Bản án số 540/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 540/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 540/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 540/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Hồng Quốc C yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả cho ông 0 khoản tiền vốn là 7.500.000.000đ (bảy tỷ năm trăm triệu đồng). Cụ thể
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 540/2026/DS-PT Bản án số 540/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 540/2026/DS-PT Bản án số 540/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 540/2026/DS-PT
Ngày 17 8 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Dũng
Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí
Giang Thị Cẩm Thuý
- Thư phiên tòa: Ông Kim Thắng - Thư Tòa án nhân n tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Nhỏ – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 17 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Mau t xử phúc thẩm ng khai vụ án n sự thụ số:
244/2026/TLPT-DS, ngày 18 tháng 5 năm 2026 về việc tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 82/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026,
của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 419/2026/QĐ-PT
ngày 11 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồng Quốc C, sinh năm 1960; Căn cước công dân số:
************, cấp ngày: 12/8/2021; Địa chỉ: Số B đường L, Khóm A, phường
T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn theo hợp đồng uỷ quyền
ngày 03/11/2025: Hồng Thị Kim L, sinh năm 1983; n ớc công dân số:
************, cấp ngày 27/03/2024; Địa chỉ: Số B đường L, Khóm A, phường
T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Anh T -
Luật Văn phòng luật Anh T thuộc Đoàn Luật tỉnh C; Địa chỉ: Số A,
đường N, Khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2
- Bị đơn: Nguyễn Thị B, sinh năm 1953; Căn cước công dân số:
************, cấp ngày 14/08/2021; Địa chỉ: Khu đô thị B, khóm B, phường
L, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn theo hợp đồng uỷ quyền
ngày 15/12/2025: Nguyễn Thị K, sinh năm 1964; Căn cước công dân số:
************0, cấp ngày 28/07/2024; Địa chỉ: Khu đô thị B, khóm T, phường
L, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Hồ Minh T1
Là Luật sư Công ty L2 Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH L2.
Địa chỉ: Số B đường L, khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồng Quốc C Chức vụ: Chủ tịch
kiêm Giám đốc (xin vắng mặt).
- Người kháng cáo:Nguyễn Thị B là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 10 năm 2025 cùng các văn bản khác
kèm theo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Hồng Thị Kim L
trình bày:
Ông Hồng Quốc C yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả cho ông 0 khoản tiền vốn
7.500.000.000đ (bảy tỷ năm trăm triệu đồng). Cụ thể: Vào năm 2010,
Nguyễn Thị B Giám đốc Công ty cổ phần N2 cho rằng Công ty cphần N2
đang gặp khó khăn về tài chính, nên B hỏi mượn (vay) ông C số tiền
7.500.000.000đ. Khi đó, ông C nói với B hiện tại ông không tiền,
nhưng Công ty cổ phần L2 có khoản tiền nhưng Công ty cổ phần L2 chưa sử
dụng, ông C cho mượn, sau đó ông sẽ hoàn trả lại cho Công ty cổ phần L2.
Ngày 09 tháng 02 năm 2010, ông Công mượn tiền của Công ty cổ phần L2
1.500.000.00chuyển khoản cho Nguyễn Thị B. Ngày 24 tháng 01 năm
2011, Công ty cổ phần L2 chuyển khoản cho Nguyễn Thị B 6.000.000.000đ.
Tổng cộng 02 lần Công ty cổ phần L2 chuyển khoản cho Nguyễn Thị B số
tiền 7.500.000.000đ. Do nguồn tiền 7.500.000.000đ của Công ty L2 tiền
của Cục Đ1 chuyển cho Công ty cổ phần L2 để sử dụng làm phim, nhưng Công
ty cổ phần L2 chưa sdụng đến, cho nên ông Hồng Quốc Công M tiền của
Công ty L2 rồi cho Nguyễn Thị B vay. Thể hiện bằng phiếu chuyển khoản
ngày 09 tháng 02 năm 2010 và phiếu chuyển khoản ngày 24 tháng 01 năm 2011.
Đến khoảng tháng 6 năm 2011, ông Hồng Quốc C đã trả lại đủ số tiền
7.500.000.00 cho ng ty cổ phần L2. Để chứng minh ông C đã trả lại
7.500.000.00 cho Công ty cổ phần L2: Tháng 7 năm 2013, quan Kiểm
toán Nnước, kiểm toán Công ty cổ phần L2 không có tổ chức nhân nợ
tiền của Công ty cổ phần L2. Ngày 25 tháng 09 năm 2025, ông Hồng Quốc C đã
3
đăng lại Công ty TNHH L2, theo giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viêL2 (từ Công ty cổ phần L2, ông C
đăng lại Công ty TNHH L2), cho nên thời điểm ông C đăng lại Công ty
TNHH MTL2, thì Công ty cổ phần L2 không nợ tiền ai. Đến ngày 05 tháng
07 năm 2022, ông C có gặp bà Nguyễn Thị B yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả lại s
tiền 7.500.000.000đ, nhưng Nguyễn Thị B không trả. Ông C yêu cầu
Nguyễn Thị B trả tiền lãi suất theo quy định của Bộ Luật dân sự là mức tiền lãi
10%/năm (0,83%/tháng), mỗi tháng 62.250.000đ. Thời gian tính lãi từ ngày
05 tháng 07 năm 2022 đến ngày 10 tháng 10 năm 2025 33 tháng, tổng số tiền
lãi là: 2.054.250.000đ. Tổng cộng vốn lãi ông Hồng Quốc C yêu cầu
Nguyễn Thị B phải trả 9.554.250.000đ. Tại phiên toà người đại diện nguyên
đơn thay đổi nội dung khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền
7.500.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Theo văn bản trình bày lời khai của bị đơn Nguyễn Thị B do bà
Nguyễn Thị K đại diện trình bày:
B với ông Hồng Quốc C quen biết làm ăn chung tnhững năm 2004
cho đến năm 2011. Thời điểm này B đang khoản tiền nhàn rỗi, đợi đầu
hoàn thiện các hạng mục khu đô thị B. Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2008
đến cuối năm 2010, ông C nói với B ông C đang đầu dự án Công ty
cổ phần L2 nên nguồn vốn ban đầu bị thiếu hụt và có hỏi B mượn tiền để đầu
Công ty L2. B cũng biết được việc ông C đầu Công ty cổ phần L2
thật. Do giữa B ông C đã từng làm ăn chung nên B rất tin tưởng ông C
đã cho ông Công mượn tiền nhiều lần. Việc B cho ông Công mượn tiền
chủ yếu đưa tiền mặt; ông C nhiều lần trực tiếp nhận tiền mặt của bà. Ngoài
ra, có một số lần bà chuyển tiền vào tài khoản cho ông C còn nhờ người quen
chuyển tiền vào tài khoản cho ông Công M; cụ thể:
B người thân của chuyển cho ông C tổng cộng 21 chứng từ
chuyển tiền với số tiền 3.110.000.000 đồng.
Số tiền mặt ông C trực tiếp nhận của B 03 lần là 4.390.000.000 đồng;
Cụ thể những lần nhận tiền mặt như sau:
Lần 1: Ngày 11 tháng 01 năm 2010, B nguồn tiền từ Doanh nghiệp
nhân S; địa chỉ: A, Nguyễn Tất T2, Khóm G, Phường H, thành phố C, giao
dịch với Ngân hàng N3, Chi nhánh thành phố C, số tiền là: 1.000.000.000 đồng;
số tiền 1.000.000.000 đồng này do chưa sử dụng đến nên B cho ông Công
mượn; ông Công nhận tiền mặt do B đưa tại Mau (có Trần Kim D
chứng kiến).
Lần 2: Ngày 09 tháng 03 năm 2010, B nguồn tiền từ doanh nghiệp
nhân S giao dịch với Ngân hàng N3 - Chi nhánh thành phố C, số tiền là:
3.500.000.000 đồng, Trần Kim Đ đã chi phí đầu vào Nhà hàng SONG
HOA hết 1.110.000.000 đồng; số tiền còn lại 2.390.000.000 đồng này do chưa
sử dụng đến nên bà B cho ông Công mượn; ông Công nhận tiền mặt do bà B đưa
tại Cà Mau (có sự chứng kiến của bà Trần Kim Đ và ông Vũ Trọng H)
4
Lần 3: Ngày 24 tháng 09 năm 2010, B nguồn tiền từ Doanh nghiệp
nhân S, giao dịch với Ngân hàng N3 - Chi nhánh thành phố C, số tiền là:
1.000.000.000 đồng; số tiền 1.000.000.000 đồng này do chưa sử dụng đến nên
B cho ông Công mượn; ông Công nhận tiền mặt do B đưa tại Mau (có
Trần Kim Đ chứng kiến). Thời điểm này B đang kinh doanh Nhà hàng S1
chung với bà Trần Kim Đ.
Tổng số tiền ông Công mượn của B nhiều lần từ năm 2008 đến năm
2011 qua giao dịch chuyển khoản nhận tiền mặt 7.500.000.000 đồng; Ông
C trả nợ cho B 02 lần 7.500.000.000 đồng; việc trả nợ này ông C sử
dụng tài khoản của Công ty cổ phần L2 chuyển tiền vào tài khoản trả nợ cho B;
B xác định số tiền ông C sử dụng tài khoản của Công ty cổ phần L2 chuyển
cho B trả ncho B giao dịch giữa ông C với B, không liên quan
với Công ty cổ phần L2. Giữa B ông C đã thanh toán các khoản nợ xong
từ năm 2011. Từ những căn cứ trên, kính đề nghị quý tòa không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông Hồng Quốc C buộc B phải trả nợ cho ông C số tiền
7.500.000.000 đồng.
- Tại Văn bản ngày 03 tháng 11 năm 2025 người đại diện theo pháp luật
của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên L2 trình bày:
Ông Hồng Quốc C, giám đốc Công ty Cổ phần L2, mượn của Công ty
cổ phần L2 số tiền là 7.500.000.000đ để cho bà Nguyễn Thị B vay (do thời điểm
đó tiền của Cục Đ1 chuyển cho Công ty Cổ phần L2 sử dụng làm phim nhưng
Công ty cổ phần L2 chưa sử dụng đến). Đến khoảng tháng 6 năm 2011 ông
Hồng Quốc C đã trả lại 7.500.000.000đồng cho Công ty Cổ phần L2. Đến m
2013 quan Kiểm toán Nhà nước vào kiểm toán Công ty cổ phần L2 thì
không tổ chức, nhân nào mượn (vay) tiền của Công ty cổ phần L2. Đến
ngày 25 tháng 09 năm 2025 ông Hồng Quốc C đã đăng lại loại hình doanh
nghiệp từ Công ty cổ phần L2 chuyển qua Công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên L2. Cho nên hiện nay ông Hồng Quốc C không còn nợ tiền của Công
ty cổ phần L2.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự thẩm số: 82/2026/DS-ST ngày 09
tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Điều 469 của Bộ luật dân
sự; Điều 12 khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí
Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Quốc C. Buộc bà
Nguyễn Thị B trả cho ông Hồng Quốc C số tiền 6.980.000.000 đồng (sáu tỷ chín
trăm tám mươi triệu đồng).
5
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các
khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Quốc C về
việc yêu cầu Nguyễn Thị B trả số tiền 520.000.000 đồng (năm trăm hai mươi
triệu đồng).
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về quyền và nghĩa vụ thi hành án
quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 17 tháng 4 năm 2026 Nguyễn Thị B kháng cáo bản án sơ thẩm,
yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án thẩm, trường hợp không hubản
án sơ thẩm thì yêu cầu sửa án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ
quyền của bà Nguyễn Thị B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Số tiền 7.500.000.000 đồng chưa xác định là tiền gì, nếu là tiền vay thì tại
sao không thể hiện nội dung chuyển khoản. Thời gian đã lâu tại sao ông C
không yêu cầu B thực hiện nghĩa vụ này. Ngoài ra, ông C xác định cho B
mượn 5.000.000.000 đồng nhưng tại sao không khởi kiện cùng vụ án này. Từ
năm 2008 B chuyển khoản cho ông C nhiều lần nhưng án thẩm chưa làm
rõ; án thẩm đối trừ số tiền 1.320.000.000 đồng buộc B trả
6.980.000.000 đồng sao không đối trừ các lần chuyển khoản khác chỉ đối
trừ số tiền này. Giữa Nguyên đơn với bị đơn có chuyển khoản đan xen nhưng án
sơ thẩm không làm rõ mà cắt ngang khoản này để đối trừ là cần xem xét lại. Ông
C xác định khó khăn về kinh tế nhưng lại chuyển tiền nhiều lần cho B mượn
không phù hợp. Đ chứng kiến việc giao tiền nhưng tại sao không xác
minh. Toà án cấp thẩm đã thiếu sót vi phạm rất nhiều nên đề nghị Hội
đồng xét xử huỷ bản án thẩm, nếu không huỷ bản án thẩm thì đnghị
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Án thẩm đã xét xử đúng pháp luật, không vi phạm gì. B cho
rằng số tiền 7.500.000.000 đồng ông C chuyển trả B thì điều đó chứng
minh số tiền này là tiền cá nhân ông C, nên không cần phải chứng minh. Việc nợ
nần giữa Công ty L2 với ông C đã có văn bản xác định không còn, không có nợ.
Số tiền chuyển khoản cho ông N Quỳnh án thẩm đã tách ra sở
ràng. Còn số tiền đối trừ theo án sơ thẩm, ông C vẫn đồng ý mặc dù bị đơn chưa
chứng minh được. Do đó, án sơ thẩm không vi phạm tố tụng, đã xét xử là có căn
cứ. Đối với số tiền 5.100.000.000 đồng tiền vay Ngân hàng C1, sau đó ông C
cho Công ty B mượn; đây là tiền Công ty N2, không phải là tiền riêng của
6
B. Còn các phiếu chuyển khoản của ông L1, N1, K1 sau khi xét xử
thẩm B mới nộp nên đề nghị tách ra. Do đó, yêu cầu bác kháng cáo của
nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư các đương sự thực
hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ
án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị B;
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 82/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị B nộp trong hạn luật định và hợp lệ
nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương s: Người đại diện theo pháp luật của
Công ty L2 đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên tiến hành xét xử vụ án vắng
mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng:
+ Theo đơn khởi kiện quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông C
chỉ yêu cầu B trả số tiền 7.500.000.000 đồng. Tuy nhiên, án thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 7.500.000.000 đồng và cả số tiền
800.000.000 đồng là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, vi phạm khoản 1 Điều
5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ B xác định người nhà của chuyển khoản cho ông ng
mượn tiền, trong đó ông Nguyễn Văn L1, bà Yến N1, Nguyễn Thị K1
chuyển khoản cho ông C trong 10 chứng từ chuyển khoản với tổng số tiền
1.320.000.000 đồng; bản án thẩm đối trừ số tiền 1.320.000.000 đồng vào s
tiền 7.500.000.000 đồng. Tuy nhiên, cấp thẩm không đưa ông Nguyễn Văn
L1, Yến N1, Nguyễn Thị K1 tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa thiếu người tham gia tố tụng; đồng thời để
làm số tiền này ông L1, N1, K1 chuyển khoản cho ông C như nội dung
bà B trình bày hay là giao dịch riêng giữa ông L1, bà N1, bà K1 với ông C.
+ B chứng minh ông Trần Nhật Q (con rể B) chuyển khoản cho
ông C 11 chứng tvới tổng số tiền 1.730.000.000 đồng, Toà án cấp thẩm
không đưa ông Trần Nhật Q tham gia tố tụng với cách người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan để làm rõ nội dung này, mà tách ra giải quyết ở vụ án khác
giải quyết chưa triệt để, toàn diện vụ án.
[4] Về nội dung:
+ Quá trình tham gia tố tụng tại phiên toà, cả nguyên đơn bị đơn
đều thừa nhận ông Hồng Quốc C chuyển cho Nguyễn Thị B số tiền
7.500.000.000 đồng, theo chứng từ chuyển tiền ngày 09 tháng 02 năm 2010 số
7
tiền 1.500.000.000 đồng và chứng từ chuyển tiền ngày 24 tháng 01 năm 2011 số
tiền 6.000.000.000 đồng; hai chứng từ chuyển tiền thể hiện người chuyển
Công ty cổ phần L2, người nhận Nguyễn Thị B. Nguyên đơn xác định số
tiền trên nguyên đơn chuyển cho bị đơn mượn, nên yêu cầu bị đơn trả lại; còn bị
đơn xác định số tiền trên do nguyên đơn chuyển trả tiền mượn cho bị đơn, do
trước đó bị đơn cho nguyên đơn mượn.
+ Ông C xác định chuyển khoản cho bà B mượn tiền 02 lần tổng số tiền là
7.500.000.000 đồng B thừa nhận nhận số tiền này, nên sở xác
định bà B nhận tiền từ ông C số tiền là 7.500.000.000 đồng.
+ Bà B người nhà bà B chuyển khoản cho ông C trong 11 chứng từ với
tổng số tiền 1.320.000.000 đồng, ông C xác định nhận số tiền này do
B người nhà B chuyển trả đối với khoản tiền ông C cho B mượn
5.000.000.000 đồng chuyển khoản theo tài khoản ông Q (con rể B). Án
thẩm đối trừ số tiền 1.320.000.000 đồng nhưng chưa làm số tiền này B
chuyển trả ông C hay bà B chuyển cho ông Công mượn.
+ B chứng minh việc giao tiền mặt cho ông C 03 lần với số tiền
4.390.000.000 đồng chứng kiến của Trần Kim Đ (Kế toán công ty B)
ông Trọng H (chồng bà B), mặc những người này người nhà B
nhưng cần phải xác minh, ghi lời khai và có thể đối chất để làm rõ nội dung này.
Tuy nhiên, cấp thẩm không tiến hành bác toàn bộ chứng cứ này của bà B
là chưa đánh giá toàn diện chứng cứ vụ án.
[6] Từ sở nêu trên, căn cứ xác định Toà án cấp thẩm đưa thiếu
người tham gia tố tụng; giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện; chưa xác minh
thu, thập chứng cứ đầy đủ để đánh giá toàn diện chứng cứ vụ án. Các thiếu sót
trên, Toà án cấp phúc thẩm không thể bổ sung, nên cần huỷ bản án sơ thẩm, giao
hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau thụ lý, giải quyết lại vụ án
theo quy định pháp luật.
[7] Do có căn cứ huỷ bản án thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét
nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị B.
[8] Xét ý kiến trình bày của Luật bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của bị
đơn sở nên được chấp nhận. Ý kiến trình bày của Luật sư bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Mau tại phiên toà đề nghị không chấp nhận kháng cáo của
Nguyễn Thị B, giữ nguyên bản án thẩm chưa phù hợp nên không chấp
nhận.
[9] Về án phí: Án phí dân sự thẩm sẽ được Toà án cấp thẩm xem
xét, giải quyết khi thụ lý giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật. Án phí dân
sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị B không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
8
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Huỷ Bản án dân sự thẩm số: 82/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau.
Giao hồ vụ án cho Toà án nhân dân khu vực 1 Mau thụ lý, giải
quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được Toà án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết khi
thụ lý, giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
Án phí dân sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị B không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Cà Mau; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 1 - Cà Mau;
- THADS Khu vực 1 - Cà Mau;
- Đương sự;
- Lưu, Tổ HCTP.
Trương Thanh Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 540/2026/DS-PT Bản án số 540/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 540/2026/DS-PT Bản án số 540/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất