Bản án số 1174/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1174/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1174/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1174/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1174/2026/DS-PT Bản án số 1174/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1174/2026/DS-PT Bản án số 1174/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng
Các Thẩm phán:Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 782/2026/TLPT-DS
ngày 21/4/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3152/2026/QĐ-PT
ngày 14/5/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 7434/2026/QĐ-PT
ngày 21/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: Số
A, xã A, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Số F, đường Đ, khu phố P, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Ông Trần Đăng Q; địa chỉ thường trú: Đ, thôn Đ, phường P, tỉnh Hưng
Yên; địa chỉ liên lạc: 188b, đường Đ, ấp A, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1999; địa chỉ thường trú: Thôn T,
N, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay C, tỉnh Quảng Trị); địa chỉ liên lạc:
188b, đường Đ, ấp A, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
`TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1174/2026/DS-PT
Ngày: 11-6-2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
2
- Bị đơn: Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ G, ấp H,
xã H, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Thị Ý, sinh năm 1954 ông Trần Ngọc M, sinh năm 1965;
cùng địa chỉ: Số F, đường Đ, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
quan kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Số A, đường Q, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Tấn Đ chức vụ: Trưởng phòng
Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 1983; CCCD: ************ cấp
ngày 02/01/2023; địa chỉ thường trú: Số A, xã A, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Số F,
đường Đ, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T
là ông Nguyễn Quang V
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, vụ án được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn người đại
diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Giữa năm 2024, trong quá trình tìm hiểu nhằm mục đích mua nhà để ở, ông
Huỳnh Văn T biết Nguyễn Thị Quỳnh N đang rao bán căn nsố 637/16/8
kèm theo thửa đất công với vị trí như sau:
+ Đông giáp công viên khu phố E phường P, chiều ngang 05 mét;
+ Tây giáp kho vật liệu xây dựng, chiều ngang 05 mét;
+ Nam giáp nhà, đất của bà Võ Thị Ý;
+ Bắc giáp đất bà Võ Thị Ý, chiều dài 23,3m.
Sau khi trao đổi, hai bên thống nhất bà Nguyễn Thị Quỳnh N chuyển
nhượng căn nhà nêu trên cho ông Huỳnh Văn T với giá 900.000.000 đồng theo
giấy chuyển nhượng nhà đất ngày 30/8/2024. Ngoài ra, N còn cam kết thửa
đất đủ điều kiện làm thủ tục cấp giấy chứng nhận như: Biên bản giải quyết vụ
việc sang nhượng đất trong gia đình bà Ý; Thông báo nộp thuế sử dụng đất nông
nghiệp thuế; tờ uỷ quyền; giấy nhượng nhà đất. Nguồn gốc đất do N
nhận chuyển nhượng từ Thị Ý, căn nhà trên đất hình thành từ năm 1985,
khi N làm thủ tục để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ý sẽ hỗ
trợ ký các giấy tờ.
Nguyễn Thị Quỳnh N đã bàn giao nhà và gia đình ông Huỳnh Văn T đã
chuyển đến sinh sống tại căn nhà số F đến nay. Trong quá trình sinh sống, ông T
3
sửa nhà. Khi ông T làm hồ để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì N không hỗ trợ và chặn liên lạc. Ông T nhờ bà Ý hỗ trợ các giấy tờ
nhưng bà Ý không đồng ý.
Căn cứ khoản 2 Điều 129, Điều 352 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 4
Điều 100, khoản 3 Điều 138, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 yêu cầu Toà án
giải quyết:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà giữa ông Huỳnh Văn T với Nguyễn Thị Quỳnh N theo giấy chuyển
nhượng nhà, đất lập ngày 30/8/2024 đối với quyền sử dụng đất căn nhà số
637/16/8 được xây dựng gắn liền phần đất công một phần của các thửa đất số
59, 69, 84, 47, tờ bản đồ số 47 toạ lạc tại khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh
Bình Dương. Ông Huỳnh Văn T được quyền liên hệ với quan thẩm quyền
để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với nhà,
đất nêu trên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường T trình bày:
Thửa đất số 59, 69, 84, tờ bản đồ số 47, thuộc khu phố E, ông
Huỳnh Văn T đang khởi kiện tại Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là đất
công do UBND phường P quản được UBND thành phố T công nhận tại
Quyết định số 2697/QĐ.UB ngày 14/6/2002 của UBND thị (nay thành
phố) Thủ Dầu M1 về việc chứng nhận đăng ký quỹ đất công cho UBND phường
P, thị T, tỉnh Bình Dương; Quyết định số 1230/QĐ-UBND ngày 11/4/2013
của UBND thành phố T về việc chứng nhận đăng quỹ đất công của UBND
phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương Quyết định số 2260/QĐ-UBND
ngày 10/5/2022 của UBND phường T về việc phê duyệt bổ sung quỹ đất công
của UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Do đây đất công do UBND phường quản đề nghị Toà án bác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị Ý và ông Trần Ngọc M
trình bày:
Quyền sử dụng đất, quyền sở hu nhà ở và tài sản khác gắn liền với số nhà
F một phần của các thửa đất số 59, 69, 84, 47, tờ bản đồ số 47, toạ lạc tại
đường C, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nguồn gốc do
cha mẹ bà Thị Ý cho tnăm 1975. Phần đất tranh chấp do gia đình Ý
khai hoang, sinh sống từ trước năm 1975, sau khi ba mẹ Ý chết thì bà Ý tiếp
tục quản lý, sử dụng đóng thuế. Đến năm 2003, căn nhà đất được
UBND phường P giải quyết theo biên bản ngày 23/4/2003. Gia đình bà Ý không
biết cũng không được UBND thông báo thửa đất số 59, 69, 84, 47, tờ bản đồ
số 47 là đất công. Năm 2019, bà Võ Thị Ý chuyển nhượng nhà, đất cho ông N1,
sau đó ông N1 bán nhà, đất lại cho nhng ai Ý không biết. Ý không
liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ông T nên yêu cầu Toà án giải quyết theo
quy định của pháp luật.
4
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm T1 trình bày:
Đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số 637/16/8 được xây dựng gắn liền với phần đất công một phần của các
thửa đất số 59, 69, 84, 47 tờ bản đồ số 47, toạ lạc tại khu phố E, phường P, thành
phố T, tỉnh Bình Dương vợ chồng Nguyễn Thị Cẩm Thu M2 từ Nguyễn
Thị Quỳnh N vào ngày 30 tháng 8 năm 2024. Thời điểm mua, vchồng N
cung cấp các giấy tờ đã mua bán trước đó của N gồm: Giấy chuyển nhượng,
giấy tờ đóng thuế…). Tuy nhiên đến nay, vợ chồng T1 vẫn không biết thửa
đất thuộc đất công hay không những hộ liền kề vẫn được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. T1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh
Văn T.
Quá trình giải quyết vụ án Tán đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ vụ
án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ
hoà giải cho Nguyễn Thị Quỳnh N nhưng N vắng mặt không do,
không có văn bản trình bày ý kiến và yêu cầu gì đối với vụ án.
* Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/6/2025 đồ giải
quyết tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T cung cấp
thể hiện: Diện tích đất đo đạc thực tế của phần đất tranh chấp 116,6m
2
(trong
đó 46,9m
2
thuộc thửa đất 84 là đất nghĩa địa) thuộc một phần thửa đất số 84-
610, tờ bản đồ số 127, toạ lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay
là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Trên đất có các tài sản sau: một căn nhà
cấp 4 kết cấu vách tường, mái tôn, nền gạch men; mái che tôn + lưới B40 +
nền gạch men; mái che tôn, nền gạch tàu + lưới B40 + song sắt; 01 giếng
đóng.
* Theo biên bản định g ngày 30/10/2025 của Hội đồng định giá: Đất
trồng cây lâu năm giá 6.000.000 đồng/m
2
; đất thổ giá
10.000.000đồng/m
2
; căn nhà cấp 04 giá 3.616.000 đồng/m
2
x 50% giá trị s
dụng x 59,3m
2
= 107.214.400 đồng; mái che giá 974.000 đồng/m
2
x 40% giá
trị sử dụng x 57,3m
2
= 22.324.080 đồng; tơ giếng đóng giá 5.933.000
đồng/cái.
Tại Bản án dân sự thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 16/01/2026, a án
nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T
đối với bị đơn Nguyễn Thị Quỳnh N về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
30/8/2024 giữa ông Huỳnh Văn T với bà Nguyễn Thị Quỳnh N vô hiệu.
- Nguyễn Thị Quỳnh N trách nhiệm trả lại cho ông Huỳnh Văn T số
tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng).
5
Kể từ ngày quyết định hiệu lực cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Nguyễn Thị Quỳnh N ông Huỳnh Văn T phải tháo dtoàn bộ tài
sản gắn liền với diện tích đất 116,6m
2
(trong đó 46,9m
2
thuộc thửa đất 84
đất nghĩa địa) thuộc một phần của thửa đất số 84-610, tờ bản đồ số 127, toạ lạc
tại khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay khu phố P,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) để giao đất cho UBND phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh quản lý (theo sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
2. Về chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Văn T phải chịu 3.412.570đ (ba triệu bốn
trăm mười hai nghìn năm trăm bảy mươi đồng), được khấu trừ vào số tiền ông T
đã nộp tạm ứng tại Toà án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, trách nhiệm thi hành án quyền
kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi bản án thẩm, ngày 27/01/2026, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn ông Nguyễn Quang V kháng cáo toàn bộ bản án thẩm. Đề nghị
tòa án phúc thẩm sửa toàn bộ bản án thẩm, theo hướng chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữu nguyên yêu cầu khởi kiện và
yêu cầu kháng cáo; Bị đơn không kháng cáo vắng mặt tại phiên toàp húc
thẩm nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau vviệc giải quyết vụ
án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử những người tham gia tố tụng
đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung, xét thấy giấy chuyển nhượng nhà, đất ngày 30/8/2024 giữa
ông Huỳnh Văn T Nguyễn Thị Quỳnh N đối tượng chuyển nhượng
phần đất công do Nhà nước quản lý; tại thời điểm giao dịchN không có Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, không quyền chuyển nhượng theo quy định
của pháp luật. Các bên đều biết đất thuộc diện đất công nhưng vẫn thực hiện
việc chuyển nhượng nên giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, thuộc trường
hợp hiệu theo Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do giao dịch hiệu về
nội dung nên không căn cứ áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự để công nhận
giao dịch như yêu cầu của nguyên đơn.
Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh
Văn T, tuyên bố giao dịch hiệu giải quyết hậu quả pháp của giao dịch
hiệu căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên
đơn không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Ttụng dân sự,
6
không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn T, giữ nguyên quyết định của
bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng của đương sự tại phiên tòa, ý kiến của Viện
kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T do người đại diện
theo ủy quyền ông Nguyễn Quang V thực hiện trong thời hạn luật định, đã
nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được xem xét theo thủ tục
phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn ông Nguyễn Quang V mặt; người đại diện theo ủy quyền khác của
nguyên đơn ông Trần Đăng Q vắng mặt. Bị đơn Nguyễn Thị Quỳnh N
vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Như Ý1, ông Trần
Ngọc M, bà Nguyễn Thị Cẩm T1 vắng mặt; đại diện Ủy ban nhân dân phường T
đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Những người vắng mặt đều thuộc trường hợp
đã được triệu tập hợp lệ hoặc đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T: Ông Huỳnh Văn T
kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận giao dịch chuyển
nhượng nhà, đất lập ngày 30/8/2024 giữa ông bà Nguyễn Thị Quỳnh N.
Nguyên đơn cho rằng các bên đã thực hiện xong việc giao nhận tài sản tiền,
giao dịch đã được thực hiện trên hai phần ba nghĩa vụ nên đủ điều kiện được
công nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 30/8/2024, Nguyễn Thị Quỳnh N lập
giấy chuyển nhượng nhà, đất cho ông Huỳnh Văn T với giá 900.000.000 đồng
đối với n nhà số 637/16/8 và phần đất kèm theo. Sau khi lập giấy chuyển
nhượng, ông T đã giao đủ tiền cho bà N, bà N đã bàn giao nhà đất để ông T quản
lý, sử dụng.
Tuy nhiên, căn cứ các tài liệu trong hồ vụ án Công văn số
125/UBND-KT ngày 08/4/2025 của UBND phường P, Quyết định số 2697/QĐ-
UB ngày 14/6/2002; Quyết định số 1230/QĐ-UBND ngày 11/4/2013; Quyết
định số 2260/QĐ-UBND ngày 10/5/2022 của UBND thành phố T, đủ sở
xác định phần đất các bên thỏa thuận chuyển nhượng thuộc quỹ đất công do
Nhà nước quản lý, không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Nguyễn Thị
Quỳnh N.
Mặt khác, tại thời điểm xác lập giao dịch, Nguyễn Thị Quỳnh N không
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không quyền chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Nội dung giấy chuyển
7
nhượng ngày 30/8/2024 cũng thể hiện đối tượng chuyển nhượng là “đất
công”.
Như vậy, giao dịch giữa ông T và N không chỉ vi phạm quy định về
hình thức còn vi phạm điều cấm của pháp luật về đất đai do đối tượng của
giao dịch là đất công thuộc quyền quản của Nhà nước, không được phép
chuyển nhượng. Đây trường hợp giao dịch dân sự hiệu theo quy định tại
Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với lập luận của nguyên đơn cho rằng giao dịch đã được thực hiện
trên hai phần ba nghĩa vụ nên được công nhận theo Điều 129 Bộ luật Dân sự
năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy Điều 129 chỉ được áp dụng đối với trường
hợp giao dịch vi phạm quy định về hình thức nhưng nội dung giao dịch không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức hội. Trong vụ án này, giao dịch
chuyển nhượng đối tượng là đất công, thuộc trường hợp vi phạm điều cấm
của pháp luật nên không thuộc trường hợp được công nhận theo Điều 129 Bộ
luật Dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án hoặc
làm phát sinh căn cứ để công nhận giao dịch chuyển nhượng. Do đó, không
cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[3] Về hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu
Do hợp đồng chuyển nhượng ngày 30/8/2024 vô hiệu nên hậu quả pháp lý
được giải quyết theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Sau khi giao kết hợp đồng, ông Huỳnh Văn T đã giao cho Nguyễn Thị
Quỳnh N số tiền 900.000.000 đồng; N đã giao nhà và đất cho ông T sử dụng.
vậy, N nghĩa vụ hoàn trả cho ông T stiền đã nhận 900.000.000
đồng.
Đối với diện tích đất tranh chấp, kết quả xác minh thể hiện đây là đất công
do Nhà nước quản lý. Do đó, ông T không quyền tiếp tục quản lý, sử dụng.
Các công trình, tài sản được tạo lập trên đất công phải được tháo dỡ, di dời để
giao trả đất cho quan Nhà nước thẩm quyền quản theo quy định của
pháp luật đất đai.
Xét lỗi dẫn đến giao dịch vô hiệu, cả ông T bà N đều biết hoặc phải
biết phần đất giao dịch đất công, N không giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nhưng vẫn thực hiện việc chuyển nhượng. Do đó, cả hai bên đều có lỗi
ngang nhau làm cho giao dịch hiệu nên không đặt ra trách nhiệm bồi thường
thiệt hại giữa các bên.
Đối với diện tích đất 116,6m² thuộc một phần thửa đất số 84-610, tờ bản
đồ số 127 tọa lạc tại khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ các
tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, đủ sở xác định đây đất công
thuộc quỹ đất do Nhà nước quản . Do đó, ông Huỳnh Văn T không quyền
sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất nêu trên. Việc quản lý, xử lý diện tích đất
8
công tài sản trên đất thuộc thẩm quyền của quan nhà nước thẩm quyền
theo quy định của pháp luật đất đai nên Hội đồng xét xử không xem xét giải
quyết trong vụ án này.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân phù hợp với tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Từ những phân tích trên, xét thấy, Tòa án cấp thẩm không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với quy định của
pháp luật. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T không có căn cứ
chấp nhận.
[6] Án phí dân sphúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn không được
chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 117, 122, 123, 129, 500, 502 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 27, 45, 179 Luật Đất đai 2024;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Huỳnh Văn T.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 16/01/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:
1.1 Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn
T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh N về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
30/8/2024 giữa ông Huỳnh Văn T với bà Nguyễn Thị Quỳnh N vô hiệu.
- Bà Nguyễn Thị Quỳnh N có trách nhiệm trả lại cho ông Huỳnh Văn T số
tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng).
Kể từ ngày quyết định hiệu lực cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Xác định diện tích đất 116,6m² thuộc một phần thửa đất số 84-610, tờ
bản đồ s127 tọa lạc tại khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đất
công thuộc quyền quản lý của Nhà nước.
9
1.2. Về chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Văn T phải chịu 3.412.570đ (ba triệu
bốn trăm mười hai nghìn năm trăm bảy mươi đồng), được khấu trừ vào số tiền
ông T đã nộp tạm ứng tại Toà án.
1. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Huỳnh Văn T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Toà án số 0008837 ngày 25/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Thủ Dầu Một (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15- Thành
phố Hồ Chí Minh).
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn T phải chịu 300.000 đồng
án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã
nộp theo Biên lai thu s0009652 ngày 02/02/2026 của tại Thi hành án dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THẨM PHÁN THÀNH VIÊN
Huỳnh Thị Thanh Tuyền Đinh Thị Mộng Tuyết
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA
Nguyễn Trung Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1174/2026/DS-PT Bản án số 1174/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1174/2026/DS-PT Bản án số 1174/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất