Bản án số 505/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 505/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 505/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 505/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông P yêu cầu ông V chấm dứt hành vi cản trở thực hiện QSD đất đối với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 8, diện tích 7.997,3m2 và yêu cầu ông Vũ di D toàn bộ cây trồng trên đất.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 505/2026/DS-PT Bản án số 505/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 505/2026/DS-PT Bản án số 505/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 505/2026/DS-PT
Ngày: 10-6-2026
V/v “Tranh chấp QSD đất, hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất
yêu cầu bồi thường cây
trồng, công trình trên đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Liên Hiệp.
Bà Kiều Kim Xuân.
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20/4/2026, ngày 14/5/2026 ngày 10/6/2026, tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai ván thụ số:
145/2026/TLPT-DS ngày 03/3/2026 về việc “Tranh chấp QSD đất, hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất và yêu cầu bồi thường cây trồng, công trình trên đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 166/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực N - Đồng Tháp bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 800/2026/QĐ-PT
ngày 23 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Công P, sinh năm 1978 (có mặt ngày
14/5/2026, vắng mặt ngày 10/6/2026 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Ông Võ Văn V, sinh năm 1971 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Đinh Văn N, sinh năm 1982 (xin vắng mặt);
3.2. Bà Đỗ Thị Bảo T, sinh năm 1984 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã H, tỉnh Đồng Tháp.
2
3.3. Bà Lê Thị H, sinh năm 1950 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Văn V.
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu
vực N - Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Phạm Công P trình bày: Ông chủ sở hữu thửa đất
số 99, tờ bản đồ số 8, diện tích 7.997,3m
2
, tọa lạc tại Ấp B, T, huyện C, tỉnh
Tiền Giang do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng (QSD) đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất ngày
30/12/2021, nguồn gốc thửa đất này do ông nhận chuyển nhượng của ông Đinh
Văn N. Tuy nhiên, gần đây ông phát hiện ông Văn V người đang sử dụng
đất, canh tác trồng cây ăn trái trên thửa đất, ông P yêu cầu ông V trả lại đất
nhưng ông V không đồng ý. Ngày 21/01/2023 Ủy ban nhân dân (UBND) T
tchức hòa giải nhưng không thành. Do đó, ông yêu cầu ông V chấm dứt
hành vi cản trở thực hiện QSD đất đối với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 8, diện
tích 7.997,3m
2
và yêu cầu ông Vũ di D toàn bộ cây trồng trên đất.
- Bị đơn ông Văn V trình bày: Nguồn gốc đất do ông nhận chuyển
nhượng của Thị H vào ngày 20/02/2014 với giá 35.000.000
đồng/1.000m
2
, ông đã giao đủ cho H số tiền 230.000.000 đồng, còn lại
50.000.000 đồng thỏa thuận khi H kết hợp đồng chuyển nhượng ông sẽ
giao đủ cho H, là con trong gia đình nên chthỏa thuận miệng, không
lập văn bản. Tuy nhiên, khi giao số tiền 230.000.000 đồng H đã giao đất cho
ông quản lý, canh c đến nay, hiện tại thửa đất này ông đang trồng xoài
chanh. Ông đã nhiều lần yêu cầu H thực hiện thủ tục chuyển nhượng QSD
đất cho ông đứng tên nhưng H hứa hẹn nhiều lần vẫn chưa thực hiện
chuyển nhượng thửa đất này cho ông P.
Do đó, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà yêu
cầu phản tố, yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa Thị H
và ông Phạm Công P đối với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 8, diện tích 7.997,3m
2
.
Công nhận thửa đất số 99, tờ bản đồ số 8, diện tích 7.997,3m
2
thuộc quyền quản
lý, sử dụng của ông để ông làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất. Trường
hợp không chấp nhận yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thì ông
yêu cầu buộc Thị H hoàn trả cho ông số tiền 230.000.000 đồng. Lãi suất
phát sinh đối với số tiền gốc 230.000.000 đồng từ ngày 20/02/2014 đến tháng
12/2024 là 130 tháng, mức lãi suất 10%/năm với số tiền 479.166.000 đồng. Yêu
cầu ông P hoàn trả chi phí như sau: đầu tư, cải tạo đất 200.000.000 đồng; giá trị
cây trồng: 500.000.000 đồng.
Tại phiên tòa thẩm, ông V rút mt phần yêu cầu phản tố, về việc yêu
cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa Thị H ông Phạm
3
Công P đối với thửa đất s99, tờ bản đồ số 8, diện tích 7.997,3m
2
; rút yêu cầu
công nhận thửa đất số 99, tbản đồ số 8, diện tích 7.997,3m
2
thuộc quyền quản
lý, sử dụng của ông để ông làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất; rút yêu
cầu Thị H hoàn trả cho ông số tiền 230.000.000 đồng và lãi suất phát sinh
đối với số tiền gốc 230.000.000 đồng từ ngày 20/02/2014 đến tháng 12/2024
130 tháng, mức lãi suất 10%/năm với số tiền 479.166.000 đồng.
Ông V yêu cầu ông P hoàn trả giá trị cây trồng theo định giá
1.426.500.000 đồng.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H trình bày: Thửa
đất số 99, tờ bản đồ số 8, diện tích 7.997,3m
2
cho ông V thuê vào năm 2013,
không làm hợp đồng thuê đất, thời hạn 05 năm với giá 230.000.000 đồng,
ông V đã trả đủ tiền thuê đất. Hết thời hạn 05 năm ông V không trả lại đất cho
nên năm 2019 thế chấp thửa đất này cho Ngân hàng để vay tiền. Ngân
hàng đề nghị ông V nhận chuyển nhượng thửa đất này nhưng ông V không
đồng ý, nên bà mới chuyển nhượng thửa đất này cho ông Đinh Văn N, ông N trả
tiền cho Ngân hàng để bà làm thủ tục và giao đất cho ông N. Khi cho ông V thuê
đất thì đã lên liếp trồng khoảng 250 cây chanh 42 cây xoài. Đối với yêu
cầu của ông P thống nhất và không có ý kiến gì.
- Người quyền lợi, nga vụ liên quan ông Đinh Văn N trình bày:
Năm 2020 thông qua Ngân hàng S, ông biết H đang vay vốn tại Ngân hàng
và không có khả năng chi trả lãi hàng tháng nên Ngân hàng chuẩn bị đem tài sản
thế chấp là thửa đất số 99, tờ bản đồ số 8, diện tích 7.997,3m
2
bán đấu giá để thu
hồi nợ, lúc đó ông gặp H thỏa thuận nhận chuyển nhượng thửa đất trên.
Trước khi lập hợp đồng chuyển nhượng ông đến UBND xác minh phần
đất tranh chấp hay không thì được UBND xã T xác nhận thửa đất không
tranh chấp hay bị thi hành án. Đến năm 2021 ông chuyển nhượng thửa đất này
cho ông P.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Bảo T: Không có ý
kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố của nguyên đơn.
- Tại Bản án dân sự thẩm số 166/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực N - Đồng Tháp (viết tắt bản án thẩm) đã
xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Công P, buộc ông Văn
V trả lại thửa đất số 99, tbản đồ s8, diện tích 7.997,3m
2
, tọa lạc Ấp B, T,
huyện C, tỉnh Tiền Giang do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp Giấy
chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất, số
vào sổ cấp giấy chứng nhận CS07677, ngày 30/12/2021 cho ông Phạm Công P.
2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Văn V, về việc yêu cầu hủy Hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất giữa Thị H ông Phạm Công P. Yêu cầu
công nhận thửa đất số 99, tbản đồ số 8, diện tích 7.997,3m
2
thuộc quyền quản
4
lý, sử dụng của ông Văn V để ông làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD
đất. Yêu cầu buộc Thị H hoàn trả cho ông số tiền 230.000.000đ (hai trăm
ba mươi triệu đồng). Lãi suất phát sinh đối với số tiền gốc 230.000.000đ (hai
trăm ba mươi triệu đồng) từ ngày 20/02/2014 đến tháng 12/2024 là 130 tháng,
mức lãi suất 10%/năm là 479.166.000đ (Bốn trăm bảy mươi chín triệu, một trăm
sáu mươi sáu nghìn đồng).
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tcủa ông Văn V, về việc yêu cầu
ông Phạm Công P hoàn trả giá trị cây trồng 1.426.500.00(mt tỷ, bốn trăm
hai mươi sáu triệu, năm trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án n quyết định về án phí, quyền kháng o, quyền
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 29/9/2025, bị đơn ông Văn V đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của
ông, buộc ông Phạm Công P hoàn trả giá trị cây trồng trên đất cho ông theo định
giá của Hội đồng định giá gồm: 700 cây chanh × 585.000 đồng = 409.500.000
đồng 300 cây xoài × 3.390.000 đồng = 1.017.000.000 đồng. Tổng giá trị cây
trồng là 1.426.500.000 đồng.
- Ngày 09/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực N -
Đồng Tháp ban hành Quyết định số 02/QĐ-VKS-DS kháng nghị toàn bộ Bản án
dân sự thẩm số 166/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực N - Đồng Tháp, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm vụ án theo hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Bị đơn ông Võ Văn V trình bày: Thống nhất với kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực N - Đồng Tháp. Trong trường hợp
không hủy án sơ thẩm ông V yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa
bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của ông, buộc ông Phạm
Công P hoàn trả giá trị cây trồng trên đất cho ông V theo định giá của Hội đồng
định giá là 1.426.500.000 đồng.
- Nguyên đơn ông Phạm Công P trình bày: Thống nhất với kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân n Khu vực N - Đồng Tháp; không thống
nhất với kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn V.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của bị đơn ông Văn V kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân n Khu vực N - Đồng Tháp thc hin
đúng quy định và hp l theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân
theo pháp luật của Thm phán, Hội đồng xét x Thư phiên tòa kể t khi
th lý v án đến thời điểm xét x phúc thẩm đã chấp hành thc hiện đúng,
5
đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã
thc hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa v tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ
luật Tố tụng dân sự: Hủy bản án dân sự thẩm số 166/2025/DS-ST ngày 26
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân n Khu vực N - Đồng Tháp, chuyển hồ
cho Tòa án cấp thẩm xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi
chính đáng của đương sự trong vụ án. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực N - Đồng Tháp. Do hủy án sơ thẩm nên chưa
xem xét kháng cáo của của bị đơn ông Võ Văn V.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
868/PB-VKS-DS ngày 10/6/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên a, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực N - Đồng Tháp thụ giải
quyết thẩm vụ án “Tranh chấp QSD đất, hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
yêu cầu bồi thường cây trồng, công trình trên đất” đúng quy định tại
khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật
Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x
thẩm, không thng nhất bản án thẩm nên bị đơn ông Võ Văn V nộp đơn
kháng cáo ngày 29/9/2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực N -
Đồng Tháp kháng nghị vào ngày 09/10/2025 là trong thi hn kháng cáo, kháng
nghị theo quy định tại Điều 273 Điều 280 Bộ lut T tụng dân sự, nên được
xem xét gii quyết theo th tc phúc thm.
Ti phiên tòa phúc thm ông Phạm Công P, ông Đinh Văn N, bà Lê Thị H
vắng mặt đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn Đỗ Thị Bảo T vắng mặt sau
khi được Tòa án triệu tập hợp lđến lần thứ hai, nên Hội đồng xét x tiến hành
xét x vng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V nội dung: Nguyên đơn ông Phạm Công P cho rằng ông nhận
chuyển nhượng QSD đất của ông Đinh Văn N thửa 99, tờ bản đồ số 8, diện tích
7.997,3m
2
, đất tọa lạc tại Ấp B, T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay T,
tỉnh Đồng Tháp) do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận
QSD đất ngày 30/12/2021 (viết tắt là thửa 99 hay đất tranh chấp). Khi ông P vào
sử dụng đất thì phát hiện ông Văn V người đang sử dụng đất, canh tác
trồng cây ăn trái trên đất thửa 99, ông P yêu cầu ông V trả lại đất nhưng ông
V không đồng ý. Ông P khởi kiện yêu cầu ông V chấm dứt hành vi cản trở thực
hiện QSD đất đối với thửa 99 và yêu cầu ông Vũ di D toàn bộ cây trồng trên đất.
Bị đơn ông Văn V cho rằng nguồn gốc đất thửa 99 do ông nhận
chuyển nhượng của ThH (chị dâu của ông V) vào ngày 20/02/2014 với
6
giá 35.000.000 đồng/1.000m
2
, ông đã giao đủ cho H số tiền 230.000.000
đồng, còn lại 50.000.000 đồng thỏa thuận khi H kết hợp đồng chuyển
nhượng ông sẽ giao đủ cho bà H, vì là người thân trong gia đình (bà H là chị dâu
ông V) nên chỉ thỏa thuận miệng, không lập văn bản. Ông V đã quản lý, canh
tác đất từ năm 2014 đến nay, hiện tại thửa đất này ông đang trồng xoài và chanh.
Ông V đã nhiều lần yêu cầu bà H thực hiện thủ tục chuyển nhượng QSD đất cho
ông đứng tên, H hứa hẹn nhưng không thực hiện. Ông V không thống nhất
khởi kiện của ông P yêu cầu ông P hoàn trả gtrị cây trồng trên đất thửa 99
theo định giá là 1.426.500.000 đồng.
Điều này đã làm phát sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân n Khu vực N -
Đồng Tháp đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự thẩm. Hội đồng
xét xử xét thấy như sau:
3.1. Về tố tụng: Tòa án thẩm đã có sai sót trong quá trình giải quyết v
án, cụ thể:
- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Công P yêu cầu bị đơn
ông Văn V phải trả lại đất tranh chấp thửa 99 cho ông P di dời cây trồng
của ông V đi nơi khác; Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc bị đơn phải giao đất tranh chấp cho nguyên đơn nhưng không
giải quyết yêu cầu buộc bị đơn di dời cây trồng để giao đất cho nguyên đơn
thiếu sót, do không giải quyết đầy đủ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vi
phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
- Tại phiên tòa phúc thẩm ông V cho rằng cây trồng trên đất thửa 99 do
ông vợ ông bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1971 cùng trồng, thuộc
quyền sở hữu chung của vợ chồng. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm chưa xác
minh việc này không đưa M tham gia tố tụng với cách là người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của bà M.
3.2. Về nội dung: Tòa án thẩm đã sai sót trong quá trình giải quyết
vụ án, cụ thể:
- Quyết định của bản án thẩm buộc bị đơn phải giao đất thửa 99 cho
nguyên đơn nhưng không xác định cây trồng trên đất thuộc quyền sở hữu của
nguyên đơn hay bị đơn, quyền nghĩa vụ của các đương sự đối với cây trồng
trên đất khi giao đất tranh chấp cho nguyên đơn, nên việc giải quyết vụ án
chưa toàn diện triệt để, do thực tế không thể thi nh được việc trả đất
không xử lý cây trồng trên đất thuộc về ai, nghĩa vụ phải di dời hoặc không phải
di dời trong trường hợp phải giao đất cho nguyên đơn.
- Tòa án cấp thẩm đã thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ để xác
định thực tế số ợng cây trồng trên đất, cây trồng đủ điều kiện di dời được
không. Qua đó có cơ sở xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
7
yêu cầu phản tố của bị đơn. Theo trình bày của ông P và ông V tại phiên tòa
phúc thẩm ngày 14/5/2026 các ông đều thừa nhận khi Tòa án cấp thẩm tiến
hành xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/5/2025 thì ông V chỉ khai số lượng
cây trồng gồm 700 cây chanh 300 cây xoài (theo Biên bản xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 27/5/2025), không kiểm đếm thực tế để xác định chính
xác số lượng, kích cỡ cây trồng trên đất; theo ông V thì cây xoài còn khoảng 250
cây, do thời gian từ lúc trồng đến thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ đã chết
khoảng 50 cây, còn cây chanh thì ông trồng 700 cây, khi cây chanh nào chết
thì ông đã trồng xen o, nên khoảng cách thời gian trồng giữa các cây là khác
nhau, kích cỡ cây lớn nhỏ cũng khác nhau. Vì vậy, việc định giá cây xoài cây
chanh có cùng gtrị cùng loại, cụ thể cây xoài giá 3.390.000 đồng, cây
chanh có giá 585.000 đồng là không chính xác, do cây có nhiều kích cỡ và nhiều
loại khác nhau (theo Biên bản định giá tài sản ngày 27/5/2025).
- Do nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải di dời cây trồng đgiao đất
tranh chấp (thửa 99) cho nguyên đơn sử dụng, bị đơn cho rằng cây được trồng
năm 2014-2015, phù hợp lời khai của Thị H cho rằng cho ông V thuê đất
từ năm 2013 đến năm 2018 ông V có canh tác trồng cây trên đất, nên có căn
cứ xác định cây trồng do ông Vũ T1. Đối với các cây xoài và chanh trên đất thửa
99 đang cho trái, việc di dời cây trồng là không khả thi, nếu phải di dời hoặc đốn
bỏ sẽ gây thất thoát hoặc gây thiệt hại rất lớn, nên việc xem xét trả giá trị để
được sở hữu cây trồng trên đất phù hợp hơn, thay phải đốn bỏ hay di dời
cây trồng để giao đất tranh chấp.
3.3. Tại phiên tòa phúc thẩm, cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất với
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực N - Đồng Tháp,
thống nhất hủy bản án sơ thẩm để xem xét, giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
3.4. Từ cơ sở nêu trên, xét thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực N - Đồng Tháp cơ sở phù hợp pháp luật, đồng thời
do phát sinh tình tiết mới nhng sai sót của Tòa án cấp thẩm như nêu trên
mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên cần thiết phải hủy bản
án thẩm giao hồ cho Tòa án cấp thẩm xét xử lại theo thủ tục thẩm
nhằm đảm bảo hai cấp xét xử cho đương sự theo quy định của pháp luật.
[4] T s phân tích trên, Hội đồng xét xxét thấy quan điểm và đề
ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay có sở, nên được chấp nhận.
vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực N - Đồng Tháp về việc hủy bản án sơ thẩm. Do án sơ thẩm bị
hủy, nên không xem xét kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn V.
[5] Về án phí: Do án thẩm bị hủy, nên ông Văn V không phi chu
án phí dân sự phúc thm.
Các phn khác ca bn án thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
8
QUYẾT ĐNH:
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực
N - Đồng Tháp theo Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS ngày
09/10/2025;
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Hủy bản án dân sự thẩm số: 166/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực N - Đng Tháp.
2. Giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân Khu vực N - Đồng Tháp giải
quyết lại theo quy định của pháp luật.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Ông Văn V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn lại
số tiền tạm ứng án phí mà ông V đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002893, ngày 29/9/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Đồng Tháp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vc N - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc N - Đng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 505/2026/DS-PT Bản án số 505/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 505/2026/DS-PT Bản án số 505/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất