Bản án số 689/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 689/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 689/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 689/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông B khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền 55.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 689/2026/DS-PT Bản án số 689/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 689/2026/DS-PT Bản án số 689/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 689/2026/DS-PT
Ngày: 14-8-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
CỘNG A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Hải.
Ông Võ Thanh Bình.
- Thư phiên tòa: Ông i Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25/5/2026, ngày 17/6/2026, ngày 15/7/2026 và ngày
14/8/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công
khai vụ án dân sự thụ số 251/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2026 về
việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 390/2025/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực H - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 975/2026/QĐ-PT ngày
11 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Hồng B, sinh năm 1963 (có mặt);
Địa chỉ: Số E, Khu phố F, phường G, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn
Hồng B: Luật Trần Ngọc Q - Văn phòng Luật Trần Ngọc Q thuộc Đoàn
Luật sư tỉnh Đ (có mt).
2. Bị đơn: Trần Thanh H, sinh năm 1964 (có mặt ngày 14/8/2026; vắng
mặt các ngày 25/5/2026, ngày 17/6/2026, ngày 15/7/2026; vắng mặt có đơn yêu
cầu xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B trình bày: Năm 2023, ông có cho ông
Trần Thanh H mượn (vay) số tiền 55.000.000 đồng, hai bên không làm giấy tờ,
mượn không lãi. Sau một thời gian, ông B yêu cầu ông H trả nhiều lần
nhưng ông H cố tình không trả, nên ông có ghi âm lại cuộc nói chuyện giữa ông
với ông H về số tiền nêu trên.
Nay, ông B khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền 55.000.000 đồng, không
yêu cầu tính lãi, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Trần Thanh H trình bày: Vào ngày 01/11/2021, ông
Nguyễn Hồng B và ông Hà Hào T cùng vợ là Võ Thị H1 có tranh chấp hợp đồng
vay vốn tại Tòa án nhân dân huyện Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Ông B
làm hợp đồng ủy quyền cho ông người đại diện tham dự các cuộc hòa giải tại
Tòa án. Đến ngày 04/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Công Đ đã mở phiên
hòa giải thì ông B thắng kiện. Theo đó vợ chồng ông T, H1 nghĩa vụ trả
cho ông B số tiền 300.000.000 đồng, sau khi được thi hành án thì ông B chi bồi
dưỡng cho ông số tiền 35.000.000 đồng.
Ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông B, ông không
mượn ông B số tiền 55.000.000 đồng vào năm 2023 như trình bày của ông B.
Ông H yêu cầu ông B đưa ra giấy mượn tiền, đồng thời yêu cầu Tòa án đình chỉ
thụ lý vụ án và cho ông xin vắng mặt khi giải quyết vụ án.
Tại bản án dân sự thẩm s390/2025/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp (viết tắt bản án
thẩm) đã xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng B.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/01/2026, nguyên đơn ông Nguyễn Hồng
B nộp đơn kháng cáo đề ngày 29/12/2025 để kháng cáo toàn bộ bản án thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B buộc bị đơn ông Trần Thanh H trả
cho ông số tiền 55.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn
Hồng B Luật Trần Ngọc Q trình bày: Năm 2023, ông Nguyễn Hồng B
cho ông Trần Thanh H mượn (vay) số tiền 55.000.000 đồng, không tính lãi, hai
bên không lập giấy vay do quan hệ quen biết và thời gian vay ngắn. Sau một
thời gian ông H không trả nợ nên ông B nhiều lần gọi điện thoại đòi nợ và có ghi
âm lại các cuộc trao đổi. Mặc hai bên không lập giấy vay, nhưng ông B
cung cấp các đoạn ghi âm về cuộc nói chuyện giữa hai bên, trong đó ông H hứa
sẽ trả số tiền 55.000.000 đồng. Ngoài ra, việc giao nhận tiền nhiều người
chứng kiến, nguồn chứng cứ theo quy định tại Điều 94, Điều 95 Bộ luật Tố
3
tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông H để thu
thập mẫu giọng nói phục vụ việc giám định, nhưng ông H không thực hiện theo
yêu cầu của Tòa án.
Đối với ý kiến của ông H cho rằng năm 2021 ông từng đại diện theo ủy
quyền cho ông B tham gia giải quyết một vụ việc được ông B bồi dưỡng số
tiền 35.000.000 đồng thì đây quan hệ khác, không liên quan đến khoản tiền
55.000.000 đồng mà ông B khởi kiện yêu cầu thanh toán trong vụ án này. Bản án
thẩm nhận định ông B không chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện nên
không chấp nhận u cầu chưa phù hợp. Tại cấp thẩm, ông B đã giao nộp
đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa hai bên qua điện thoại, trong đó ông H nhiều
lần hứa trả nợ, đặc biệt hứa sẽ trả vào mùng 8 Tết năm 2023. Đây là nguồn chứng
cứ theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông B cũng đã giao nộp tài liệu nghe
được, nhìn được từ dữ liệu điện tử theo khoản 2, khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng
dân sự. Nếu không có khoản nthì không có việc ông H hứa trả nợ.
Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
ông Nguyễn Hồng B, sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Trần Thanh H trả cho ông
Nguyễn Hồng B số tiền 55.000.000 đồng.
- Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B trình bày: Thống nhất với toàn bộ ý
kiến trình bày của Luật Trần Ngọc Q người bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp cho ông như nêu trên, ông B không bổ sung gì thêm.
- Bị đơn ông Trần Thanh H trình bày: Không đồng ý với ý kiến của
nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hp pháp của nguyên đơn cho rằng
ông H ợn stiền 55.000.000 đồng. m 2022 ông H chỉ nhận số tiền bồi
dưỡng từ ông B 35.000.000 đồng ông B nhờ ông gửi số tiền 20.000.000
đồng cho con rể của ông B anh Phạm Tuấn H2. Đối với ý kiến của Luật
cho rằng việc ông B cho ông H ợn tiền nhiều người chứng kiến thì ông
không đồng ý, người làm chứng thứ nhất chị Nguyễn Lưu Hồng N con
ruột ông B, thời điểm năm 2023 chị N đang chấp hành án phạt vma túy
chưa được xóa án tích, còn người làm chứng thứ hai anh Nguyễn Bảo Q1
cháu ruột của ông B, thời điểm xảy ra sự việc anh Q1 đang làm việc thành
phố, không mặt tại địa phương. vậy, ông H không thống nhất kháng cáo
của nguyên đơn do ông không ợn số tiền 55.000.000 đồng của ông B vào
năm 2023.
- Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B
thc hiện đúng quy đnh và hp l theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về
việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư những người tham gia tố tụng từ khi thụ vụ án
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng đã thc hiện đúng, đầy đủ
quyn và nghĩa v tố tụng theo quy định của pháp luật.
4
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự; sửa bản án dân sự thẩm số 390/2025/DS-ST ngày 26 tháng
12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp theo hướng chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B; chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
1128/PB-VKS-DS ngày 14/8/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp thụ giải
quyết thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đúng quy định tại
khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự về quan hệ tranh chấp thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x
thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B không thng nhất với bản án sơ thẩm nên
đã kháng cáo. Vic ông B kháng cáo vào ngày 05/01/2026 là trong thi hn
kháng cáo theo quy đnh tại Điều 273 B lut T tng dân sự, nên được xem xét
gii quyết theo th tc phúc thm.
[2] V nội dung: Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B cho rằng năm 2023
ông cho ông Trần Thanh H vay (mượn) số tiền 55.000.000 đồng, việc cho
vay không lập thành văn bản, chỉ thỏa thuận bằng lời nói (bằng miệng), vay
không lãi. Ông B khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền vay còn nợ 55.000.000
đồng, không yêu cầu tính lãi, căn cứ khởi kiện là đoạn ghi âm lại cuộc nói
chuyện giữa ông B với ông H và Vi bằng do Văn phòng T1 ngày 23/6/2026 (viết
tắt là Vi bằng ngày 23/6/2026) về số tiền nợ nêu trên.
Bị đơn ông Trần Thanh H cho rằng ông không vay số tiền 55.000.000
đồng của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B. Trước đó ngày 01/11/2021, ông B
tranh chấp hợp đồng vay vốn với vợ chồng ông Hào T, bà Thị H1 tại
Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông. Vụ án được giải quyết xong bằng Quyết
định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự số 35/2022/QĐST-DS ngày
14/3/2022, do ông T, H1 trả cho ông B stiền 300.000.000 đồng, nên ông B
chi bồi dưỡng (thù lao) cho ông H số tiền 35.000.000 đồng, nên không đồng ý
theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này làm phát sinh tranh chấp giữa
các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Trần Thanh H trả cho ông B
55.000.000 đồng là có cơ sở. Bởi các căn cứ như sau:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B cung cấp Vi bằng ngày 23/6/2026 cho
Tòa án cấp phúc thẩm; theo ông B trình bày ông ghi âm qua điện thoại của
5
ông vcác cuộc nói chuyện giữa ông bị đơn ông Trần Thanh H, thể hiện nội
dung ông đòi tiền nợ vay của ông H đối với số tiền 55.000.000 đồng, ông H
có thừa nhận nợ và hứa trả nhiều lần nhưng không thực hiện; đồng thời cung cấp
USB ghi nhận âm thanh cuộc hội thoại giữa ông ông H. Tại phiên tòa phúc
thẩm ngày 14/8/2026, ông H thừa nhận giọng nói trong các file ghi âm được lưu
trong USB do ông B cung cấp cho Tòa án giọng nói của ông và ông B, việc
ông B ghi âm thời gian nào thì ông H không biết, đồng thời không biết cuộc hội
thoại giữa ông ông H trong file ghi âm bị cắt ghép hay không, tuy nhiên
ông H không yêu cầu Tòa án giám định các đoạn ghi âm này. Ngoài ra, tại phiên
tòa phúc thẩm ngày 15/7/2026 ông B yêu cầu Tòa án giám định giọng nói
trong đoạn ghi âm là của ông H; để bảo đảm quyền lợi cho ông H do ông có đơn
xin xét xử vắng mặt, Tòa án đã ban hành Thông báo số 27/TB-TA ngày
30/7/2026 về việc yêu cầu ông H cung cấp ý kiến bổ sung tài liệu, chứng cứ
đồng thời tống đạt cho ông H nhận ngày 01/8/2026, nhưng hết thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được Thông báo, ông H không văn bản ý kiến về tài liệu,
chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Cho thấy bị đơn đã từ bỏ quyền và thực hiện
nghĩa vụ chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả của việc không đưa ra tài
liệu, chứng cứ chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Xét nội dung các file ghi âm do ông B cung cấp cho Tòa án thể hiện các
cuộc hội thoại giữa ông B ông H, trong đó ông B nhiều lần nhắc đến khoản
tiền 55.000.000 đồng, còn ông H thừa nhận đang thu xếp tiền để trả cho ông B;
ông H thừa nhận giọng nói của mình thừa nhận nội dung các file ghi âm,
đồng thời không yêu cầu giám định đối với các file ghi âm này. Như vậy, chứng
cứ do ông B cung cấp các file ghi âm đã được ông H thừa nhận vgiọng nói
nội dung. Trong đó, theo Vi bằng ngày 23/6/2026, tập tin ghi âm “Đồng
Khởi 58” ngày 17/5/2025, có đoạn hội thoại thể hiện như sau:
“+ Bạch: 15 tây là ông về chạy xuống tôi đưa tiền tôi hả.
+ H: thì tôi chạy tiền xong rồi tôi xuống tôi gửi tiền, hổm rài già
bệnh nằm trển, hồi sáng chạy xuống dưới thằng em mượn tiền đặng lên đóng
tiền viện, chuyển viện nay thứ sáu”
….
“+ Bạch: tổng cộng nvậy là 15 tây ông làm sao nguồn đâu ông
tiền là 55 triệu ông về ông đưa tôi
+ H: cái chuyện đó đđi tôi ấy, ri tôi v son thtục cho bà g chuyn đi”.
vậy, trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B tài liệu, chứng
cứ do ông B cung cấp sở chứng minh bị đơn ông H còn nợ ông B số tiền
55.000.000 đồng cho đến thời điểm ghi âm ngày 17/5/2025, nhưng cho đến nay
ông H vẫn chưa trả tiền nợ cho ông B.
- Đối với việc bị đơn ông Trần Thanh H không thừa nhận vay của
nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B số tiền 55.000.000 đồng, mà cho rằng chỉ nhận
tiền thù lao từ ông B 35.000.000 đồng do đã làm đại diện theo ủy quyền của ông
B trong vụ án khác và nhận từ ông B 20.000.000 đồng để chuyển khoản cho ông
6
Phạm Văn H3 (con rể ông B) thay ông B, ngoài ra ông H không nhận số tiền
nào khác từ ông B. Tuy nhiên, theo trình bày của ông B thì khoản tiền
55.000.000 đồng ông khởi kiện ông H khoản vay năm 2023; còn khoản tiền
ông B đưa cho ông H 30.000.000 đồng tiền bồi dưỡng (thù lao) do ông H đại
diện theo ủy quyền cho ông B trong vụ án dân sự theo Quyết định công nhận s
thỏa thuận giữa các đương sự số 35/2022/QĐST-DS ngày 14/3/2022, theo đó
ông T, H3 trả cho ông B số tiền vay 300.000.000 đồng (tiền thù lao tương
ứng với 10% số tiền ông B nhận được t ông T, H3) khoản tiền
20.000.000 đồng ông B đưa cho ông H để chuyển giùm cho anh H3, đây là
khoản tiền khác được thực hiện vào năm 2022, không liên quan đến khoản vay
55.000.000 đồng năm 2023 mà ông B đang khởi kiện. Xét thấy trình bày của
ông B phù hợp tình tiết các tài liệu, chứng cứ theo hồ sơ vụ án, còn ông H
không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình
cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B vẫn giữ yêu cầu kháng
cáo. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của ông B căn cứ, đồng thời
nguyên đơn cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng
o của mình là có cơ sở như đã phân tích trên.
[5] T sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo ca ông
Nguyễn Hồng B, sửa bản án thẩm theo hướng buộc ông Trần Thanh H
nghĩa vụ trả cho ông B stiền 55.000.000 đồng. Do ông B không yêu cầu tính
lãi suất chậm thanh toán, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Việc sửa bản án sơ thẩm không có lỗi từ Tòa án cấp sơ thẩm mà do đương
sự cung cấp tài liệu, chứng cứ bổ sung tại Tòa án cấp phúc thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy là có sở và phù hp pháp lut, nên
được chấp nhận.
[7] Đối với đề ngh của Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B tại phiên tòa hôm nay như nêu trên, Hội đồng
xét xử xét thấy là có cơ sở, nên được xem xét chấp nhận.
[8] Về án phí: Do kháng cáo của ông Nguyễn Hồng B được chấp nhận,
nên ông B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phn khác ca bn án thm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut kể từ ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B;
7
2. Sửa bản án dân sự thẩm số 390/2025/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp.
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1
Điều 39, các Điều 147, 148, 227, 228, 273 và Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự;
các Điều 463, 466, 468 Điều 147 Bộ luật Dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều
12, khoản 2 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng B
đối với bị đơn ông Trần Thanh H.
Buộc ông Trần Thanh H nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hồng B số tiền
55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng).
2.2. Kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án
(đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Thanh H phải chịu 2.750.000đ (hai triệu bảy trăm năm ơi
nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Hồng B được xét miễn nộp tạm ứng án phí và án phí.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Hồng B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều
7 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vc H - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc H - Đng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 689/2026/DS-PT Bản án số 689/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 689/2026/DS-PT Bản án số 689/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất