Bản án số 720/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 720/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 720/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 720/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trương Thị T và Trương Quang C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 720/2026/DS-PT Bản án số 720/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 720/2026/DS-PT Bản án số 720/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 720/2026/DS-PT
Ngày: 25 - 8 - 2026
“V/v tranh chấp Quyền sử dụng đất,
tuyên bố văn bản thỏa thuận về việc
phân chia thừa kế, hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất vô hiệu và chia di
sản thừa kế theo quy định pháp luật
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ
Các Thẩm phán:Ông Lê Khắc Thịnh
Ông Võ Ngọc Giàu
- Thư phiên tòa: Dương Thị Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Hữu Nghi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 25 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 271/2026/TLPT-
DS ngày 16 tháng 4 năm 2026, về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất, tuyên bố
văn bản thỏa thuận về việc phân chia thừa kế, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất vô hiệu và chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật”.
Do Bản án n sự thẩm số: 219/2025/DS-ST ngày 11 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực F Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 987/2026/QĐ-PT ngày 11 tháng 5
năm 2026; Thông báo mở lại phiên toà dân sự phúc thẩm số: 500/TB-TA ngày
13 tháng 7 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số:
1039/2026/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Trương Thị T2, sinh năm 1959.
Địa chỉ: C, khu V, phường T, Thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T2: Luật sư Nguyễn Thế S
- Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư thành P2.
- Bị đơn: Ông Trương Quang C, sinh năm 1980.
Địa chỉ: ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi và nghĩa v liên quan:
2
1. Bà Trương Thị Thanh H, sinh năm 1960.
Địa chỉ: p H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bà Trương Thị C1, sinh năm 1965.
Địa chỉ: ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
3. Bà Trương Thị Minh N, sinh năm 1971.
Địa chỉ: D T, phường R, tỉnh An Giang.
4. Bà Trương Thị Đ, sinh năm 1968.
Địa chỉ: ấp P, xã T, tỉnh An Giang.
5. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát Triển thành phố H (H2).
Địa chỉ: B B N, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện ủy quyền: Dương Thị Phương L Chức vụ: Phó Giám đốc phụ
trách H2;
Người được ủy quyền lại:Trần Thị Thu T1, sinh năm 2001.
Địa chỉ: 2-4-6-8 Đ, khu phố A, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
6. Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1964.
7. Anh Trương Quang V, sinh năm 2005.
8. Cháu Trương Nam P, sinh năm 2011.
Đại diện hợp pháp của cháu P: Anh Trương Quang C, sinh năm 1980;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
9. Văn phòng C2.
Đại diện theo pháp luật: Ngô Thị Hoàng K, sinh năm 1978. Chức vụ:
Trưởng văn phòng.
Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
T2, H, N, C1, Luật S, anh C mặt; N1, anh V, Văn
phòng C2; bà Đ, Ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H xin vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Trương Thị T2; Người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Trương Thị Thanh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
- Nguyên đơn Trương Thị T2 trình bày: Cha của bà T2 cụ Trương
Văn H1, sinh năm 1930 (hy sinh trong kháng chiến năm 1972), mẹ cụ Phan
Thị S1, sinh năm 1940 (chết 2006). Cha mẹ tổng cộng 06 người con gồm:
Trương Quang Đ1 (chết ngày 31/7/2020), Trương Thị T2, Trương Thị Thanh H,
Trương Thị C1, Trương Thị Đ, Trương Thị Minh N. Lúc còn sống cụ H1 tạo
3
lập được thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.240m
2
tọa lạc tại Khu phố
B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp).
Sau khi cụ H1 mất các anh chị em của T2 thống nhất với nhau sdụng
phần đất này làm đất thổ mộ chôn cất cha mẹ làm nhà thờ cho dòng họ, hiện
tại trên thửa đất 17 ngôi mộ, ttrước đến nay các anh chị em luôn quản lý,
tôn tạo và xây dựng nhà thờ từ đường để thờ cúng cho dòng họ (nhà do bà T2 bỏ
tiền ra xây dựng). Do các anh chị em cuộc sống mưu sinh nên đi làm sinh
sống nơi khác nên đã thống nhất tạm thời giao phần đất hương quả của gia
đình cho người anh trai cả là ông Trương Quang Đ1 (là cha ruột của anh Trương
Quang C) đại diện đứng tên tạm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nên
đây tài sản chung của các anh chị em không thuộc sở hữu riêng của nhân
ai, không ai trong gia đình được thế chấp, sang nhượng phần đất này cho bất k
ai.
Tuy nhiên, sau khi ông Đ1 chết thì gia đình đã làm văn bản thỏa thuận phân
chia thừa kế cho Huỳnh Thị N1 (là mẹ của anh C) đứng tên giấy nhận quyền
sử dụng đất và sau đó bà N1 làm thtục tặng cho phần đất này cho anh C đã
đứng tên thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.240m
2
do Sở tài nguyên và
môi trường tỉnh T cấp ngày 21/10/2021. Sau đó anh C đã đem phần đất này thế
chấp vay tiền tại Ngân hàng TMCP phát triển Thành Phố H Chi nhánh T3
Phòng G.
Việc anh C tý làm thủ tục sang tên phần đất đem thế chấp vay tiền
Ngân hàng không đúng. phần đất này là đất thổ mộ chung của gia đình,
được sử dụng đất hương quả thờ cúng, trên đất nhà thờ từ đường do T2
xây dựng mộ phần của dòng họ. Nguồn gốc đất không phải do ông Đ1 được
tặng cho riêng mà các anh chị em thống nhất để cho đứng tên tạm. Do đó, bà T2
yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết như sau:
+ Hủy văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế do Văn phòng C2, quyển số 03
ngày 24/6/2021; Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Huỳnh Thị
N1 với anh Trương Quang C do Văn phòng C2, quyển số 04 ngày 15/10/2021.
+ Yêu cầu anh Trương Quang C trả lại phần đất thửa số 144, tờ bản đồ số
13, diện tích 1.240m
2
tọa lạc tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang
(nay ấp B, B, tỉnh Đồng Tháp) do Sở tài nguyên môi trường tỉnh T cấp
giấy ngày 21/10/2021 cho anh Trương Quang C đứng tên cho các anh chị em
gồm Trương Thị T2, Trương Thị Thanh H, Trương Thị C1, Trương Thị Đ,
Trương Thị Minh N và điều chỉnh lại giấy đất cho chị emT2 đứng tên.
- Bị đơn anh Trương Quang Công trình B: Nguồn gốc thửa số 144, tờ bản
đồ số 13, diện tích 1.240m
2
tọa lạc tại Khu Phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền
Giang (nay ấp B, B, tỉnh Đồng Tháp) do Sở tài nguyên môi trường tỉnh
T cấp giấy ngày 21/10/2021 cho anh Trương Quang C đứng tên do anh nhận
tặng cho tmẹ bà Huỳnh Thị N1. Trước khi N1 đứng tên thì đất này do
ông Trương Quang Đ1 (cha của anh C), phần đất này trước đây là của ông Đ1
4
khai đăng được nhà nước giao đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Sau khi anh C đứng tên phần đất này thì anh đã đem thế chấp vay tiền tại
Ngân hàng TMCP phát triển nhà Thành PhH Chi nhánh T3 Phòng G để
vay số tiền 400.000.000 đồng, nhưng trong thời gian giải quyết vụ án anh C đã
trả xong tiền ngân hàng. Trên phần đất này căn nhà tường cấp 04 do ông Đ1
N1 xây dựng, cây trồng 17 ngôi mộ của ông chôn cất trên đất. Từ
khi ông Đ1 đứng tên đất đến khi ông Đ1 chết, cho đến khi anh C đứng tên đất thì
không ai tranh chấp đất này, khi anh C thế chấp vay tiền ngân hàng lên
thẩm định và cho vay thì không có ai tranh chấp.
Nay anh C ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu
khởi kiện độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như sau:
+ Không đồng ý hủy văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế do Văn phòng
C2, quyển số 03 ngày 24/6/2021 hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
giữa bà Huỳnh Thị N1 với anh Trương Quang C do Văn phòng C2, quyển số 04
ngày 15/10/2021.
+ Không đồng ý trả lại phần đất chia thừa kế đối với thửa số 144, tờ bản
đồ số 13, diện tích 1.240m
2
tọa lạc tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền
Giang (nay ấp B, B, tỉnh Đồng Tháp) do Sở tài nguyên môi trường tỉnh
T cấp giấy ngày 21/10/2021 cho anh Trương Quang C đứng tên cho các anh chị
em gồm Trương Thị T2, Trương Thị Thanh H, Trương Thị C1, Trương Thị Đ,
Trương Thị Minh N và điều chỉnh lại giấy đất lại cho chị em bà T2 đứng tên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Thanh H trình bày:
Bà H thống nhất với ý kiến trình bày của T2 về nguồn gốc đất và ý kiến cùng
với yêu cầu khởi kiện của bà T2 đúng. Do đó, nay H đơn khởi kiện yêu
cầu độc lập yêu cầu anh Trương Quang C như sau:
+ Công nhận thửa số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.240m
2
tọa lạc tại Khu
Phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp)
là di sản thừa kế của cụ Trương Văn H1 và cụ Phan Thị S1 để lại.
+ Yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật thửa số 144, tờ bản đồ số
13, diện tích 1.240m
2
làm 06 kỷ phần bằng nhau, xin nhận phần diện tích đất
206,6m
2
.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trương Thị C1 Trương
Thị Minh N cùng trình bày: C1 bà N thống nhất với ý kiến trình bày của
T2 về nguồn gốc đất và yêu cầu khởi kiện của bà T2 yêu cầu:
+ Hủy Văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế do Văn phòng C2, quyển số
03 ngày 24/6/2021 hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Huỳnh
Thị N1 với anh Trương Quang C do Văn phòng C2, quyển số 04 ngày
15/10/2021.
+ Yêu cầu anh Trương Quang C trả lại phần đất thửa số 144, tờ bản đồ số
13, diện tích 1.240m
2
tọa lạc tại Khu Phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang
5
(nay ấp B, B, tỉnh Đồng Tháp) do Sở tài nguyên môi trường tỉnh T cấp
giấy ngày 21/10/2021 cho anh Trương Quang C đứng tên cho các anh chị em
gồm Trương Thị T2, Trương Thị Thanh H, Trương Thị C1, Trương Thị Đ,
Trương Thị Minh N và điều chỉnh lại giấy đất cho chị emT2 đứng tên.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị N1 anh Trương
Quang V trình bày: Huỳnh Thị N1 là mẹ ruột anh C, anh Trương Quang V
con ruột anh C. Anh C có thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.240m
2
tọa
lạc tại Khu Phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp B, B, tỉnh
Đồng Tháp) do Sở tài nguyên môi trường tỉnh T cấp ngày 21/10/2021 cho
anh Trương Quang C đứng tên. Đất này nguồn gốc của ông Trương Quang
Đ1. Nay N1 và anh V không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của
T2, vì đất có nguồn gốc rõ ràng, thủ tục cấp giấy đúng quy định pháp luật.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Ngô Thị
Hoàng K trình bày: Ngày 15/10/2021 ông Trương Quang C đến nộp hồ sơ công
chứng Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 03196, quyển số 04/2021
TP/CC-SCC/HĐGĐ do Văn phòng C3 chứng nhận ngày 15/10/2021. Việc công
chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này hoàn toàn đúng trình tự thủ
tục công chứng.
- Chị Dương Thị Phương L đại diện ủy quyền của người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP phát triển Thành Phố H Chi nhánh T3
Phòng G trình bày:
Ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H Chi nhánh T3 Phòng G
nhận thế chấp thửa đất s144, tờ bản đồ số 13, diện ch 1.240,0m
2
tọa lạc tại
khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp B, B, tỉnh Đồng
Tháp) do anh Trương Quang C đứng tên, theo hợp đồng thế chấp số
0037/23PGDCLA/HĐBĐ ngày 21/9/2023 hợp đồng tín dụng số
0036/23PGDCLA/HĐTD ngày 21/9/2023 đảm bảo số tiền vay 400.000.000
đồng. Cho đến ngày 17/6/2025 anh Trương Quang C đã thực hiện thủ tục tất
toán khoản vay 400.000.000 đồng tại Ngân hàng Ngân hàng đã trả giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho anh C. Do anh C đã tất nợ nên không có ý
kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.
* Tại Quyt đnh bn án thẩm s: 219/2025/DS-ST ngày 11 tháng 12
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực F – Đồng Tháp, đ tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T2 về việc yêu
cầu hủy Văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế do Văn phòng C2 công chứng số
02677, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐ GĐ ngày 24/6/2021 và hủy hợp đồng
tặng cho quyền sdụng đất giữa Huỳnh Thị N1 với anh Trương Quang C do
Văn phòng C2, quyển số 04/2021 TP/2021 TP-CC–SCC/HĐ ngày
15/10/2021; Yêu cầu anh Trương Quang C trả lại phần đất thửa số 144, tờ bản
đồ số 13, diện tích 1.240m
2
tọa lạc tại Khu Phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền
Giang (nay ấp B, B, tỉnh Đồng Tháp) do Sở tài nguyên môi trường tỉnh
T cấp giấy ngày 21/10/2021 cho anh Trương Quang C đứng tên cho các anh chị
6
em gồm Trương Thị T2, Trương Thị Thanh H, Trương Thị C1, Trương Thị Đ,
Trương Thị Minh N và điều chỉnh lại giấy đất cho chị emT2 đứng tên.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của Trương Thị Thanh H
về việc yêu cầu công nhận thửa số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.240m
2
tọa
lạc tại Khu Phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp B, B, tỉnh
Đồng Tháp) do Sở tài nguyên môi trường tỉnh T cấp giấy ngày 21/10/2021
cho anh Trương Quang C di sản thừa kế của cụ Trương n H1 cụ Phan
Thị S1; Yêu cầu chia thừa kế làm 06 kỷ phần bằng nhau nhận phần đất diện tích
206,6m
2
.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, Trương Thị T2 và bà Trương Thị Thanh H
đơn kháng cáo bản án thẩm số: 219/2025/DS-ST ngày 11 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực F Đồng Tháp. Yêu cầu Toà án cấp phúc
xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T2.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Trương Thị T2 trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu
kháng cáo.
- Luật Nguyễn Thế S trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp của cụ M,
cụ M các anh chị em của bà T2 trong đó ông Đ1 lập tờ tự thuận cùng
tên. Trên đất 17 ngôi mộ của ông cha mẹ của đương sự (có ngôi mộ
xây từ năm 1954). Tuy anh C không thừa nhận cha của anh ký tên trên tờ tự
thuận nhưng căn cứ xác định ông Đ1 trong tờ tự thuận cha anh C. Ông Đ1
sử dụng sổ mục để đăng được cấp đất không đúng thực tế, quan
cấp đất cũng không cung cấp được hồ sơ cấp đất cho ông Đ1. Sau khi ông Đ1
chết vợ con ông Đ1 thoả thuận chia thừa kế tặng cho đất không đúng. Đề
nghị chấp nhận kháng cáo của bà T2.
- Trương Thị Thanh H trình bày: Rút yêu cầu chia thừa kế phần đất
tranh chấp và thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà T2.
- Các Trương Thị T2, bà Trương Thị Thanh H bà Trương Thị C1,
Trương Thị Đ Trương Thị Minh N thống nhất: Giao cho T2 được đi
đăng ký đứng tên quyền sử dụng thửa đất thửa số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích
1.240m
2
tọa lạc ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp. Đồng ý để anh C N1 tiếp tục
tạm quản thửa đất, ntrên đất… để làm nơi thờ cúng; Ngoài ra không còn
cầu nào khác.
- Anh Công trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà Trương
Thị T2 Trương Thị Thanh H đất anh được tặng cho theo quy định pháp
luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương skhông thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
7
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư các đương sự trong
quá trình giải quyết vụ án đảm bảo chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ Điều 207, Điều 649 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên
đơn Trương Thị Tuyết sửa bản án thẩm theo hướng: Hủy văn bản thỏa thuận
phân chia thừa kế do Văn phòng C2, quyển số 03 ngày 24/6/2021; Hủy hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị N1 với anh Trương Quang
C do Văn phòng C2, quyển số 04 ngày 15/10/2021. Đình chỉ yêu cầu chia thừa
kế thửa đất số 144 của Trương Thị Thanh H. N1, anh C cùng các
Trương Thị T2, Trương Thị Thanh H, Trương Thị C1, Trương Thị Đ, Trương
Thị Minh N cùng đứng tên QSD đất thửa số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích
1.240m
2
do chưa có yêu cầu phân chia di sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, được kiểm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo T2 bà H đúng về hình thức,
nội dung, được nộp trong hạn luật định nên kháng cáo được Hội đồng xét xử cấp
phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Về xét xử vắng mặt: Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên toà đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại
khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy:
- T2 nộp Tờ tự phân phần đất di sản thừa kế ngày 28/02/1985 với
nội dung như sau:“Cụ Trương Văn P1, sinh năm 1908 (chết 1954) cụ Phan
Thị M tạo lập được 1.380m
2
đất tại ấp B, B, huyện C, tỉnh Tiền Giang
cất căn nhà lợp cùng các con Trương Văn H1 vợ Phan Thị S1 các con
ông H1 sinh sống. Nay M già yếu lập tờ tự thỏa thuận phân chia nsau:
phần đất 1.380m
2
căn nhà lá, đất mộ phần của dòng họ, đất dùng để ở,
làm chỗ chôn cất ông bà, con cháu, không bán hoặc cho ai sở hữu riêng. Phân
công ông Đ1 quản đến mãn phần, thì họp anh em phân công cho người khác
tiếp tục quản lý, cháu Đ1 đi đăng ký với chính quyền địa phương sau này và cấp
giấy, chỉ đứng tên đại diện; Tờ thỏa thuận cụ Phan Thị M, Trương Văn Đ2,
Trương Thị Ngọc T2, Trương Thị Thanh H, Trương Thị C1, Trương Thị Đ
Trương Thị Minh N ký tên”.
Căn cứ theo Kết luận giám định số 705/KL-KTHS ngày 11/11/2025 của
Phân viện khoa học hình sự Bộ C4 tại Thành Phố Hồ Chí Minh xác định Tờ t
phân phần đất là di sản thừa kế lập ngày 28/02/1985 là bản gốc.
8
Phía anh C cho rằng: Cha của anh C ông Trương Quang Đ1; Còn người
tên Trương Văn Đ2 ký tên trên tờ tự phân chia ngày 28/02/1985 thì anh C không
biết là ai nên anh C không thừa nhận nội dung tờ tự thuận này.
Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm anh C thừa nhận ông nội của anh C
ông Trương Văn H1 (là con cụ Phan Thị M), bà nội của anh là Phan Thị S1; các
của anh C các Trương Thị T2, Trương Thị Thanh H, Trương Thị C1,
Trương Thị Đ Trương Thị Minh N; Đồng thời anh C cũng xác định là ông
nội của anh chỉ một người con trai ông Đ2 cha của anh C khi còn sống
thì ông Đ2 (cha của anh C) cũng người thờ cúng cụ H1 hưởng chế độ,
chính sách do Nhà nước hỗ trợ cụ H1 Liệt sĩ. Qua đó, sở xác định
người tên Trương Văn Đ2 ký tên trên Tờ tự phân phần đất là di sản thừa kế ngày
28/02/1985 và cha của anh C là cùng một người.
- Về nguồn gốc đất tranh chấp: Bà T2, bà H, bà C1, Đ và bà N trình bày
nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ M (mẹ của cụ H1 và bà nội của các bà T2, bà
H, bà C1, Đ, N ông Đ2) để lại cho ông Đ2 quản nhằm mục đích m
đất hương hoả (chôn cất và thờ cúng ông tổ tiên); Anh C cho rằng nguồn gốc
đất là của ông Đ2 được nhà nước cấp đất và đi kê khai đăng ký.
Theo nội dung Ttự phân phần đất di sản thừa kế ngày 28/02/1985 do
cụ Phan Thị M lập với nội dung để lại phần đất diện tích 1.380m
2
ấp B, B,
huyện C, tỉnh Tiền Giang để làm đất hương quả; Tuy nội dung Tờ tự phân phần
đất di sản thừa kế ngày 28/02/1985 không xác định được phần đất này thửa
đất nào, vtrí của phần đất tứ cận giáp với đất của ai; Nhưng căn cứ kết quả
xem xét thẩm định tại chỗ thì trên thửa đất tranh chấp khu mộ của dòng họ
của các đương sự (mộ của cụ M, H1…) nội dung này phù hợp với nội dung
Tờ tự phân phần đất là di sản thừa kế ngày 28/02/1985 nội dung: “Cụ
Trương Văn P1, sinh m 1908 (chết 1954) cụ Phan Thị M tạo lập được
1.380m
2
đất tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang cất căn nhà lợp cùng
các con Trương Văn H1 vợ là Phan Thị S1 và các con ông H1 sinh sống. Nay bà
M già yếu lập tờ tự thỏa thuận phân chia như sau: phần đất 1.380m
2
căn nhà
lá, đất mộ phần của dòng họ, đất dùng để ở, làm chỗ chôn cất ông bà, con
cháu, không bán hoặc cho ai sở hữu riêng. Phân công ông Đ2 quản đến mãn
phần, thì họp anh em phân công cho người khác tiếp tục quản lý, cháu Đ2 đi
đăng ký với chính quyền địa phương sau này và cấp giấy, chỉ đứng tên đại diện”
ông Đ2, bà T2, bà H, bà Đ, N ký tên. Theo kết luận giám định số 705/KL-
KTHS ngày 11/11/2025 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C4 tại TP . kết luận
Tờ tphân phần đất di sản thừa kế ngày 28/02/1985 bản gốc (Chữ ký, chữ
viết trực tiếp).
Anh C cũng thừa nhận là ngoài thửa đất này tcụ P1, cụ M, ông H1
S1 không còn thửa đất nào khác; Đất đang tranh chấp của ông để lại cho
ông Đ2 sử dụng từ trước đến nay, ngoài thửa đất này thì ông Đ2 không thửa
đất nào khác. Khu mộ trên đất là mộ của ông bà, dòng họ của anh C.
Từ đó, đủ căn cứ xác định nguồn gốc thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13,
diện tích 1.240m
2
tọa lạc tại Khu Phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang
9
(nay là ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp
giấy ngày 21/10/2021 cho anh Trương Quang C đứng tên là của cụ Phan Thị M,
được cụ M các cháu ông Đ2, T2, H, C1, Đ, N thoả thuận
làm đất hương hỏa, chỉ dùng để ở, làm chchôn cất ông bà, con cháu, không
bán hoặc cho ai sở hữu riêng. Ông Đ2 được quản đến mãn phần thì họp anh
em phân công cho người khác tiếp tục quản lý, ông Đ2 được đi đăng ký cấp giấy
đứng tên đại diện vì ông Đ2 là cháu trai duy nhất của cụ M. Điều này p
hợp hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục, khối tài sản này được xem tài sản
chung chưa chia.
- Về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo di nguyện của
cụ M sự đồng ý thỏa thuận của ông Đ2, T2, H, C1, Đ, bà N
nên ông Đ2 đi đăng khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nhằm để cho ông Đ2 đại diện quản lý.
Sau khi ông Đ2 chết thì vợ con ông Đ2 gồm bà N1, anh C, anh V đã tự ý
làm văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế cho Huỳnh Thị N1 (là mẹ của anh
C) đứng tên giấy nhận quyền sử dụng đất sau đó N1 làm thủ tục tặng cho
phần đất này cho anh C. Anh C đã được đứng tên thửa đất số 144, tờ bản đồ số
13, diện tích 1.240m
2
không sự đồng ý của các T2, H, C1, Đ N
không phù hợp với quy định pháp luật và nội dung Tờ tự phân phần đất là di sản
thừa kế ngày 28/02/1985.
- Qua xem xét, thẩm định phần đất tranh chấp: Trên đất 17 ngôi mộ;
01 căn nhà hiện do anh C quản lý; Các đương sự thừa nhận mtrên đất của
ông bà tổ tiên, nhà làm phủ thờ để con cháu tập trung về đây thờ cúng.
Do đó, đây là phần đất thuộc di sản của cM, chưa được phân chia và dùng
vào việc thờ cúng. T2 khởi kiện yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia
thừa kế và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Huỳnh Thị N1 với
anh Trương Quang C đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.240m
2
tọa lạc tại Khu Phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp B, B,
tỉnh Đồng Tháp) và điều chỉnh lại giấy đất là có căn cứ nên chấp nhận.
[3] Đồng thời tại phiên toà phúc thẩm: Các bà Trương Thị T2, Trương
Thị Thanh H Trương Thị C1, Trương Thị Đ Trương Thị Minh N
văn bản thống nhất: Giao cho bà T2 được đi đăng ký và đứng tên quyền sử dụng
đối với thửa đất thửa số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.240m
2
tọa lạc ấp B,
B, tỉnh Đồng Tháp; Đồng ý để anh C và bà N1 tiếp tục tạm quản lý thửa đất, nhà
trên đất… để làm nơi thờ cúng; Ngoài ra không còn cầu nào khác. Xét thấy đây
là sự tự nguyện của các đương sự và phù hợp nên ghi nhận.
[4] Do trong vụ án này các đương sự không yêu cầu chia thừa kế nên
không xem xét giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp s được giải
quyết bằng vụ án khác.
- T2 trình bày bà có đưa tiền cho ông Đ2 xây căn nhà trên đất (nhà hiện
anh C đang quản sdụng) đlàm nơi thờ cúng nhưng bà T2 không yêu
cầu đối với số tiền này T2 đồng ý để cho gia đình anh C tiếp tục quản
10
sử dụng nhà đất (không yêu cầu di dời trả nhà đất). Xét thấy, đây sự tự
nguyện của bà T2 nên không xem xét giải quyết.
[5] Tại phiên toà phúc thẩm, H rút yêu cầu chia thừa kế về việc yêu cầu
được chia 1/6 diện đất tranh chấp. Xét thấy, H rút yêu cầu khởi kiện t
nguyện, các đương sự còn lại đều đồng ý không ai ý kiến gì. Nên Hội
đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của bà H.
[6] Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: kháng cáo của
T2 căn cứ nên chấp nhận sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà T2.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là phù
hợp nên chấp nhận.
[8] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho T2
có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
[9] Do sửa bản án thẩm nên án phí dân sự thẩm chi phí tố tụng
được điều chỉnh lại theo quy định.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 2 Điều 148, Điều 217, khoản 2 Điều 296, Điều 289, Điều 299,
khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 158, 166, 207, 645 649 Bộ luật Dân sự;
- Các Điều 23, 26, 45, 134, 137, 236 Luật Đất đai năm 2024;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu của Trương Thị Thanh H về việc yêu cầu chia thừa
kế theo pháp luật thửa số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.240m
2
làm 06 kỷ
phần bằng nhau, xin nhận phần diện tích đất 206,6m
2
.
2. Chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị T2 và bà Trương Thị Thanh H.
Sửa bản án thẩm số: 219/2025/DS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực F Đồng Tháp.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T2:
Hủy Văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế do Văn phòng C2 công chứng
số 02677, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐ ngày 24/6/2021 hủy hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị N1 với anh Trương Quang
11
C do Văn phòng C2, quyển s 04/2021 TP/2021 TP-CC –SCC/HĐ ngày
15/10/2021;
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của Trương Thị T2, Trương Thị
Thanh H, Trương Thị C1, Trương Thị Đ, Trương Thị Minh N:
Trương Thị T2 được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền
sử dụng đất đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.240m
2
, mục
đích sử dụng: ONT + CLN, tọa lạc tại Khu Phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền
Giang (nay ấp B, B, tỉnh Đồng Tháp). Tạm giao cho anh C N1 tiếp
tục tạm quản lý thửa đất, nhà trên đất… để làm nơi thờ cúng.
Đề nghị quan Nhà nước thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 21/10/2021 cho
anh Trương Quang C đứng tên đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13, diện tích
1.240m
2
, mục đích sử dụng: ONT + CLN, tọa lạc tại Khu Phố B, thị trấn B,
huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Kèm theo đđo đạc 17/7/2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ3 - Đồng
Tháp).
3. Về án phí:
- Án phí dân sự thẩm: Anh Trương Quang C phải nộp số tiền án phí dân
sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
T2 và bà H không phải chịu.
- Án phí dân sự phúc thẩm: T2 và bà H không phải chịu.
4. Về chi phí tố tụng: Anh Trương Quang C phải nộp chi phí đo đạc, định
giá, xem xét thẩm định tại chỗ chi phí giám định chữ chữ viết tổng
cộng với số tiền 16.349.612 đồng (Mười sáu triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn
sáu trăm mười hai đồng). Do bà T2 nộp tạm ứng nên được nhận lại số tiền này.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực F Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XT X PHC THM
THM PHÁN – CHỦ TA PHIÊN TÒA
12
Nguyễn Phú Thọ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 720/2026/DS-PT Bản án số 720/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 720/2026/DS-PT Bản án số 720/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất