Bản án số 1198/2026/DS-PT ngày 17/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1198/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1198/2026/DS-PT ngày 17/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1198/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: hủy bản án sơ thảm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1198/2026/DS-PT Bản án số 1198/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1198/2026/DS-PT Bản án số 1198/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Cường
Ông Bùi Ngọc Thạch.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 17 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh (cơ s2) mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ
án dân sự thụ số 1494/2025/TLPT-DS ngày 15/12/2025 về việc “Yêu cầu chấm
dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện các quyền của người sử
dụng đất; tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 18, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2960/2026/QĐ-PT ngày
07/5/2026 Quyết định hoãn phiên tòa số 7304/2026/QĐ-PT ngày 19/5/2026
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1971; địa chỉ: Số B, khu
phố C, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
Người đại diện hợp pháp: ông Bảo Q, sinh năm 1979; địa chỉ: sB
đường T, tổ I, khu phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh người đại diện
theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 24/02/2026), có mặt.
- Bị đơn:
Bản án số: 1198/2026/DS-PT
Ngày 17-6-2026
V/v Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái
pháp luật đối với việc thực hiện các quyền
của người sử dụng đất, tranh chấp quyền sử
dụng đất
2
1. Ông Lâm Văn B; địa chỉ cư trú: Số nhà E, tổ A, khu phố M, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
2. Ông Vòng A G; địa chỉ: Số A L, phường T, tỉnh Đồng Nai, mặt ngày
10/6 vắng mặt ngày 17/6.
3. Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ A, khu phố M,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
4. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1942; địa chỉ: Tổ A, khu phố M, phường
B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông T1: Ông Nguyễn Phúc H, sinh năm
1974; địa chỉ: Số nhà C, tổ A, khu phố M, phường B, T2 phồ Hồ Chí M (theo văn
bản ủy quyền ngày 27/6/2023), có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1: Ông Nguyễn Văn N
Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp L, M, Thành phố
Hồ Chí Minh.
2. Ông Nguyễn Văn Ngọc H1, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ A, khu phố M,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1973; địa chỉ: Khu phố A, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1995; địa chỉ: Số A, tổ D, khu phố
E, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ A, khu phố M,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường
B, Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Ông Phạm Thành Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ A, khu phố M, phường
B, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu phố A, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà P, ông H1, ông S, bà T4, ông Đ, T3,
ông C:Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh
năm 1971 (theo văn bản ủy quyền ngày 21/11/2024), có mặt.
9. Lâm Thị T5, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
3
10. Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1951; HKTT: Khu phố A, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh; nơi trú: Số I khu phố B, phường T, tỉnh Đồng Nai,
vắng mặt.
11. Ông Vòng A N2, sinh năm 1969; địa chỉ: Đường A, tổ D, khu phố F,
phường T, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
12. Ông Hoàng Minh V, sinh năm 1965; địa chỉ: số A L, phường G, Thành
phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
13. Ông Lâm Văn D, sinh năm 1960; địa chỉ: tổ H, khu phố K, phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
14. Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương;
Người kế thừa quyền, nghĩa vtố tụng của Ủy ban nhân dân thành phố B:
Ủy ban nhân dân phường B;
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân phường B: Ông Châu
Thanh B1 Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (theo văn bản ủy quyền số
01/UQ-UBND ngày 21/7/2025), có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 4 năm 2023, bản tự khai đề ngày
21/11/2024, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Thị
Kim L trình bày:
Cha mẹ của L, bà N1 là cụ ông Nguyễn Văn Đ2 (1932 2021) và cụ
Nguyễn Thị S1 (1932-2010) được cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất
29.090m
2
, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện B
cấp ngày 30/8/1990 cho ông Nguyễn Văn Đ2, nguồn gốc do cha mẹ để lại trước
năm 1975. Ngày 08/6/1998 được cấp đổi theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số 00733, cùng diện tích. Phần đất này
hiện trạng hai mặt tiếp giáp đường (phía trước và bên trái).
Từ năm 1998 đến năm 2014, cụ Đ2 thực hiện thủ tục tặng cho, chuyển
nhượng một phần trong tổng số diện tích 29.090m² đất nêu tn. Sau khi biến
động, cụ Đ2 đơn yêu cầu đo đạc lại để được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo hiện trạng còn lại ngày 24/3/2014 được UBND huyện B cấp
GCNQSDĐ số phát hành BP 261703, số vào sổ CH080094, thửa đất số 1399, tờ
bản đsố 59, diện tích 4.585m². Qtrình đo đạc lại, phần đất phía trước tiếp giáp
đường (khoảng hơn 2.000m
2
) do một số ngôi mộ nên đoàn đo đạc không đo
đạc phần đất này như cụ Đ2 chỉ ranh.
Ngày 21/11/2014 cụ Đ2 tiếp tục tặng cho các con một phần thửa đất 1399.
Diện tích còn lại sau biến động 3.646m
2
thuộc thửa 1444, tờ bản đồ địa chính
4
số 59.
Năm 2010, cụ S1 chết không để lại di chúc. Năm 2021, cụ Đ2 chết để lại di
chúc, được Văn phòng C3 chứng nhận ngày 21/12/2016. Theo đó, di sản diện
tích đất 3.646m
2
thuộc thửa đất 1444, tờ bản đồ địa chính số 59, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp cho cụ Nguyễn Văn Đ2.
Tháng 11/2022, những người được hưởng thừa kế theo di chúc thực hiện
thủ tục kê khai di sản thừa kế tại Văn phòng C4 Mới. Quá trình thực hiện thủ tục
niêm yết, Văn phòng C4 Mới thông báo về việc các ông, bà: Vòng A, Lâm Văn
B, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị Thanh T đơn tranh chấp đất đai với gia đình
L liên quan đến diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ số BP 261703 thửa
đất tiếp giáp đường chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo bản
vẽ kỹ thuật diện tích 2.228,6m
2
. Trong đó 589,5m
2
đất thuộc ranh giải phóng
mặt bằng thực hiện công trình xây dựng cầu Đ mới qua sông T.
Do đó, bà L khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
1. Yêu cầu Tòa án buộc các ông, bà: Lâm Văn B, Vòng A G, Nguyễn Thị
Thanh T và Nguyễn Văn T1 chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện thủ tục khai
nhận di sản thừa kế cấp quyền sử dụng đối với diện tích 3.646m², thuộc thửa
1444, tờ bản đồ số 59 tại phường M, thị B, để L những người thừa kế
theo di chúc của cụ Nguyễn Văn Đ2 được khai nhận di sản, cấp quyền sử dụng
đất theo quy định pháp luật.
2. Công nhận cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ2
cụ S1, gồm các ông Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Văn Ngọc H1, Nguyễn Thị
T4, Nguyễn Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thanh S và Nguyễn
Thành C được đăng ký kê khai, cấp quyền sử dụng đất đối với diện ch đất thuộc
thửa 238 còn lại sau thu hồi là 1.639,1m
2
. Đối với diện tích đất do Nhà nước thu
hồi là 589,5m
2
, bà L đồng ý theo chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước
và đề nghị thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất, đền bù giá trị tài sản thu hồi cho
hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ2 theo quy định pháp luật.
* Tại bản tường trình đngày 28/6/2023, lời khai trong quá trình tham gia
tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn T1, do ông Nguyễn Phúc H đại diện trình bày:
Vào khoảng năm 1976, ông T1 từ Thành phố Hồ Chí Minh về B trông coi
đất của ông bà để lại, trong đó có khoảng 5.000m
2
đất là đất chung của dòng tộc,
sử dụng một phần để chôn cất những người trong dòng tộc khi qua đời. Cùng
quản khu đất này còn có gia đình ông Nguyễn Văn Đ2 (cha của bà Nguyễn Thị
Kim L) do cùng nằm trong họ tộc. Trong phần đất này, có 15 ngôi mộ của họ tộc
ông T1 một số ngôi mộ của gia tộc ông Đ2. Bên cạnh đó, còn một số ngôi
mộ khác khi chôn cất ông T1 biết, không có ý kiến gì. Năm 2021 cụ Đ2 chết, đến
năm 2022 L san lấp toàn bộ khu đất và rào hàng rào kiên cthì phát sinh tranh
chấp. Tại Ủy ban nhân dân phường M ông T1 mới được biết cụ Đ2 đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ khu đất từ năm 1990 qua
5
nhiều lần biến động. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông H đại
diện cho ông T1 có ý kiến như sau:
- Đối với thửa 1444, tờ bản đồ s59 tại phường M, thị xã B (nay là phường
B, Thành phố Hồ Chí Minh): Do trong thửa đất này có 01 ngôi mộ của họ tộc ông
T1 nằm trong diện tích 60,1m
2
(theo bản vẽ) nên ông không đồng ý cấp quyền sử
dụng đất phần đất có ngôi mộ này cho những người thừa kế của cụ Đ2. Phần đất
còn lại thuộc thửa 1444, ông không có ý kiến gì.
- Đối với diện tích đất thuộc thửa 238, tờ bản đồ địa chính s59, ông T1
yêu cầu giữ nguyên hiện trạng.
* Tại đơn tường trình đề ngày 04/7/2023, lời khai trong quá trình tham gia
tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Khoảng năm 1978, cha của bà T là cụ Nguyễn Thanh Đ3 (1941 2017) đã
khai hoang được khoảng 1.000m
2
đất tọa lạc tại đường Đ, khu phố D, thị trấn M,
hiện nay toàn bkhu đất đất trống, không ranh giới. Cụ Đ3 chủ yếu canh tác
hoa màu. Khoảng năm 2003, T đi đăng khai để cấp quyền sử dụng đất
thì phát sinh tranh chấp với gia đình ông Nguyễn Văn Đ2. Tại buổi hòa giải tổ
chức tại UBND thị trấn M, ban H5 đã đưa ra phương án diện tích đất này được sử
dụng làm đất thổ mộ chung. Sau buổi hòa giải, giữa ông Đ3, ông Đ2 không ai có
ý kiến, không phát sinh tranh chấp. Về hiện trạng khu đất, trước đây ông Đ3
trồng một số cây điều nhưng hiện nay không còn do gia đình L chặt. Việc cụ
Đ3 canh tác điều trên khu đất cũng đã được thể hiện trong Biên bản hòa giải
ngày 15/11/2003. Vào khoảng năm 2020 có tổ chức lấy ý kiến liên quan đến khu
đất này mọi người đồng thuận đưa vào đất công. Đến năm 2023 tiếp tục xảy ra
tranh chấp thì T mới được biết toàn bộ khu đất đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ2.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, T có ý kiến như sau:
- Đối với diện tích đất thuộc thửa 1444, tờ bản đồ số 59 tại phường M:
T không tranh chấp và đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đối với diện tích đất thuộc thửa 238, tờ bản đồ địa chính số 59: Trường
hợp có căn cứ xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ2
là đúng quy định pháp luật thì bà đồng ý không tranh chấp.
* Tại bản tự khai đề ngày 30/6/2023, lời khai trong quá trình tham gia tố
tụng, bị đơn ông Lâm Văn B trình bày:
Gia đình ông B có chôn cất người thân trong một phần thửa đất tranh chấp
là 238, tờ bản đồ địa chính số 59. Cụ thể trong diện tích 125,7m
2
08 ngôi mộ,
trong đó có cha và ông bà nội của ông, chôn tại đây vào năm 1977. Nguyên nhân
được chôn cất tại đây khu đất lúc bấy giờ đất bỏ hoang, nhiều hộ dân chôn
cất người thân đây nên người dân ngầm hiểu đất nghĩa trang. Tnăm 2005
trở đi, khi mẹ của ông B chết thì chính quyền địa phương không cho chôn cất tại
6
đây nữa. Về việc chứng minh quan hệ thân tộc với những phần mộ trên đất tranh
chấp, ông B chỉ còn giấy khai sinh chứng minh quan hệ với cha là ông Lâm Văn
T6, còn với ông nội những người khác thì ông không cung cấp được. Nay
đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông B có ý kiến như sau:
- Đối với thửa 1444, tờ bản đồ số 59 tại phường M: Không tranh chấp
đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đối với diện tích đất thuộc thửa 238, tờ bản đồ địa chính số 59: Ông B
đồng ý trả lại đất cho gia đình L, đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của L.
Đối với phần mộ gồm cha và ông bà nội của ông B thì ông tự nguyện di dời. Việc
hỗ trợ chi phí cải táng giữa ông và gia đình bà L đã có thỏa thuận riêng.
* Tại các biên bản lấy lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn
ông Vòng A G trình bày:
Trước năm 1980, một phần thửa đất 238, tờ bản đồ số 59 do dòng tộc ông
G quản lý. Từ sau năm 1980, cha ông Vòng A khai phá thêm tổng cộng
khoảng 1.200m
2
đất. Do đất rừng không sử dụng, do ông bà để lại chủ yếu dùng
làm đất thổ mộ nên gia đình ông G không đăng khai quyền sử dụng đất.
Khoảng năm 2018, gia đình ông G đến khu đất rào lại thì phát sinh tranh chấp.
Mẹ của ông G Nguyễn Thị H2 đến UBND phường M làm thủ tục đăng
khai nhưng đến nay chưa được giải quyết. Vquá trình quản lý, sử dụng
đất, do đất dùng làm đất thổ mộ nên không canh tác, chỉ gìn giữ các phần mộ của
ông bà. Từ năm 1992 thì UBND phường M không cho chôn cất tại đây nữa.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông G có ý kiến như sau:
- Đối với thửa 1444, tờ bản đồ số 59 tại phường M: Không tranh chấp
đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đối với diện tích đất thuộc thửa 238, tờ bản đồ địa chính số 59: Ông G
không đồng ý. Theo ông, trong phần đất này khoảng 1.200m
2
đất do cha mẹ
ông khai phá nên không đồng ý cho gia đình L đăng khai đối với phần
đất này. Gia đình ông đã đơn đăng khai đến nay chưa được giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 22/7/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Vòng A N2 trình bày:
Ông anh trai của ông Vòng A G, trong phần đất tranh chấp có phần mộ
của cha ông Vòng A N3 chị gái Vòng Tài M1 (hai trong tám ngôi mộ nằm
trên 125,7m
2
đất tranh chấp). Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông đồng
ý, không tranh chấp. Đối với phần mộ của cha chị gái, ông tự nguyện di dời.
Việc thỏa thuận htrợ cải táng giữa ông gia đình bà L tự thỏa thuận. Không đề
nghị Tòa án xem xét.
* Tại bản tự khai ngày 23/7/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Đ1 trình bày: chị gái của bị đơn ông Lâm Văn B. xác
7
nhận tại diện tích đất tranh chấp 125,7m
2
mộ của cha bà là Lâm Văn T6 ông
bà nội không nhớ rõ họ tên. Bà đồng ý đối với ý kiến của ông B.
* Tại bản tự khai đề ngày 12/8/2025 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Lâm Thị T5 trình bày: chị ruột của ông B, em gái của Đ1. thống
nhất ý kiến của ông Lâm Văn B, bà Đ1.
* Tại bản tự khai đề ngày 24/7/2025 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Lâm Văn D trình bày: Ông có 02 phần mộ của người thân trong 08 ngôi mộ
nằm trên diện tích 125,7m
2
đất tranh chấp. Ông tự nguyện di dời đã tự thỏa
thuận việc hỗ trợ chi phí di dời với phía nguyên đơn, ông không tranh chấp.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường B trình
bày:
Theo Quyết định số 2174/QĐ-UBND ngày 26/7/2019 của UBND tỉnh B
về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình: Xây dựng C mới qua sông T,
thuộc thị xã B, tỉnh Bình Dương;
Căn cứ đơn xác nhận nguồn gốc sdụng đất ngày 01/02/2023 của ông
Nguyễn Văn Đ2 (do bà Nguyễn Thị Kim L con ông Đ2 làm đại diện);
Ngày 15/11/2023, UBND thị B ban hành Quyết định số 3309/QĐ
UBND về việc phê duyệt phương án dự toán bồi thường, hỗ trợ đối với một
phần thửa đất 238, tờ bản đồ số 59 để thực hiện công trình xây dựng Cầu Đ, tổng
số tiền 3.400.529.200 đồng. Do khu đất đang tranh chấp nên Trung tâm phát
triển quỹ đất (TTPTQĐ) đã gửi số tiền bồi thường, hỗ trợ được UBND Thành phố
phê duyệt số 3309/QĐ-UBND ngày 15/11/2023 vào tài khoản của kho bạc Nhà
nước. Sau khi vụ việc tranh chấp giải quyết xong, TTPTQĐ thực hiện chi trả cho
người có quyền sử dụng đất theo quy định.
Về việc lý do thửa đất ông Đ2 được cấp Giấy chứng nhận QSD đất số 733
ngày 30/8/1990 thể hiện hai mặt tiếp giáp với đường. Ngày 24/3/2014, khi
UBND huyện B cấp GCN cho ông Đ2 theo GCN số BP 261703 tthửa đất chỉ
còn một mặt tiếp giáp đường nhựa 10m, tứ cận phía trước thửa đất không còn tiếp
giáp đường mà tiếp giáp thửa 238: Theo hồ thiết lập gồm bản đồ trích đo, Tờ
trình 140.TTR-UBND ngày 06/12/2013 của UBND thị trấn M về việc tăng diện
tích đất trong giấy chứng nhận QSD đất của ông Nguyễn Văn Đ2. Thời điểm lập
hồ đo đạc do gia đình ông Đ2 xác định ranh giới sử dụng đất và theo hiện trạng
sử dụng thực tế.
Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn
Văn Đ2 là đúng quy định pháp luật. Đối với thửa 238, tờ bản đồ địa chính số 59,
hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất 238 trước đây
được cấp quyền sử dụng đất cho ông Đ2 theo Giấy chứng nhận QSD đất số
733 hay không thì đề nghị Tòa án căn cứ kết quả xác minh, quá trình quản lý, sử
dụng đất thực tế để giải quyết.
8
Theo bản đồ quy hoạch sdụng đất năm 2030 được phê duyệt tại Quyết
định số 08/QĐ-UBND ngày 05/01/2022 của UBND tỉnh B bản đồ kế hoạch sử
dụng đất năm 2024 thành phố B được phê duyệt tại Quyết định số 401/QĐ-UBND
ngày 15/02/2024 thửa đất trên quy hoạch đất ở.
* Tại biên bản xác minh ngày 21/11/2024, Công chức địa chính phường M
ông Phạm Hữu N4 Nguyễn Thị Thanh H3 (nguyên Công chức địa chính
phường M, hiện đang công tác tại phường M) xác định:
Toàn bộ khu đất gồm thửa 238 thửa 1399, tờ bản đđịa chính số 59
trước đây được cấp quyền sử dụng đất cho ông Đ2 theo giấy chứng nhận QSD đất
ngày 30/8/1990; cấp đổi ngày 08/6/1998. Hiện trạng phần đất giáp đường cây
tạp. Nguồn gốc đất của dòng tộc ông Đ2 (ông Đ2 và ông T1 có họ hàng xa).
Đối với các ông bà Vòng A, Lâm Văn B, Nguyễn Văn T1 không canh tác,
quản lý, chỉ chôn cất người thân tại đây.
Đối với ông Đ3 cha của bị đơn Nguyễn Thị Thanh T: Do phần đất chủ
yếu là cây tạp nên không xác định được ông Đ3 có canh tác gì hay không.
Đối với ông Đ2: Phần đất thửa 1399 (phần đất phía trong) do ông Đ2 quản
lý, sử dụng; đối với phần đất phía ngoài tiếp giáp đường (thửa 238) do nhiều cây
tạp nên không xác định được ông Đ2 canh tác hay không. Theo GCN quyền sử
dụng đất cấp cho ông Đ2 năm 1990, cấp đổi năm 1998, hình thể thửa đất thể hiện
mặt phía trước tiếp giáp đường đi. Tuy nhiên, ngày 21/3/2014 sau khi nhiều lần
biến động đo đạc để cấp lại theo hiện trạng thì phần đất của ông Đ2 không còn
tiếp giáp đường mà tiếp giáp thửa 238. Nguyên nhân là do thời điểm đo đạc trên
đất mộ, mà chính sách luật đất đai lúc bấy giờ đất có thổ mộ không được cấp
GCN quyền sử dụng đất nên khi đo đạc lại đất của ông Đ2 đã không đo phần đất
này.
Về pháp thửa đất 238, tờ bản đồ số 59: Theo sổ ngoại năm 2000 địa
phương đang quản thể hiện: Trước đây thửa 238 thuộc tờ bản đồ địa chính số
24, nay thuộc tờ bản đồ địa chính số 59. Vào năm 2000 - 2001 ông Nguyễn Văn
Ngọc H1, là con của ông Nguyễn Văn Đ2 đại diện đăng ký; theo sổ Mục 2016
2017 thì thông tin thửa 238 cũng do ông H1 đăng ký kê khai. Quá trình rà soát
sổ ngoại, sổ mục kê tại địa phương, phần đất tranh chấp không thông tin
trong hồ sơ quản lý đất đai với ông T1, ông B, ông G và ông Đ3.
* Theo Biên bản xác minh ngày 05/8/2025 đối với ông Cao Văn S2, hiện
tổ trưởng tổ A, khu phố D, phường M (xác minh theo yêu cầu của nguyên đơn bà
L và bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T), xác định:
Ông S2 sinh ra lớn lên tại địa phương, hiện ông cư trú gần khu đất tranh
chấp. Ông S2 xác định ai là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất tranh chp
thì ông không biết vì đất chủ yếu là đất nghĩa địa. Vào khoảng năm 1978 cha của
T ông Đ3 nhờ ông đến khu đất này bứng một số gốc cây rừng, cây tạp.
9
Thời điểm này khu đất là cây tạp và mồ mả, không thấy có người quản lý. Sau đó
ông Đ3 có trồng một số cây như tràm, điều… và thu hoạch, phần đất này có diện
tích khoảng 03 đến 05 sào đất. Đối với gia đình ông Đ2, ông T1 về địa phương
sinh sống tsau năm 1975 nhưng không thấy quản lý, sử dụng phần đất này.
Khoảng năm 1982, con ông S2 qua đời nên ông S2 xin vợ ông Đ2 cho được
chôn cất tại phần đất này. Đến năm 2024, gia đình ông Đ2 (do N1 đại diện) đã
hỗ trợ gia đình ông số tiền 3.000.000 đồng di dời đi nơi khác. Ngoài ra ông không
cung cấp gì khác.
* Theo Biên bản xác minh ngày 05/8/2025 đối với ông Nguyễn Quốc H4
Trưởng ban điều hành khu phố D, phường B, xác định: Ông Đ3 và ông Đ2 có họ
hàng xa, khu đất tranh chấp trước đây là do dòng họ khai phá, sau này con cháu
của họ tiếp tục sử dụng. Vào những năm 2018 2019 UBND phường M do ông
Lê Thanh P1 có họp các hộ dân tại nhà ông Cao Văn S2 Tổ trưởng tổ A để giải
quyết tranh chấp. Tại buổi họp thống nhất phần đất tiếp giáp đường Đ để làm
đất công viên, tuy nhiên ông Đ2 không đồng ý, việc họp làm biên bản. Bên
cạnh đó, năm 2014 khi ông Đ2 đơn xin đo đạc lại để cấp sổ thì đoàn đo đạc
kiểm tra thấy mộ trên đất nên không đo phần đất này, do đó ông Đ2 chỉ được
cấp lại phần đất phía sau (thửa 1444). Phần đất phía trước tiếp giáp đường chưa
được cấp cho ai.
Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý ngày 04/5/2024 của Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố B thể hiện: 554,4m
2
đất mộ thuộc
thửa 238 phần mộ gia đình L, ông B; diện tích 125,7m
2
đất mộ thuộc thửa
238 là phần mộ gia đình ông T1; 262,7m
2
đất mộ thuộc thửa 238 là phần mộ gia
đình L, ông B. Tuy nhiên, qua kiểm tra hiện trạng thực tế tại Biên bản xem xét,
thẩm định tại chỗ ngày 25/12/2024, được các đương sxác định lại như sau:
554,4m
2
đất mộ thuộc thửa 238 phần mộ gia đình L, ông T1; diện tích
125,7m
2
đất mộ thuộc thửa 238 phần mộ thân tộc ông B, ông G; 262,7m
2
đất
mộ thuộc thửa 238 phần mộ thân tộc L; 60,1m
2
đất mộ thuộc thửa 1444
phần mộ thân tộc ông T1, bà L.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị được hòa giải với bị
đơn bà Nguyễn Thị Thanh T, ông Nguyễn Văn T1.
Bị đơn ông Lâm Văn B mặt tại phiên tòa, trình bày giữ nguyên ý kiến
và xin vắng mặt trong suốt thời gian còn lại của phiên tòa.
Bị đơn Nguyễn Thị Thanh T đồng ý mức hỗ trợ của L, N1 về công
sức gìn giữ đất số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Bị đơn ông Vòng A G không ý kiến đối với 02 ngôi mộ (cha, chị gái ông
G). Việc anh trai ông G là Vòng A thỏa thuận di dời nhận hỗ trợ di dời từ phía
nguyên đơn thì ông đồng ý. Tuy nhiên ông không đồng ý đối với yêu cầu của
nguyên đơn về việc được quyền đăng ký kê khai đối với thửa 238.
10
Bị đơn Nguyễn Văn T1 (do ông Nguyễn Phúc H đại diện) giữ nguyên ý
kiến và yêu cầu được nhận ½ diện tích đất thuộc thửa 238.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông ng A N2 giữ nguyên ý kiến,
không tranh chấp, tự nguyện di dời 02 ngôi mộ và đã thỏa thuận về mức hỗ trợ
với nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Minh V có 01 ngôi mộ
là em gái nằm trên 125,7m
2
đất tranh chấp thuộc thửa 238. Ông tự nguyện di dời
đã thỏa thuận phần hỗ trợ bồi thường từ nguyên đơn. Đồng ý đối với toàn bộ
yêu cầu của nguyên đơn không tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T5 thống nhất với ông
Lâm Văn B về việc tự nguyện di dời 03 ngôi mộ trên đất tranh chấp. Việc bồi
thường đã tự thỏa thuận với nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 18, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim
L, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái
pháp luật đối với việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất”, với bị đơn ông
Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị Thanh T, ông Vòng A G, ông Lâm Văn B.
1. Xác định diện tích 2.228,6m
2
đất thuộc thửa 238, tờ bản đồ địa chính 59
tại phường B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn
Nguyễn Thị Kim L những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông
Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Văn Ngọc H1, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thị
Tuyết N1, Nguyễn Thanh SNguyễn Thành C.
Các ông Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Văn Ngọc H1, Nguyễn Thị T4,
Nguyễn Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thanh SNguyễn Thành C
được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký kê khai,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất còn lại sau thu hồi là
1.639,1m
2
thuộc thửa 238, tờ bản đồ địa chính số 59 tọa lạc tại phường M (nay
phường B), giới hạn bởi (2;3;4;A;5’;D;26;27;28;29;30;E;F;G;8’;9’;10’;11’;1’;2),
có sơ đồ bản vẽ kèm theo.
Các ông, Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Văn Ngọc H1, Nguyễn Thị T4,
Nguyễn Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thanh SNguyễn Thành C
được quyền liên hệ quan có thẩm quyền để thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi
đất theo pháp luật quy định đối với diện tích đất bị thu hồi 589,5m
2
thuộc một
phần thửa 238, tờ bản đồ địa chính số 59 tại phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ghi nhận sự tnguyện giữa nguyên đơn và các bị đơn, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, như sau:
- Bị đơn ông Lâm Văn B tnguyện di dời 03 ngôi mộ; những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Văn D tự nguyện di dời 02 ngôi mộ; ông
11
Nguyễn Hoàng V1 tự nguyện di dời 01 ngôi mộ; ông Vòng A N2 tnguyện di
dời 02 ngôi mộ; cùng thuộc diện tích đất tranh chấp 125,7m
2
thuộc thửa 238, t
bản đồ địa chính số 59 trả lại hiện trạng đất tranh chấp cho nguyên đơn. Chi
phí hỗ trợ di dời các bên đã thỏa thuận xong.
- Bà L, bà N1 và bà T thỏa thuận: T đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu của
nguyên đơn. Bà L, bà N1 tự nguyện hỗ trợ công sức gìn giữ đất cho bà T số tiền
100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
2. Buộc các bị đơn ông Nguyễn Văn T1, ông Vòng A G phải chấm dứt hành
vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất
của các ông Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Văn Ngọc H1, Nguyễn Thị T4,
Nguyễn Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thanh S, Phạm Thành Đ,
Nguyễn Thị Kim T3 tại thửa đất số 1444, tờ bản đồ địa chính số 59 tại phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể quyền được hưởng thực hiện các thủ tục
thừa kế theo Di chúc của cụ Nguyễn Văn Đ2, được Văn phòng C3 chứng nhận
ngày 21/12/2016 đối với thửa đất 1444, tờ bản đồ địa chính số 59, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Nguyễn Văn Đ2.
Ghi nhận sự tnguyện của bà L những người quyền lợi, nghĩa vliên
quan gồm các ông Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Văn Ngọc H1, Nguyễn Thị
T4, Nguyễn Thị Tuyết N1, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Thành C, Nguyễn Thị Kim
T3, Nguyễn Thành Đ4 (do N1, bà L đại diện) về việc, giữ nguyên hiện trạng
các ngôi mộ của thân tộc ông T1, tạo điều kiện thuận lợi cho ông T1 và thân nhân
của những ngôi mộ trên đất được thăm viếng, thực hiện các nghi lễ đối với người
đã qua đời, hỗ trợ bảo tồn mồ mả theo quy định của pháp luật phong tục tập
quán địa phương.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án pdân sự thẩm, chi phí tố
tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22/8/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 đơn kháng cáo đối với toàn
bộ Bản án dân sthẩm số 52/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 18, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn
bộ bản án sơ thẩm Tòa án cấp sơ thẩm đã không đánh giá các chứng cứ trong
vụ án một cách khách quan, toàn diện đầy đủ; ra quyết định bản án thẩm
không phù hợp với tình tiết với nội dung thể hiện trong hồ sơ vụ án gây thiệt hại
đến quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của ông T1.
Ngày 13/4/2026, ông T1 đơn yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp
luật đề nghị L tháo dỡ, di dời hàng rào chắn trả lại hiện trạng ban đầu trong
vòng 15 ngày kể từ ngày 08/12/2022 kể cả phần cho thuê phía trước phần mộ cha
mẹ ông T1.
Ngày 22/8/2025, bà L, bà N1bà T đã lập biên bản thỏa thuận vviệc bà
T nhận hỗ trợ của L, N1 số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng);
ngày 26/11/2025 L, N1 và ông Hoàng Minh V lập biên nhận tiền xác định
12
nội dung ông V đã nhận hỗ trợ của bà L, bà N1 stiền 50.000.000 đồng để di dời
01 ngôi mđể trả lại hiện trạng đất trống cho bà L, N1; ngày 26/12/2025 bà L,
N1 ông Vòng A N2 lập biên nhận tiền ghi nhận nội dung ông N2 nhận hỗ
trợ số tiền 100.000.000 đồng từ bà L, bà N1 để di dời 02 ngôi mộ (của cha Vòng
A N3 và chị gái Vòng A M2) để trả lại hiện trạng đất trống cho bà L.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên
bản án thẩm. Về ông Thanh C1 người mối quan hệ họ hàng gần gũi
với nguyên đơn, hiện còn 02 ngôi mộ của người thân ông C1 trên thửa 238.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông T1 đề nghị chấp nhận kháng cáo
của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm bảo vệ phần đất có mồ mả gia đình ông T1 quản
lý.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn ông N trình bày: Tòa
án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, đánh giá chứng cứ chưa khách
quan; không đưa ông Lê Thanh C1 là người quản lý các ngôi mộ hiện có trên đất
vào tham gia tố tụng thiếu sót, tại cấp phúc thẩm bị đơn ông T1 cung cấp tài
liệu chứng cứ mới trích lục địa bộ ngày 07/10/1967 của T7 Điền địa thể hiện
ông Nguyễn Văn L1 ng nội ông Nguyễn Văn T1) là người đã đăng khai
phần đất 2
H
.01
A
.98 tại M phần đất hiện đang tranh chấp, chưa được Tòa án cấp
sơ thẩm xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm để xét
xử lại theo đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Vòng A G trình bày: ông G không đơn kháng cáo đối với
bản án thẩm, tuy nhiên đối với thửa 238 đất mộ nên ông G không đồng ý cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Quá trình thụ giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những ngưi tiến hành t tng
và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Về nội dung: quá trình tố tụng tại cấp thẩm đã không thu thập đầy đủ
tài liệu chứng cứ, chưa thu thập việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông Đ2 đối với đất thổ mộ, không đưa đầy đủ những người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vào tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
họ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày tranh tụng của các bên đương sự, Luật sư
và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
13
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án
dân sự vviệc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu chấm dứt hành vi cản
trở trái pháp luật đối với việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất”, thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 18, Thành phố Hồ Chí Minh
theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đơn kháng cáo của bị đơn ông T1 được thực hiện trong thời hạn luật
định và đã thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem
xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.3] Tại phiên toà vắng mặt một số bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa v
liên quan nhưng những người này không kháng cáo, đã tự thoả thuận nhận tiền hỗ
trợ đã di dời mộ ra khỏi đất tranh chấp nên việc vắng mặt những người này
không ảnh hưởng đến việc xét kháng cáo của bị đơn ông T1 nên Toà án xét xử
vắng mặt những người này theo Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.4] Tại cấp phúc thẩm, bị đơn ông T1 đơn yêu cầu L chấm dứt hành
vi trái pháp luật, yêu cầu L tháo dỡ, di dời hàng rào trả lại hiện trạng ban đầu
đối với phần diện tích đất có các ngôi mộ của thân tộc ông T1. Tuy nhiên, tại cấp
thẩm ông không đơn yêu cầu phản tố về vấn đề này nên chưa được cấp
thẩm xem xét, do đó, theo quy định của pháp luật vphạm vi xét xphúc thẩm
thì Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn ông B, ông G, bà T, ông T1
yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc ông B, ông G, T, ông T1 chấm dứt hành vi cản
trở việc thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế cấp quyền sử dụng đất đối
với diện tích 3.646m², thuộc thửa 1444, tbản đồ số 59 tại phường M, thị B
(nay phường B, Thành phố Hồ Chí Minh), đL những người thừa kế theo
di chúc của cụ Nguyễn Văn Đ2 được khai nhận di sản, cấp quyền sử dụng đất theo
quy định pháp luật; Công nhận cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
cụ Đ2 cụ S1, gồm các ông Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Văn Ngọc H1,
Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thanh S
Nguyễn Thành C được đăng ký kê khai, cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất thuộc thửa 238 còn lại sau thu hồi là 1.639,1m
2
. Đối với diện tích đất do Nhà
nước thu hồi 589,5m
2
, L đồng ý theo chủ trương, chính sách pháp luật của
Nhà nước và đề nghị thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất, đền giá trị tài sản
thu hồi cho hàng thừa kế thứ nhất của cĐ2 theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 kháng cáo không đồng
ý bản án sơ thẩm; các đương sự khác đều không kháng cáo và đã nhận hỗ trợ của
nguyên đơn để thực hiện việc di dời phần mộ của gia đình ra khỏi phần đất thuộc
thửa 238.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông T1:
14
[3.1] Do hiện trạng đất sau khi xét xsơ thẩm nhiều ngôi mộ đã được di
dời theo thỏa thuận của nguyên đơn với c bị đơn nên các đương sự có yêu cầu
Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc xác định lại diện tích. Qua xem xét
thẩm định tại chỗ và đo đạc thực tế hiện trạng sử dụng thửa đất tranh chấp, theo
bản vẽ do Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H thực hiện xác định: thửa 1444
diện tích 3.552,8m
2
, trên thửa 1444 01 ngôi mộ của gia đình ông T1 diện
tích 5,7m
2
; trên thửa 238 diện tích đo đạc thực tế là 1.630,5m
2
, 09 ngôi m của
gia đình ông T1 quản lý; ngoài ra, n có mộ của ông Lê Văn N5 (cha của ông
Thanh C1), mộ của ông Minh T8 (em ruột ông Thanh C1) 01 mộ của
cháu ông C1 (chưa họ tên) các ngôi mộ này ông C1 đang quản chăm sóc,
nhưng ông C1 chưa được đưa vào tham gia tố tụng, chưa có ý kiến gì đối với các
ngôi mộ này nên khi giải quyết vụ án sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của
ông C1. Việc đo đạc chưa được đối chiếu giấy chứng nhận quyền sdụng đất cấp
cho ông Đ2 và bản đồ địa chính dùng chung.
[3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện bị đơn Thạnh nộp bổ sung bản trích
lục địa bộ ngày 07/10/1967 của Tổng nha Điền Địa thể hiện ông Nguyễn Văn L1
(đại diện bị đơn xác định ông L1 là ông nội ông T1) đứng tên đối với thửa đất số
673 diện tích 2
H
.01
A
.98 tại M tứ cận hướng bắc giáp đất ông Huỳnh Văn
V2, phía nam giáp đất T9 Từ, hướng đông giáp đất ông Nguyễn Văn C2, hướng
tây giáp đường đất. Đây tài liệu chứng cứ mới chưa được Tòa án cấpthẩm
đối chiếu, làm diện tích thửa đất này để xác định trùng với diện tích tranh
chấp không? đxem xét nguồn gốc, quá trình quản sử dụng, khai đăng
qua các thời kỳ làm căn cứ giải quyết vụ án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của các đương sự trong vụ án.
[3.3] Từ các phân tích trên, xét thấy Tòa cấp thẩm chưa đưa đầy đngười
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng, phát sinh chứng cứ mới chưa
được cấp sơ thẩm xem xét nên Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
Do đó, cần phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra, thu thập đầy đủ các tài liệu chứng
cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án một cách toàn diện nên kháng cáo của bị đơn
ông T1 và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị
huỷ án là có căn cứ chấp nhập.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh đề nghị huỷ án sơ thẩm là phù hợp.
[5] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông T1 được miễn theo quy định của pháp
luật.
[6] Về chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc tại cấp phúc
thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L phải chịu số tiền 4.160.000 đồng; bị
đơn ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 4.160.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
15
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, các Điều 71, 92, 147, 148, 266, 271, 273, khoản 3 Điều 296, khoản 3 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T1, hủy Bản
án dân sthẩm số 52/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 18, Thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực
18, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết lại vụ án theo quy định.
2. Về án phí phúc thẩm: bị đơn ông Nguyễn Văn T1 được miễn.
3. Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm:
+ Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu số tiền 4.160.000 đồng (đã
thực hiện xong);
+ Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 4.160.000 đồng (đã thực hiện
xong).
4. Bản án phúc có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 18, TP Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 18, TP Hồ C
Minh;
- Lưu: VTLT, HSVA, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Huỳnh
16
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1198/2026/DS-PT Bản án số 1198/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1198/2026/DS-PT Bản án số 1198/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất