Bản án số 725/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 725/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 725/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 725/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đào Hồng U - Thái Văn D
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 725/2026/DS-PT Bản án số 725/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 725/2026/DS-PT Bản án số 725/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thm phán - Ch ta phiên tòa:
Bà Hoàng Th Thuý Lành
Các Thm phán:
Ông Đinh Tiền Phương
Bà Võ Th Hng Mai
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Phan Ngọc Nhẩn Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Huỳnh Thị Mộng Thuý, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 1253/2025/TLPT-DS ngày 24
tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại.
Do Bản án dân sự thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 05 - 9 -2025 Tòa án nhân
dân Khu vực 9 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 221/2026/QĐ-PT ngày 23
tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đào Hồng Ử, sinh năm: 1962.
Địa chỉ: Ấp V, xã V, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Ử:Lý Thị P, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp V, xã V, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn:
1. Ông Thái Văn D, sinh năm: 1969.
2. Bà Võ Thị Mỹ C, sinh năm: 1973.
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Thái n D: Ông Trần Văn P1, sinh năm:
1976
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 725/2026/DS-PT
Ngày: 28-5-2026
Về việc Tranh chấp Quyền sử
dụng đất và bồi thường thiệt hại
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Địa chỉ: Số A, đường N, phường L, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Lý Thị P, sinh năm 1964
Địa chỉ: Ấp V, xã V, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
2. Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C1. Chức vụ: Chủ tịch V,
tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
Người kháng cáo: Ông Thái Văn DVõ Thị Mỹ C là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 4 m 2023 tại phiên tòa nguyên đơn ông
Đào Hồng Ử trình bày:
Ông một thửa đất thổ diện tích 100m
2
, tại thửa đất số 82, tờ bản đồ số
8-2, đất tọa lạc tại: xã V, tỉnh Tây Ninh (Cụm dân cư, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Long
An trước đây), nay là thửa 36, tờ bản đồ 13 phần đất này ông đã được Ủy ban nhân
dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông vào ngày 06/10/2005. Đất
của ông giáp ranh với thửa đất số 83, tờ bản đồ 8-2 (nay là thửa 35, tờ bản đồ 13) của
vợ chồng ông Thái Văn D và bà Võ Thị Mỹ C.
Đến khoảng tháng 02 năm 2009, ông D C xây dựng nhà lấn sang phần
đất nền của ông với diện tích ngang mặt tiền 0,09m, ngang mặt hậu 0,07m, dài 20m,
diện tích 1,63m
2
, tại một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại: Cụm D,
ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Long An (Nay là xã V, tỉnh Tây Ninh).
Tại phiên tòa ông thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông D, C phải liên
đới trả lại ông quyền sử dụng đất diện tích 1,63m
2
, tại một phần thửa đất số 36, tờ bản
đồ số 13 đất tọa lạc tại: Cụm D, ấp V, xã V, tỉnh Tây Ninh. Trường hợp không trả đất
thì ông yêu cầu bồi thường thiệt hại cho ông tổng số tiền 172.000.000 đồng do xây
nhà lấn chiếm đất, cụ thể:
- Tiền đất lấn chiếm diện tích: 1,63m
2
x 30.000.000 đồng/m
2
= 48.000.000 đồng
(ông u cầu tính tròn số).
- Thiệt hại móng nền nhà 05 cột móng là 24.000.000 đồng.
- Thiệt hại về tài sản giảm giá trị thửa đất 10% = 100.000.000 đồng.
Bị đơn ông Thái Văn D trình bày:
Năm 2004, vợ chồng ông tham gia đấu giá đất tại cụm dân V, huyện T,
tỉnh Long An (Nay V, tỉnh Tây Ninh). Tại thời điểm đấu giá, việc đấu giá dựa trên
sơ đồ bản vẽ và ông trúng lô đất thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 8-2 (nay là thửa 35,
tờ bản đồ 13) đất tọa lạc tại Cụm dân cư, ấp V, V, tỉnh Tây Ninh. Đến ngày
06/10/2005, ông được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Đến tháng 4/2009, ông làm đơn đề nghị địa chính xã và UBND xã V, huyện T,
tỉnh Long An tiến hành giao mốc để vợ chồng ông xây dựng nhà ở. Lúc này, UBND
V địa chính đã tiến hành cắm mốc giao nền cho ông, nhưng không lập biên
bản bàn giao, nhiều hộ dân khác cũng được giao nền theo hình thức tương tự. Trong
3
quá trình xây dựng, ông có dự trù mỗi bên 02cm, tổng chiều ngang nhà vợ chồng ông
xây dựng diện tích chỉ 4,96m. Sau khi đổ đà, ông Đào Hồng cũng có đến kiểm tra và
không có ý kiến gì về vị trí xây dựng nhà của vợ chồng ông.
Năm 2020, ông Đào Hồng Ử làm đơn đề nghị UBND xã V và địa chính xã giao
đủ nền đất cho ông theo chứng nhận quyền sử dụng đất đxây nhà, nhưng không
thực hiện được do toàn khu vực đều thiếu diện tích so với giấy chứng nhận. Tuy nhiên
UBND V nhiều lần kiến nghị UBND huyện T hỗ trợ đo đạc lại, việc giao nền vẫn
không thành.
Tại phiên tòa ông cũng thừa nhận có lấn ông Ử chỉ diện tích nhỏ nhưng hiện nay
các đất tại địa phương cũng bthiếu diện tích, UBND vẫn đang chờ chỉ đạo từ
huyện để phối hợp các phòng ban liên quan kiểm tra thực tế diện tích đất đã cấp cho
các hộ dân. Vì vậy, việc ông khởi kiện yêu cầu trả đất hoặc bồi thường thiệt hại giá
trị đất thì vợ chồng ông không đồng ý.
Bà C vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Ông P1 người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông D trình bày: Năm
2005 khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ ông ông D không
xác định tọa độ nên không thể căn cứ vào bản vẽ hiện nay mà xác định việc bị đơn lấn
đất của ông được, khi ông , C xây dựng nhà cũng có ông chứng kiến nhưng
ông không ý kiến gì, bị đơn khi xây dựng nhà cũng đã trừ hao một khoản diện tích
để giáp ranh với các hộ còn lại vì vậy việc nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn đất và yêu
cầu bồi thường là không hợp lý vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà P ý kiến: Bà P thống nhất theo ý kiến của ông Ử và không có ý kiến bổ sung.
Đại diện UBND xã V, tỉnh Tây Ninh vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến hành
hòa giải được.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn
cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
Tại Bản án sơ thẩm 142/2025/DS-ST ngày 21-8-2025 Tòa án nhân dân Khu vực
10 - Tây Ninh quyết định:
Căn cứ các Điều 175, 176, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 26, 27, 31 và Điều 137 của Luật đất đai năm 2024.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ
Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đào Hồng về việc tranh
chấp “Quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại” với ông Thái Văn D, bà Thị Mỹ
C.
Ông Thái Văn D, Võ Thị Mỹ C phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho ông
Đào Hồng Ử tổng số tiền 75.782.000 đồng (Trong đó tiền bồi thường giá trị đất bị mất
là 1,63m
2
giá trị 17.544.000 đồng + 53.815.000 đồng tiền giảm gtrị đất bị mất so với
giá trị thực tế lô đất đủ diện tích + tiền bồi thường 05 cột móng số tiền 4.423.000 đồng
= 75.782.000 đồng).
4
Ông Thái Văn D, bà ThMỹ C được quyền sử dụng một phần thửa đất số 36,
tờ bản đồ 13, diện tích 1,63m
2
, tọa lạc tại V, tỉnh Tây Ninh theo Mảnh trích đo địa
chính số 36 – 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T (Nay là Chi
nhánh Văn phòng Đ).
Ông Đào Hồng , Thị P có nghĩa vụ giao quyền sử dụng đất một phần
thửa đất số 36, tờ bản đồ 13, diện tích 1,63m
2
, tọa lạc tại xã V, tỉnh Tây Ninh cho ông
Thái Văn D, bà Võ Thị Mỹ C quản lý, sử dụng đất.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Thái Văn D, Thị Mỹ C phải liên đới chịu
13.408.800 đồng. Ông Đào Hồng Ử đã nộp nên ông D và bà C phải liên đới trả lại cho
ông số tiền 13.408.800 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự
năm 2015.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Ông Thái Văn D, bà Võ Thị Mỹ C phải liên đới chịu 3.789.000 đồng tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
Ông Đào Hồng Ử không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, ông Ử được miễn
nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án quyền kháng
cáo theo quy định ca pháp luật.
Ngày 18/9/2025, ông Thái Văn D, Võ Thị Mỹ C bị đơn trong vụ án, đơn
kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm: Sửa Bản án dân sự 16/2025/DS ST, ngày
05 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh theo hướng không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/3/2026, người đại diện theo uỷ quyền của ông
D đề nghị cấp phúc thẩm đo đạc lại cả phần đất hiện ông D đang sử dụng để xác định
phần đất hiện ông D đủ diện ch như khi nhận chuyển nhượng hay không. Cấp phúc
thẩm đã tiến hành mời đơn vị đo đạc độc lập vào các ngày 04,18/5/2026. Tuy nhiên,
tại ngày 04/5/2026, ông ông D thống nhất không đo đạc để tiến hành hoà giải.
Sau đó, ông Thái Văn D thay đổi ý kiến, yêu cầu tiếp tục đo đạc. Tại buổi đo đạc ngày
18/5/2025, do ông D (thửa 37) và hộ liền kề (thửa 38) không thống nhất ranh đất nên
không tiến hành đo đạc được.
Tại phiên toà ngày 28/5/2026, bđơn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị bác yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Phần đất ông D, bà C cất nhà đúng bằng diện
tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 100m
2
. Mảnh trích đo số
36-2024 ngày 10/4/2024 chưa thể hiện ranh giới giữa các thửa 36,37,38 nên không thể
khẳng định ông D, bà C lấn đất của ông Ử. Thực tế phần ranh đất với ông chỉ có 4
trụ cột bê tông, không phải 8 trụ cột như Chứng thư thẩm định giá xác định.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Vic tuân theo pháp lut ca Thm phán, Hi đồng xét xử, Thư
phiên tòa thc hiện đúng trình tự, th tục theo quy định ca B lut T tng dân s. Các
5
đương sự thc hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy đnh ca B lut T
tng dân s.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án thẩm, không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa; ý kiến Tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Thái Văn D, Thị Mỹ C bị đơn nộp trong thời
hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272,
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của ông D đề nghị cấp
phúc thẩm đo đạc lại cả phần đất hiện ông D đang sử dụng để xác định phần đất hiện
ông D có đủ diện tích như khi nhận chuyển nhượng hay không. Cấp phúc thẩm đã tiến
hành mời đơn vị đo đạc độc lập vào các ngày 04,18/5/2026. Tuy nhiên, tại ngày
04/5/2026, ông và ông D thống nhất không đo đạc để tiến hành hoà giải. Sau đó, ông
Thái Văn D thay đổi ý kiến, yêu cầu tiếp tục đo đạc. Tại buổi đo đạc ngày 18/5/2025,
do ông D (thửa 37) và hộ liền kề (thửa 38) không thống nhất ranh đất (giữa thửa 37 và
38 một khoảng trống khoảng 5cm) nên không tiến hành đo đạc được. Do đó, cấp
phúc thẩm sử dụng các tài liệu, chứng cứ các bên cung cấp tại cấp thẩm để giải quyết
vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ pháp luật và phạm vi xét xử phúc thẩm: Ông Đào Hồng Ử khởi
kiện yêu cầu ông Thái Văn D và Thị Mỹ C bồi thường thiệt hại cho ông các
khoản:
- Tiền đất lấn chiếm diện tích: 1,63m
2
x 30.000.000 đồng/m
2
= 48.000.000 đồng.
- Thiệt hại móng nền nhà 05 cột móng là 24.000.000 đồng.
- Thiệt hại về tài sản giảm giá trị thửa đất 10% = 100.000.000 đồng.
Tổng cộng: 172.000.000 đồng.
Cấp thẩm xác định tranh chấp quyền sử dụng đất bồi thường thiệt hại
phù hợp.
Ông Thái Văn D Thị Mỹ C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, không đồng ý với Bản án sơ thẩm với lý do ông bà không lấn đất của ông
Ử, không gây thiệt hại cho ông Ử, bà P. Ông D, bà C kháng cáo toàn bộ bản án nên cấp
phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án.
[2.2] Về nội dung kháng cáo:
Ông D, C không đồng ý với nhận định ông D, C lấn đất ông Ử: Cấp
thẩm căn cứ Mảnh trích đo số 36-2024 ngày 10/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai tại T không sở. Xét thấy, cấp thẩm và phúc thẩm nhiều lần tiến
hành đo đạc nhưng ông D chủ đất liền kề (thửa 38) không thống nhất được ranh do
giữa hai thửa đất còn một khoảng trống. Do đó, cần dựa trên Mảnh trích đo số 36-2024
6
ngày 10/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại T để giải quyết. Kết quả
đo đạc thể hiện ông D, bà C có lấn sang thửa đất số 36, tờ bản đồ 13 của ông Đào Hồng
Ử, diện tích 1,63m
2
. Ông D cho rằng, khi xây nhà căn cứ giấy chứng nhận đất số AD
584712 cấp ngày 06/10/2005, ông báo địa phương giao đất cắm cột mốc, nhưng
không lập biên bản xác định giao mốc. vậy không sở xác định việc giao
ranh mốc đất như ông D trình bày. Cấp sơ thẩm xác định ông D lấn qua thửa đất số 36
ngang mặt tiền 0,09m; mặt hậu 0,07m, dài 20m, diện tích 1,63m
2
là phù hợp với chứng
cứ có trong hồ sơ. Do ông D đã xây nhà kiên cố nên không thể tháo dỡ để trả cho ông
phần đất 1,63m
2
nên hoàn trả giá trị bằng tiền theo giá trị định giá 17.544.000 đồng
là có cơ sở.
Đối với yêu cầu bồi thường giá trị các cột móng: Chứng cứ ảnh chụp hiện trường
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/3/2024 của TAND huyện Tân Hưng
(nay là TAND Khu vực 9-Tây Ninh) thể hiện, trên phần đất của ông 8 cột móng
bê tông, trong đó vách tường nhà ông D, bà C nằm sát râu, sắt không thể đổ cột nhà lên
cao được bị ảnh hưởng số cột là 05. Cấp sơ thẩm buộc ông D, bà C bồi thường giá trị 5
cột x 884.609 đồng theo giá trị định giá = 4.423.000 đồng là phù hợp.
Đối với yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tài sản giảm gtrị thửa đất: Xét thấy,
mặc dù ông D cho rằng ông không cố tình lấn đất của ông Ử nhưng trên thực tế, đất của
ông đã giảm diện tích 1,63m
2
, ảnh hưởng đến một phần giá trị thửa đất. Cấp
thẩm xem xét buộc ông D bà C bồi thường một phần thiệt hại 53.815.000 đồng cho ông
là phù hợp.
[3] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án thẩm đã đánh
giá đúng bản chất vụ án, áp dụng đúng pháp luật. Ông Thái Văn D, Thị Mỹ C
kháng cáo nhưng không chứng minh được yêu cầu kháng cáo căn cứ nên Hội đồng
xét xử không chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến phát biểu của Kiểm sát
viên tham gia phiên tòa phúc thẩm.
[4] Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét xử,
giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
[5] Chi phí tố tụng: Ông Thái Văn D Thị Mỹ C phải chịu chi phí tố tụng
tại giai đoạn phúc thẩm 8.000.000 đồng. Ông D, bà C đã nộp đủ.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của ông Thái Văn D, bà Võ Thị Mỹ C không được chấp nhận nên
ông Thái Văn D, bà Võ Thị Mỹ C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại
Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Thái Văn D, bà Thị Mỹ C
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 05-9-2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 9 - Tây Ninh.
7
2. Chi phí tố tụng phúc thẩm: Ông Thái Văn D Thị Mỹ C phải chịu
8.000.000 đồng. Ông D, bà C đã nộp xong.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Thái Văn DThị Mỹ C, mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án
phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng tạm ứng án phí theo
biên lai thu số 0004482 và 0004476 ngày 18 tháng 9 năm 2025 ông D, bà C nộp tại Thi
hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông D, bà C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi
hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND Khu vc 9 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân s tnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tp án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Hoàng Th Thuý Lành
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 725/2026/DS-PT Bản án số 725/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 725/2026/DS-PT Bản án số 725/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất