, X đã làm việc với ông C đ yêu cầu ông C trả lại 1.000m
2
đất của X
nhưng không thành. Tranh chấp được UBND thị trấn M tiến hành hòa giải vào
ngày 17/10/2019 nhưng không thành.
Bà X đã khởi kiện yêu cầu giải quyết những vấn đề sau đây:
- Buộc ông Nguyễn Phú C trả lại diện tích đất 1.000m
2
ông C lấn chiếm
của bà X.
- Xác định ranh giới rõ ràng giữa thửa đất số 251 và 250.
Trong quá trình tố tụng, sau khi xem xét theo Mảnh trích lục địa chính đo
đạc, chỉnh lý số 124-2019 ngày 18/12/2019 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh
B thì người đại diện hợp pháp của X yêu cầu ông C trả lại cho bà X phần đất
diện tích (761,5m
2
+ 40,2m
2
) = 801,7m
2
. Bà X đồng ý di dời hàng rào theo mảnh
trích lục năm 2019 đ trả lại cho ông C diện tích 230,9m
2
. Người đại diện hợp
pháp của X chỉ trình bày ý kiến mà không làm đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung.
Bị đơn ông Nguyễn Phú C và người đại diện theo hợp pháp của bị đơn ông
Lê Hữu P trình bày:
Diện tích đất 3.000m
2
thuộc thửa số 250, tờ bản đồ số 50, tại phường M,
thành phố B, tỉnh Bình Dương nguồn gốc ông C nhận chuyn nhượng từ vợ
chồng ông Văn D, Trần Thị Thu V theo Hợp đồng chuyn nhượng quyền
sử dụng đất ngày 14/3/2016 tại Văn phòng C1; ông D, bà V đã bàn giao đất cho
ông C theo ranh mốc của GCNQSDĐ và hiện trạng ranh giới giữa thửa đất số 250
và 251 đã có sẵn trụ bê tông, rào kẽm gai nên ông C tiếp tục quản lý thửa đất số
250. Đến khoảng tháng 5/2019, ông C phát hiện bà X tháo dỡ hàng rào giữa hai
thửa đất, thay thế hàng rào bằng trụ bê tông, kẽm gai lấn sang thửa đất số 250 ca
ông C. Ông C không đồng ý yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn, từ thời
đim nhận chuyn nhượng thửa đất không tranh chấp, sau khi nhận chuyn
nhượng ông C không đo đạc lại diện tích đất đnghị quan tài nguyên
môi trường cập nhật biến động chủ sử dụng đất từ ông Văn D sang ông Nguyễn
Phú C. Từ khi nhận chuyn nhượng đến ngày 13/11/2018 thửa đất không thay đổi
về ranh đất, không thay đổi cột mốc tcận ông C sử dụng n định không ai
tranh chấp.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tôn Thạnh N trình bày:
Ông Nghĩa là chồng của bà Nguyễn Thị Thái X, ông N thống nhất trình bày
của nguyên đơn,; đnghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
ngoài ra, ông N không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Minh T1 trình bày:
Nguyễn Minh T1 là vợ của bị đơn ông Nguyễn Phú C, bà T1 thống nhất
trình bày của bị đơn, không có ý kiến khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Luật Ngô Việt
B trình bày:
Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu Tòa án sử dụng
kết quả đo đạc ngày 26/9/2019 là Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý số
124-2019 ngày 18/12/2019 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B đ làm căn cứ
giải quyết vụ án, yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
1. Yêu cầu ông C trả lại cho X phần đất diện tích (761,5m
2
+ 40,2m
2
) =
801,7m
2
; rút lại yêu cầu đối với diện tích 198,3m
2
; X đồng ý di dời hàng rào
trả lại cho ông C phần đất diện tích 230,9m
2
.
2. Xác định ranh giới giữa thửa đất số 251 và 250, là đoạn thẳng từ đim số
4 - 7 của Mảnh trích lục địa chính đo đạc, chỉnh số 124-2019 ngày
18/12/2019.
Ông Văn D và bà Nguyễn Thị Thái X bạn bè làm ăn chung; hai người
mua đất chung của ông Trần Phước K phần đất diện tích 9.000m
2
, theo thỏa thuận
ông D lấy phần đất 3.000m
2
, X lấy phần đất 6.000m
2
; thời đim đó, ông D
không tiền trả, X trả giùm cho ông D; sau khi mua đất, X không sử
dụng mà đ đất trống; đến năm 2018, khi GCNQSDĐ hết hạn, X làm thủ tục
gia hạn theo quy định phải tiến hành đo vẽ lại theo hệ tọa độ mới, khi quan
chuyên môn đo vẽ X mới phát hiện đất của X bị thiếu mà đất của ông D dư.
Qua các lần tiến hành đo vẽ thì thấy mốc ranh không có thay đổi, ranh do bị đơn
chỉ không thay đổi, cụ th các đim 4/26, 5/25, 25/26, 5/4, ranh do bị đơn chỉ
đoạn 4 - 26 theo bản vnăm 2024, đoạn 8 - 3 theo bản vẽ năm 2019. Theo kết
quả đo vẽ thì diện tích đất của bị đơn lớn hơn diện tích 3.000m
2
trong khi bị đơn
mua có 3.000m
2
mà đất nguyên đơn bị thiếu, điều này là không hợp lý.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phan Phúc T trình bày:
Thống nhất trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn, thời đim mua đất, bà X và ông D có làm mốc ranh giữa hai thửa đất là các
trụ bê tông cố định, tuy nhiên, năm 2018 khi làm thủ tục gia hạn giấy chứng nhận
thì phát hiện bị đơn đã kéo hàng rào kẽm gai mới, trồng cây lấn đất của nguyên
đơn, các trụ bê tông không còn.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Lê Hữu P trình bày:
Việc thiếu đất là do rủi ro, nguyên đơn mua đất nhưng không đo đạc lại khi
làm giấy chứng nhận; thực tế, khi ông C mua đất, trên đất đã hàng rào làm
ranh giới giữa đất ông C X, ranh này từ thời đim ông D và X mua
đất; sau khi nhận chuyn nhượng, ông C quản lý, sử dụng đất theo đúng ranh nhận
chuyn nhượng; X là chủ đất nhưng không quản lý, theo dõi dẫn đến đất thiếu
không liên quan ông C; ông C không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
bị đơn yêu cầu Tòa án sdụng Mảnh trích lục địa chính đo đạc, chỉnh số
06-2023 ngày 19/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai thị xã B, tỉnh
Bình Dương đ làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 146/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, đim c khoản 1 Điều 39, các Điều 93, 147, 157,
165, 227, 228, 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Đất
đai năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Người cao tuổi; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa
án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thái
X đối với bị đơn ông Nguyễn Phú C về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất đối
với diện tích 801,7m
2
”.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thái
X đối với bị đơn ông Nguyễn Phú C về việc “Xác định ranh giới giữa thửa đất s
251, tờ bản đồ số 50 thuộc quyền sử dụng của bà X thửa đất số 250, tờ bản đồ
số 50 thuộc quyền sử dụng của ông C đoạn thẳng từ đim s4 đến đim số 7
theo Mảnh trích lục địa chính đo đạc, chỉnh lý số 124-2019 ngày 18/12/2019
của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B”.
Xác định đoạn thẳng từ đim số 10 đến đim số 22 trên Mảnh trích lục địa
chính có đo đạc, chỉnh lý số 06-2023 ngày 19/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng
Đăng đất đai thị B ranh giới chung giữa thửa đất số 251 thửa đất số
250, tờ bản đồ số 50, cùng tọa lạc tại phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương
(có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thái X đối
với bị đơn ông Nguyễn Phú C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất đối với
phần đất diện tích 198,3m
2
”.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn nộp.
5. Về chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và đo vẽ):
Nguyên đơn phải chịu s tiền 28.356.230 đồng (hai mươi tám triệu ba trăm
năm mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi đồng), được khu tr o chí phí tạm ứng
20.856.230 đồng (hai mươi triệu tám trăm năm mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi
đồng). Nguyên đơn n phải chịu số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm
nghìn đồng) đ hoàn trả lại cho bị đơn.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về trách nhiệm thi hành án, quyền
kháng cáo của các đương sự.
Sau khi bản án thẩm, ngày 17/9/2024 ngày 26/9/2024, nguyên đơn
Nguyễn Thị Thái X đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu sửa bản
án thẩm theo hướng buộc bị đơn ông C trả lại diện tích 1.000m
2
đang lấn
chiếm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn gi
nguyên yêu cầu khởi kiện, thay đổi yêu cầu kháng cáo yêu cầu hủy bản án
thẩm; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Theo như hồ vụ án đã trình bày, ngày 14/3/2016, ông Văn D đã
chuyn nhượng hết quyền sử dụng đất số AG 368135, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận H00729, thửa đất s250, tờ bản đồ số 50, diện tích sử dụng: 3000m
2
(trong
đó ODT: 200m
2
; BHK: 2800m
2
) cho ông Nguyễn Phú C (sinh năm 1969) đã
được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thị B cập nhật trên trang 4 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/3/2016. Từ đó cho đến nay ông Nguyễn
Phú C đang đứng tên quyền sdụng đối với thửa đất nói trên. Tuy nhiên, kết quả
đo vẽ, trong phần chỉ ranh của ông C, quan/đơn vị đo đạc đã xác định
1.036,7m
2
do ông Văn D sử dụng nhưng thực tế tại thời đim đo vẽ không có
ông Văn D hay người thừa kế/đại diện hợp pháp của ông D. Việc xác định
ranh giới phần đất của ông D hay không nằm trong phần đất ranh bị đơn
chỉ một tình tiết quan trọng, bản đ xác định ranh cũng như phần diện tích
bị giảm/tăng của các thửa đất liên quan. Hơn thế nữa, kết quả đo vẽ cũng ghi chú
rằng bản đồ này không đối chiếu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà và tài sản gắn liền với đất. Vì vậy, phần đo vẽ th hiện đất 1.036,7m
2
do ông Tô Văn D sdụng là không có căn cứ và không phù hợp với thực tế cũng
như hồ sơ của vụ án.
Ông Văn D, Trần Thị Thu V (vợ ông D) người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án cũng đã được Tòa án cấp thẩm xác định cách
người tham gia tố tụng. Quá trình xác minh triệu tập ông Văn D, Tòa án
cấp thẩm thu thập được bản Tường trình, cam kết về quan hệ nhân thân của
ông Trần Nhựt M (con của ông Tô Văn D) lập, gửi cho U, Quận H, Thành phố
Hồ Chí Minh có xác nhận của cơ quan địa phương. Theo đó, tại bản tường trình
này ghi nhận ông Tô Văn D (sinh ngày 08/3/1950, chết ngày 25/4/2016), bà Trần
Thị Thu V (sinh ngày 18/3/1962, chết ngày 27/6/2016); đồng thời trình bày
hàng thừa kế hợp pháp của ông D V. Xét thấy, khi sở xác định người
tham gia tố tụng đã mất, Tòa cần xác minh triệu tập người thừa kế hợp pháp
của ông D, bà V theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, thực tế trong quá trình
xét xử, Tòa án chỉ triệu tập ông Trần Nhựt M (th hiện tại giấy Triệu tập số
409/GTT-TA ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát) ghi rõ ông M
là người có quyền nghĩa vụ liên quan, nhưng lại không xác định và triệu tập đầy
đủ người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của ông Văn D, bà Trần Thị Thu V đ
tham gia vụ án xác định vấn đề tranh chấp. Ngoài ra, vào thời đim ông
Nguyễn Phú C nhận chuyn nhượng quyền sử dụng đất từ ông Văn D thì các
bên không đo đạc lại diện tích đất, chỉ đề nghị quan tài nguyên môi trường cập
nhật biến động chủ sử dụng đất từ ông Văn D sang ông Nguyễn Phú C. Do
đó, sở đ nhận định rằng ông C tự ý hiu ranh đất trên thực tế thay căn
cứ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhận từ ông D. Cần phải triệu tập
người thừa kế hợp pháp đxác định rõ ranh giới tranh chấp cũng như kết quả đo
vẽ - chứng cứ sở quan trọng xác định quyền lợi ích hợp pháp của các bên.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm bỏ sót người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ảnh
hưởng trực tiếp đến yếu tkhách quan vụ án cũng như quyền lợi hợp pháp của
nguyên đơn.
Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án thẩm, triệu tập đầy đủ người
quyền nghĩa vụ liên quan, tiến hành đo đạc lại toàn bộ thửa đất đang phần diện
tích đất tranh chấp ranh đ giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.
- Đại din Vin Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biu ý
kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng tại Tòa án
cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bản án dân sự thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, bị đơn kháng cáo theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn nhưng các đương sự đều không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn bà Nguyễn Thị Thái X, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn
Phú C, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, ý kiến của Kim sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông N, T1 có yêu cầu giải quyết
vắng mặt; căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành
xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung:
Tại cấp thẩm, nguyên đơn yêu cầu căn cứ kết quả đo đạc diện tích đất
tranh chấp (761,5m
2
+ 40,2m
2
) = 801,7m
2
theo Mảnh trích lục địa chính số 124
ngày 18/12/2019 của Văn phòng Đăng Đất đai tỉnh B (có thực hiện việc áp sổ,
áp thửa) đ giải quyết vụ án; bị đơn không đồng ý kết quả đo đạc theo Mảnh trích
lục địa chính số 124 ngày 18/12/2019, yêu cầu đo đạc lại và căn cứ kết quả đo
đạc diện tích đất tranh chấp 992,6m
2
theo Mảnh trích lục địa chính số 06-2023
ngày 19/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai thị B, tỉnh Bình
Dương (không thực hiện việc áp sổ, áp thửa được) đ giải quyết vụ án; nguyên
đơn không đồng ý kết quả đo đạc theo Mảnh trích lục địa chính số 06 ngày
19/7/2023, yêu cầu đo đạc lại. Tại Bản đồ phục vụ giải quyết tranh chấp ngày
13/6/2024 của Văn phòng Đăng Đất đai tỉnh B diện tích đất tranh chấp
1.001,5m
2
. Đồng thời ngày 18/6/2024, Văn phòng Đăng đất đai tỉnh B
Công văn số 2617/VPĐKĐĐ-ĐĐBĐ xác định không áp sổ, áp thửa được do các
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp không cùng chung hệ tọa độ, hiện
nay các đim khởi tính như đim khống chế đo vẽ, lưới đim trạm đo trên bản
đồ, ranh giới nguồn gốc các thửa đất tại thời đim cấp giấy chứng nhận không
còn đầy đủ ngoài thực địa, hiện trạng sử dụng đất không trùng khớp với các giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Việc Tòa án cấp thẩm sử dụng kết
quả đo đạc ngày 19/7/2023 giải quyết vụ án không được nguyên đơn đồng ý. Tại
cấp phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu đo đạc lại đất tranh chấp, Tòa án cấp phúc
thẩm đã yêu cầu Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh B đo đạc lại theo yêu cầu của
nguyên đơn.
Qua bốn lần đo đạc diện tích tranh chấp đều khác nhau quan chuyên
môn không th tiến hành đối chiếu áp thửa, không th thực hiện việc khôi phục
lại cột mốc của hai thửa đất, nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ khác
trong hồ sơ vụ án đ giải quyết.
Thửa đất số 251 (tách ra từ thửa số 70) có nguồn gốc năm 2006 bà X nhận
chuyn nhượng từ ông Trần Phước K; thửa đất số 250 (tách ra từ thửa số 70) có
nguồn gốc năm 2006 ông Tô Văn D nhận chuyn nhượng từ ông Trần Phước K,
đến năm 2016 chuyn nhượng lại cho ông Nguyễn Phú C.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/4/2025 của Tòa án cấp
phúc thẩm, bản đồ phục vụ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ngày
08/8/2025 của Văn phòng Đăng Đất đai tỉnh B (không thực hiện việc áp sổ,
áp thửa) th hiện: Diện tích đất tranh chấp 1.001,5m
2
, vị trí tứ cận: Hướng
Đông Nam giáp thửa đất số 250 (thửa cũ số 70) chiều dài 90,26m, ranh giới là
hàng rào trụ tông kẽm gai, cao khoảng 10cm do nguyên đơn xây dựng năm
2018 (hiện trạng đã bị gãy đổ); hướng Tây Bắc giáp thửa đất số 251 (thửa cũ số
70) có chiều dài 91,97m, ranh giới là 02 trụ mốc bằng bê tông cao khoảng 80cm,
bắt đầu từ hướng Tây Nam kéo dài xuống hướng Đ (đim cuối đất) do bị đơn xây
dựng năm 2018; hướng Đông Bắc giáp thửa đất s62, chiều ngang 10,79m,
ranh giớihàng rào trụ tông lưới B40 cao khoảng 2,5m do chủ sử dụng đất
thửa số 62 xây dựng; hướng Tây Nam giáp đường đất (có chiều ngang khoảng 03
trở lên) chiều ngang 11,38m, do chủ liên ranh tự mở (chủ đầu khu dân
Đ), ranh giới không có công trình hay cây trồng xác định.
Theo ranh giới nguyên đơn chỉ ranh thì đất diện tích 5.149,7m
2
+
1.001,5m
2
(phần tranh chấp) = 6.151,2m
2
; theo ranh giới bị đơn chỉ ranh thì đất
diện tích 1.891m
2
+ 1.001,5m
2
(phần tranh chấp) = 2.892,5m
2
.
Nguyên đơn
cho rằng, phần đất bị đơn đang quản lý sử dụng gồm 1.891m
2
+ 1.036,7m
2
(phần
đất bị đơn cho rằng của ông Văn D sử dụng); bị đơn cho rằng 1.036,7m
2
của ông Văn D đã chuyn nhượng cho bị đơn nhưng bị đơn xác định việc
chuyn nhượng không có giấy tờ.
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/9/2019 của Tòa án cấp
thẩm ngày 21/4/2025 của Tòa án cấp phúc thẩm th hiện: Thửa đất số 250
(thửa số 70), cạnh hướng Đông Nam giáp đất ông Văn D, ranh giới giữa
hai thửa đất không có công trình hay cây trồng xác định ranh giới, mốc giới của
hai thửa đất này.
Căn cứ vào hồ sơ cấp đất của ông Tô Văn D đối với thửa số 264 (tách ra từ
thửa số 70) có diện tích 3.625m
2
, nguồn gốc ông Tô Văn D nhận chuyn nhượng
từ ông Trần Phước K. Sau đó ông D tách thành các thửa số 277 (833m
2
), 278
(833m
2
), 279 (834m
2
) chuyn nhượng cho người khác, diện tích đất còn lại
1.125m
2
(thửa mới số 280). Thửa đất số 280 cạnh giáp thửa đất số 250 nêu
trên.
Hiện nay, qua đo đạc sự mâu thuẫn giữa các đương sự đối với cạnh
hướng Đông Nam của thửa số 250 nên chưa đủ cơ sở các định ranh giới của thửa
đất số 250 280; quá trình tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm xác minh tvợ chồng
ông Văn D, Trần Thị Thu V đã chết năm 2016, còn ông Trần Phước K
không xác định địa chỉ nơi cư trú nên không đưa ông Trần Phước K, ông n
D, bà Trần Thị Thu V vào tham gia t tng trong v án này với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp này, cần thu thập thêm hồ cấp đất
biến động của thửa đất số 280, tiến hành lấy lời khai người thừa kế của ông
Văn D, bà Trần Thị Thu V hoặc chủ sử dụng thửa đất số 280 hiện nay, đ làm rõ
vị trí đất, ranh giới đất giữa thửa số 250 với thửa số 280 và đưa họ vào tham gia
tố tụng, từ đó mới có đủ sở xác định vị trí, ranh giới giữa thửa đất số 251 với 250
diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ai. Tòa án cấp thẩm không
lỗi trong việc điều tra thu thập chứng cứ.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận,
cần hủy bản án sơ thẩm giao vcho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại theo thủ
tục sơ thẩm.
Quan đim của đại diện Viện Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
là chưa phù hợp.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo được miễn nộp án phí do
người cao tuổi có đơn xin miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 Điều 313 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thái X.
Hủy Bản án dân sự thẩm s146/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa
án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay Tòa án nhân dân khu
vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh).
Giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí
Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyễn Thị Thái X được miễn nộp án phí.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND TP.HCM;
- TAND khu vực 18 - TP.HCM;
- Phòng THADS khu vực 18 - TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự (10).
(80).
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1216/2025/DS-PT Bản án số 1216/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1216/2025/DS-PT Bản án số 1216/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất