Bản án số 102/2026/HS-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 102/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 102/2026/HS-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 102/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Le Thanh N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 102/2026/HS-PT Bản án số 102/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 102/2026/HS-PT Bản án số 102/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 102/2026/HS-PT
Ngày 10 - 8 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Thanh Gia
Các Thẩm phán: Ông Trương Nam Trung
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Nguyễn Hoàng Yến Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 157/2026/TLPT-HS ngày 09 tháng 7 năm
2026 đối với bị cáo Lê Thành N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự
thẩm số: 73/2026/HS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 – Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Thành N, sinh ngày 03/7/2003 tại tỉnh Bình Định (nay tỉnh Gia Lai); số
căn cước công dân: ************; nơi trú: Tổ dân phố N, phường A, tỉnh Gia
Lai; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thanh Đ (đã chết) Châu
Thị Thu V, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ,
tạm giam tngày 16/01/2026 đến ngày 24/4/2026 được thay thế bằng biện pháp
ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn có bị cáo Nguyễn Văn B không có kháng cáo và không bị kháng
cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 16/01/2026, Nguyễn Văn B chuẩn bị sẵn 03 bình
xịt hơi cay, 08 gói bả chó, 02 túi nilon, một bao tải màu đen 01 cuộn băng keo
màu đỏ rồi rủ Lê Thành N cùng thực hiện hành vi trộm chó để bán lấy tiền tiêu xài.
2
N đồng ý nên điều khiển xe mô tô hiệu Sirius biển kiểm soát 77L2-285.95 (xe do
Lê Thị M vợ bị cáo B mua lại) chở B đi trên các tuyến đường thuộc địa bàn phường
A và A. Khi phát hiện chó thả rông, N điều khiển xe tiếp cận, B ngồi sau xe vứt
bả cho chó ăn rồi đợi đến khi chó chết thì quay lại thu gom xác chó cho vào bao tải,
cả hai đã trộm cắp được chó của các hộ dân như sau:
- Tại khu vực xóm T, tổ dân phố T, phường A, tỉnh Gia Lai, trộm cắp 01 con
chó lông dài, màu vàng, trọng lượng 11kg của ông Trần Văn B1; 01 con chó lông
ngắn, màu vàng, trọng lượng 11kg của ông Nguyễn Minh T 01 con chó màu vàng
đen, trọng lượng 08kg không xác định được bị hại.
- Tại khu vực xóm V, tổ dân phố T, phường A, tỉnh Gia Lai, trộm cắp 01 con
chó lông ngắn, màu vàng, trọng lượng 10kg không xác định được bị hại.
- Tại khu vực xóm T, tổ dân phố T, phường A, tỉnh Gia Lai, trộm cắp 01 con
chó lông xù, màu xám, trọng lượng 07kg không xác định được bị hại.
- Tại khu vực xóm A, thôn N, A, tỉnh Gia Lai, trộm được 03 con chó gồm:
01 con chó lông xù, màu vàng đen, trọng lượng 10kg của ông Trương Ngọc B2; 01
con chó lông ngắn, màu vàng đen, trọng lượng 17kg của ông Bạch Ngọc H; 01 con
chó lông xù, màu đen, trọng lượng 13kg của ông Phạm Minh Q.
Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, khi B N đang thu gom xác chó tại
xóm A, thôn N, xã A, tỉnh Gia Lai thì bị ông Hồ Ngọc V1 ông Bạch Ngọc H phát
hiện, hô hoán và cùng người dân khống chế, báo cáo Công an xã A.
Ngoài ra, các bị cáo còn khai nhận ngày 13/01/2026 cùng phương thức nêu trên
đã trộm 05 con chó trên địa bàn phường A phường B nhưng không xác định được
bị hại rồi đem bán cho Thị Ngọc H1 (sinh năm 1977; trú tại: Tổ dân phố
K, phường B, tỉnh Gia Lai) với số tiền 2.100.000 đồng rồi cả hai chia đều nhau tiêu
xài cá nhân.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 19/01/2026, Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự A, tỉnh Gia Lai kết luận: Tổng giá trị
08 con chó tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị: 4.785.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 642/KL-KTHS ngày 27/03/2026, Phòng K Công an
tỉnh G kết luận: 03 bình xịt gửi giám định đều là bình xịt hơi cay được quy định tại
phụ lục 4, Danh mục công cụ hỗ trợ” quy định tại Thông số 75/2024/TT-BCA
ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C quy định chi tiết một số điều của Luật quản
lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G thu giữ: 08 con chó đã chết; 01 xe
nhãn hiệu Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 77L2-285.95; 01 bình xịt hơi
cay kích thước chiều cao 23 cm, đường kính đáy 6cm, tay cầm bằng nhựa màu
đen, thân bình quấn băng keo màu đen; 02 bình xịt hơi cay cùng có kích thước chiều
cao 14,5cm, đường kính đáy bình 03cm; 02 bình xịt hơi cay được quấn băng keo
màu đen dính lại với nhau; 01 cuộn băng keo màu đỏ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã xử tài sản bằng hình thức tiêu
hủy 08 con chó; trả lại 01 xe mô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát
3
77L2-285.95 cho Lê Thị M; tách chuyển cho Công an xã A 03 bình xịt hơi cay,
01 cuộn băng keo màu đỏ là công cụ hỗ trợ để xử lý hành chính theo quy định pháp
luật.
Về phần dân sự: Các bị hại không có ai yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Tại Bản án hình sự thẩm số 73/2026/HS-ST ngày 05/6/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 2 Gia Lai đã căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 khoản
2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N 09 tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản”. Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về phần hình phạt đối với bị
cáo Nguyễn Văn B, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 17/6/2026, bị cáo N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng
án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và chấp nhận
kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo N, sửa bản án thẩm về phần hình
phạt đối với bị cáo N, xử phạt bị cáo N 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo n
định thời gian thử thách theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 16/01/2026, Nguyễn Văn B đã có hành vi
chuẩn bị sẵn 03 bình xịt hơi cay, 08 gói bả chó, 02 túi nilon, một bao tải màu đen và
01 cuộn băng keo màu đỏ rồi rủ Thành N cùng thực hiện hành vi trộm chó trên
địa bàn các phường A và A, tỉnh Gia Lai để bán lấy tiền tiêu xài. Khi phát hiện chó
thả rông, N điều khiển xe tiếp cận, B ngồi sau xe vứt bả cho chó ăn rồi đợi đến khi
chó chết thì quay lại thu gom xác chó cho vào bao tải. Đến khoảng 07 giờ 00 phút
cùng ngày, khi B N đang thu gom xác chó tại xóm A, thôn N, A thì bị người
dân địa phương phát hiện, khống chế và báo cáo Công an xã A; cả hai đã trộm được
08 con chó, trong đó 05 con chó xác định được bị hại với tổng trị giá tài sản 05
con chó bị chiếm đoạt là 3.410.000 đồng và 03 con chó không xác định được bị hại.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai đã xét xử các bị cáo B N về tội
“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự căn cứ, đúng
quy định của pháp luật.
[2] Bị cáo nhận thứchành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở
hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội,
bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần xử nghiêm, tương
xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng án treo của bị cáo
Lê Thành N, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
4
Trong vụ án này mặc dù cả 02 bị cáo đều trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội
nhưng so với bị cáo N ttính chất vai trò của bị cáo B cao hơn do bị cáo B
người khởi xướng, chuẩn bị công cụ; ngoài ra, bị cáo B nhân thân xấu, còn bị cáo
N phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong qtrình điều tra,
truy tố, xét xử, bị o N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo hoàn cảnh
khó khăn, cha bị cáo chết, mẹ bị cáo đã gia đình mới, bị cáo đang với nội
sinh năm 1944 01 em ruột sinh năm 2013, bị cáo là lao động chính trong gia đình
(có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường A); do đó, bị cáo được hưởng các tình
tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình
sự.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết giảm
nhẹ đối với bị cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo N 09 tháng phù hợp
nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bcáo, thấy rằng: Bị cáo không có
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu
trên; giá trị tài sản bị trộm cắp cũng không lớn; bị cáo nhân thân tốt, phạm tội lần
đầu và có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đang ở với bà nội
sinh năm 1944 và 01 em ruột sinh năm 2013 đang độ tuổi đi học, bị cáo là lao động
chính trong gia đình, nếu cách ly bcáo sẽ ảnh hưởng lớn đến gia đình của bị o
nên cần tạo điều kiện để bị cáo tiếp tục làm việc, đảm bảo đời sống gia đình. Từ
những phân tích trên, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù do
bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm
cho hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ Nghị
quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo đủ điều kiện được
hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin được
hưởng án treo của bị cáo N, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[4] Do kháng cáo được chấp nhận một phần, Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo nên bị cáo N không phải chịu án phí hình
sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án hình sự thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị không
chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt chấp nhận kháng cáo xin được hưởng
án treo của bị cáo N, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo N, xử phạt
bị cáo N 09 tháng nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo
quy định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố
tụng hình sự;
5
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65
của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt chấp nhận kháng cáo
xin được hưởng án treo của bị cáo Thành N. Sửa Bản án hình sự thẩm số
73/2026/HS-ST ngày 05/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 Gia Lai về phần
hình phạt đối với bị cáo Lê Thành N.
2. Xử phạt bcáo Thành N 09 (chín) tháng nhưng cho hưởng án treo về
tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày
tuyên án phúc thẩm (ngày 10/8/2026).
Giao bị cáo Lê Thành N cho y ban nhân dân phường A, tỉnh Gia Lai giám sát
và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi tthì thực hiện
theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian ththách, người
được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa v02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định
buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng
án treo.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Thành N không phải chịu.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 2 Gia Lai;
- VKSND khu vực 2, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 2, tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Văn Thanh Gia
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 102/2026/HS-PT Bản án số 102/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 102/2026/HS-PT Bản án số 102/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất