Bản án số 78/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 78/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 78/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 78/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 78/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TP. Cần Thơ |
Số hiệu: | 78/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 06/03/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | - Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Ung Mỹ R. - Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 217/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 78/2025/DS-PT
Ngày: 06.3.2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Chế Linh
Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: ông Trần Thanh
Vũ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ lý số 651/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024
về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 217/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024
của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 37/2025/QĐ-PT ngày 22
tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1927. Địa chỉ: 3 Khu V, phường A,
quận N, TP . (vắng mặt).
Đại diện hợp pháp: bà Huỳnh Kim H và bà Nguyễn Ngọc H1 (bà H vắng mặt, bà
H1 có mặt).
- Bị đơn: Bà Ung Mỹ R, sinh năm 1973. Địa chỉ: C Tổ E, Khu V, phường A,
quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện hợp pháp: bà Võ Phương N, sinh năm 1963 (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ban Q đất quận N (có đơn từ
chối tham gia tố tụng).
- Người kháng cáo: bà Ung M Ra là bị đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn bà Võ Thị T trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau: bà
được Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
vào sổ 00177.QSDĐ cấp ngày 09/8/1993 với diện tích 300m
2
đất T thuộc thửa 42 và
973m
2
đất V thửa số 43, tờ bản đồ số 10; chỉnh lý biến động ngày 29/6/2009 diện tích
còn lại 250m
2
đất ODT và 593m
2
đất CLN. Vào năm 2017, UBND quận N ra quyết
định thu hồi đất số 6937/QĐ-UBND ngày 23/9/2017 thu hồi một phần diện tích đất
của bà. Theo Quyết định thu hồi đất diện tích bị thu hồi là 564,85m
2
(trong đó 250m
2
ODT và 314,85m
2
đất vườn). Sau khi hoàn tất thủ tục bồi thường hỗ trợ tái định cư, bà
đang trong quá trình đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất còn lại thì xảy ra
tranh chấp với bà Ung Mỹ R.
Sau khi hoàn tất thủ tục bồi thường hỗ trợ tái định cư, bà được Trung tâm phát
triển quỹ đất quận N yêu cầu liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N
làm thủ tục đo đạc chỉnh lý diện tích thực tế còn lại sau khi thu hồi đất thì diện tích
thực tế còn lại của bà là 12,1 m
2
chứ không phải là 7,75m
2
, nhưng phần đất còn lại của
bà đã bị bà Mỹ R lấn chiếm. Khi Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N đến đo
đất, yêu cầu chủ sử dụng đất giáp ranh là bà Mỹ R xác định ranh giới đất với bà thì
phía bà R không chịu phối hợp xác định ranh cũng như không cho cắm ranh, cố ý làm
khó với mục đích chiếm dụng phần đất của bà. Việc bà R không đồng ý với diện tích
đó nên không ký giáp ranh nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận phần đất tranh
chấp cho bà 4,35m
2
vị trí B và cho bà đăng ký quyền sử dụng đất với tổng diện tích
12,1m
2
*Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị T, bị đơn bà Ung M Ra có
ý kiến như sau: Căn cứ vào tờ cam kết ngày 22/6/2020 với Trung tâm phát triển quỹ
đất thì bà T, các con bà T là ông Ung Văn Đ, bà Huỳnh Kim H cam kết “Tôi và gia
đình đồng ý diện tích đất thực tế còn lại là 7,75m
2
đất CLN và không có bất cứ khiếu
nại gì về sau” như vậy là gia đình nguyên đơn – bà T đã ký thừa nhận phần đất còn lại
của bà khi bị quy hoạch là 7,75m
2
. Nếu bà T yêu cầu bà ký giáp ranh phần đất 7,75m
2
thì bà đồng ý ký cho bà hợp thức hóa với diện tích còn lại đó.
*Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử sơ thẩm công khai. Tại
Bản án sơ thẩm số 217/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân
quận Ninh Kiều xét xử và quyết định như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Võ Thị T.
2. Buộc bà Ung M Ra có trách nhiệm trả diện tích đất 4,35 m
2
đang sử dụng
3
đang lấn chiếm của bà Võ Thị T tại vị trí điểm (B) theo Bản trích đo địa chính số
326/TTKTTNMT ngày 05/6/2024 thay thế Bản trích đo địa chính số 889/TTKTTMT
ngày 17/8/2023 của Trung tâm K.
3. Bà Võ Thị T được quyền liên hệ cơ quan chức năng có thẩm quyền điều
chỉnh đăng ký biến động 12,1 m
2
diện tích còn lại sau khi bị thu hồi tại vị trí điểm (A)
và (B) cho bà Võ Thị T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 461218, số vào
sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000177.QSDĐ do Ủy ban nhân dân
thành phố C, tỉnh Cần Thơ cũ cấp ngày 09/8/1993 cho bà Võ Thị T thuộc thửa đất số
43, CLN, Tờ Bản đồ số 10 tọa lạc tại Khu V, phường A, quận N, TP ..
2. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí thẩm định và quyền kháng
cáo của các đương sự.
* Ngày 05 tháng 9 năm 2024, bị đơn bà Ung M Ra kháng cáo yêu cầu xét xử bác
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời, cho bà được đăng ký sử dụng phần đất
7,75m
2
, đồng ý trả giá trị cho nguyên đơn bà Võ Thị T.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
-Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên án sơ
thẩm.
-Bị đơn đề nghị đo lại vì cạnh 1,9m là không đúng, nguyên đơn xây lấn 0,7m,
thực tế đoạn đó chỉ 1,2m và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm và xem xét các chứng cứ
có trong hồ sơ, thấy rằng, nguyên đơn cam kết đất còn lại chỉ 7,75m
2
sau khi thu hồi,
căn cứ trích đo 326 thì vị trí A đảm bảo diện tích cho nguyên đơn tuy hình thể có
khác, vì quá trình cấp giấy và thực tế sử dụng không đúng, qua việc thu hồi thể hiện
đất nguyên đơn mất rất nhiều, nên không có căn cứ xác định đất tranh chấp của
nguyên đơn. Đề nghị sửa án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Việc vắng mặt nguyên đơn, bị đơn nhưng có người đại diện nên tiến
hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về yêu cầu định giá lại của bị đơn do đoạn 1,9m (cạnh giáp đường đi
2.0m, tính từ mí lề đường 3m trở vào) thật sự chỉ 1,2m nên có sự chênh lệch không
4
chính xác, thấy rằng, tại phiên tòa phúc thẩm các bên xác định đoạn 1,9m (kéo từ
mí lề đường 3m vào) là bức tường nguyên đơn xây dựng, bị đơn thì xác định bức
tường đó nguyên đơn xây lấn từ 1,2m vô tới 1,9m nhưng nguyên đơn xác định
không có, bị đơn không có chứng cứ chứng minh việc phản đối nguyên đơn xây
bức tường lấn đoạn 1,9m vì nghĩ là gia đình bà con. Nên có căn cứ xác định đoạn
1,9m là đúng phù hợp thực tế nguyên đơn đang sử dụng. Phía bị đơn yêu cầu đo
nhưng không cho đo hết tổng thể diện tích đất nên việc đo lại cũng không thể thực
hiện. Nên căn cứ vào trích đo 326 ngày 27/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai
giải quyết.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tranh tụng tại
phiên tòa phúc thẩm hôm nay, có cơ sở xác định: phần đất của nguyên đơn được
cấp giấy tại hai thửa 42, 43 vào ngày 09/8/1993, diện tích 1.273m
2
, hai thửa liền
kề, quá trình sử dụng thì phần đất của nguyên đơn có chuyển nhượng cho nhiều
người còn lại 843m
2
, ngày 23/6/2017 bị thu hồi một phần để thực hiện dự án Nâng
cấp đô thị vùng đồng bằng sông C-T dự án thành phố Cần Thơ (giai đoạn 2) hạng
mục cải tạo Hồ Bún X với diện tích 564,85m
2
. Vậy diện tích còn lại phải là
278,15m
2
. Nhưng thực tế theo phiếu đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 15/12/2016
do công ty cổ phần Đ1 thì còn lại 7.75m
2
, bị chênh lệch thiếu so với giấy được cấp,
tuy vậy, gia đình nguyên đơn vẫn thống nhất với diện tích còn lại 7.75m
2
được thể
hiện qua tờ cam kết của gia đình nguyên đơn ngày 22/6/2020 gửi cho Trung tâm
phát triển quỹ đất quận N xác định đồng ý diện tích còn lại là 7.75m
2
và không
khiếu nại về sau. Tại bản trích đo số 326 ngày 27/6/2024 của Văn phòng đăng ký
đất đai thì diện tích tại vị trí A 7.75m
2
, nguyên đơn đang sử dụng thì bị đơn không
tranh chấp, chỉ tranh chấp vị trí B 4.35m
2
bị đơn đang sử dụng. Đối chiếu hình thể
thửa đất còn lại của nguyên đơn theo phiếu đo đạc của công ty Đ1 diện tích 7.75m
2
là hình tam giác, nhưng theo trích đo số 326 thì phần đất 7.75m
2
của nguyên đơn
không còn là hình tam giác mà là hình thang, về vấn đề thấy rằng, nguyên đơn đã
cam kết đất mình còn lại sau khi thu hồi là 7.75m
2
, đất của nguyên đơn cũng chênh
lệch thiếu rất nhiều so với giấy được cấp, vậy có thể khẳng định việc cấp giấy là
chưa chính xác về diện tích, nhưng nguyên đơn vẫn chấp nhận nên xác định còn lại
của nguyên đơn là 7.75m
2
. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xác định bức tường
nguyên đơn xây dựng chỉ đến hết đoạn 5.10m (là hết vị trí A), đoạn 7.68m là
không có, đoạn này bị đơn sử dụng và xây dựng. Mặt khác, đất tranh chấp hiện nay

5
bị đơn đang sử dụng, khi bị đơn thực hiện việc tráng xi măng và sử dụng thì
nguyên đơn không hề phản đối cũng như không có chứng cứ việc phản đối nên
mặc nhiên là đất của bị đơn, nên có căn cứ xác định đất thuộc quyền sử dụng của
bị đơn. Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn đòi lại đất phần tranh chấp cho rằng bị đơn
lấn vị trí B là không có cơ sở chấp nhận nên kháng cáo của bị đơn yêu cầu bác yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu của bị đơn đòi trả giá trị phần đất cho nguyên đơn diện
tích 7.75m
2
, Hội đồng xét xử thấy rằng, phía nguyên đơn không đồng ý, mặt khác,
do đây là đất thu hồi còn lại nên việc cấp giấy cho đương sự là theo quy định trên
cơ sở trả lời của Ủy ban nhân dân quận N tại văn bản số 4212 ngày 14/9/2022 thì
sẽ được xem xét giải quyết theo quy định, do đó, yêu cầu này của bị đơn là không
có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Quá trình giải quyết, phía bị đơn không có phản tố yêu cầu công nhận,
do đó, Tòa án chỉ không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và xác định phần đất
thuộc quyền sử dụng của bị đơn, không thể cho bị đơn đi đăng ký biến động, mà
việc này do bị đơn tự thực hiện theo thủ tục hành chính tại cơ quan có thẩm quyền.
Tương tự, đối với phần đất không tranh chấp vị trí A thì nguyên đơn tự liên hệ với
cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký biến động dư sau khi thu hồi và
cấp giấy theo thủ tục hành chính.
[3] Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ
và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đúng nên sửa theo hướng
nhận định trên.
[4] Về chi phí tố tụng: 10.025.000đ, nguyên đơn phải chịu. Đã tạm ứng và
chuyển chi phí, nguyên đơn thực hiện xong.
[5] Về phần án phí:
[5.1] Sơ thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn.
[5.2] Phúc thẩm: Bị đơn kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
*Căn cứ: - Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

6
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội.
*Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Ung Mỹ R.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 217/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024
của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị T yêu cầu
bà Ung M Ra trả diện tích đất 4,35 m
2
đang sử dụng tại vị trí điểm (B) theo Bản
trích đo địa chính số 326/TTKTTNMT ngày 05/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất
đai thay thế Bản trích đo địa chính số 889/TTKTTMT ngày 17/8/2023 của Trung
tâm K.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn bà Mỹ R được nhận lại 300.000 đồng tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001865 ngày 05/9/2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT; (Đã ký)
- TAND Q. Ninh Kiều;
- Chi cục THADS Q. Ninh Kiều;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phương Thanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Bản án số 152/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 09/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 07/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm