Bản án số 1065/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1065/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1065/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1065/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông V, bà M tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24-01-2013 và tiến hành thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 113.774,1m2 đất nêu trên cho bà H.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1065/2026/DS-PT Bản án số 1065/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1065/2026/DS-PT Bản án số 1065/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1065/2026/DS-PT
Ngày 26-5-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Vỹ
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thương
Ông Trương Văn Tâm
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị - Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Thái Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 26 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 1), xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ
324/2024/TLPT-DS ngày 30-12-2024 về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân thẩm số 25/2024/DS-ST, ngày 14 tháng 6 năm 2024
của Toà án nhân dân thành phố Rịa, tỉnh Rịa Vũng Tàu (nay Toà án
nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 3
năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 4 năm
2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 55/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 5 năm
2025, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 126/2026/TB-TA ngày 05 tháng 01
năm 2026, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 1167/2026/TB-
TA ngày 20 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 1920/2026/QĐ-
PT ngày 04 tháng 02 năm 2026, Thông báo vviệc thay đổi thời gian mở phiên
tòa số 3568/2026/TB-TA ngày 03 tháng 3 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa
số 4528/2026/QĐ-PT ngày 02 tháng 4 năm 2026 Quyết định tạm ngừng
phiên tòa số 5765/2026/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh nǎm 1979.
Địa chỉ: Số A Đường B, phường P, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu
(nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:
2
Trịnh Thị H1 - Luật thuộc Công ty luật TNHH MTV Anh Việt -
Đoàn Luật sư tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
- Bị đơn: Ông Phan Văn V, sinh năm 1946 Trịnh Thị M, sinh m
1948.
Địa chỉ: Tổ D, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
(nay là Tổ B, khu phố K, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Thúy H2, sinh nǎm 1986.
Địa chỉ: Ấp D, L, huyện C, tỉnh Long An (nay ấp H, L, tỉnh Tây
Ninh) (vắng mặt).
2. Bà Bùi Thị B, sinh năm 1960.
Địa chỉ: 3 khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (nay là ấp B, xã B,
tỉnh Tây Ninh) (vắng mặt).
3. Ông Phan Đức H3, sinh nǎm 1997.
Địa chỉ: Khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay
là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
Theo Giấy ủy quyền ngày 03-9-2025.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
Ông Trương Anh T Thị Hồng H4 - Luật thuộc Công ty luật
TNHH Trương Anh Chi nhánh Thành phố H - Đoàn Luật Thành phố H
(bà H4 có mặt, ông T vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh nǎm 1979.
Địa chỉ: Số A Đường B, phường P, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu
(nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1:
Trịnh Thị H1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: B L, Phường H, thành phố V, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy ủy quyền ngày 22-12-2022 (có
mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1960.
Địa chỉ: B khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay
là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
2. Ông Phan Văn T2, sinh năm 1977.
3
Địa chỉ: Tổ G, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
(nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
3. Phan Thị Hải Y, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Tổ D, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
(nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Phan Văn V và bà Trịnh Thị M - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Ngày 24-01-2013, ông Phan Văn V Trịnh Thị M Hợp đồng
chuyển nhượng cho Nguyễn Thị Thu H 113.774,1m
2
đất thuộc thửa 15, tờ
bản đồ 28, phường K, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (sau đây gọi tắt
thửa đất số 15), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 826630 do ông
V đứng tên. Việc ký kết có bà Phan Thị Hải Y (con ông V, bà M) làm chứng.
Ngày 28-01-2013, hai bên tiếp tục ký Bản thỏa thuận với nội dung: Khi ra
công chứng, H sẽ thanh toán số tiền còn lại là 3,8 tỷ đồng nhận Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Thỏa thuận này có ông Phan Văn T2 và bà Phan
Thị Hải Y (các con ông V) ký làm chứng.
Do thửa đất trên đang bị Tòa án giải quyết quan thi hành án xử để
thu hồi nợ vay ngân hàng, nên ngày 30-8-2013, tại Chi cục Thi hành án dân s
thành phố Bà Rịa, bà H đã nộp tiền tất toán toàn bộ khoản nợ thay cho vợ chồng
ông V. Cùng ngày, H giao đủ stiền mua bán đất cho M, ông V M
đã bàn giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H, đồng thời
biên nhận nội dung "tôi đã nhận đủ số tiền bán đất 113.774,1m
2
" với sự
làm chứng của ông Nguyễn Văn B1.
Ngày 03-9-2013, ông V, M lập Hợp đồng ủy quyền (thời hạn 05 năm)
cho H được toàn quyền xóa thế chấp, quản lý, đo vẽ, tách thửa chuyển
nhượng/tặng cho đối với thửa đất số 15. do hai bên lập Hợp đồng ủy quyền
thay vì hợp đồng chuyển nhượng là do diện tích đất vượt hạn mức, đồng thời
H mua đất với mục đích kinh doanh nên muốn chờ khách mua đ chuyển
nhượng trực tiếp.
Khoảng năm 2019, khi H làm thủ tục y quyền lại cho bên thứ ba thì
phát hiện vợ chồng ông V đã tự ý hủy Hợp đồng ủy quyền mà không thông báo.
Năm 2020, H làm đơn tố cáo ông V, M tại Công an tỉnh B. Tại quan
công an, ông V thừa nhận việc chuyển nhượng, xác nhận H người thanh
toán nợ ngân hàng đnghị thương lượng. Tuy nhiên, việc thương lượng sau
đó không thành.
Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông V, bà M tiếp tục thực hiện
Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24-01-2013 và tiến hành thủ tục sang tên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 113.774,1m
2
đất nêu trên cho bà
H.
4
Ngày 22-02-2023 H đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải
quyết các vấn đề sau:
- Tuyên công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-
01-2013 về việc chuyển nhượng diện tích 113.774,1m
2
đất tại thửa đất số 15, tờ
bản đồ 28 phường K, thành phố B.
- Tuyên công nhận Bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 28-01-2013 đối với diện tích 113.774,1m
2
đất tại thửa đất số 15 nêu
trên.
- Tuyên công nhận cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Thu H, ông Nguyễn Văn
T1 được toàn quyền sử dụng diện tích 113.774,1m
2
đất tại thửa đất số 15 trên.
- Tuyên bà Nguyễn Thị Thu H, ông Nguyễn Văn T1 được quyền liên h
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục sang tên quyền sử
dụng đất.
- Tuyên hủy Bản cam kết ngày 30-8-2013 giữa Nguyễn Thị Thu H và
ông Phan Văn V Trịnh Thị M về việc nhờ ông V M đứng tên hộ diện tích
113.774,1m
2
đất tại thửa đất số 15 trên và hứa thưởng số tiền 3,5 tỷ đồng.
- Tuyên buộc ông Phan Văn V, Trịnh Thị M tất cả những người đang
sử dụng trên diện tích 113.774,1m
2
đất tại thửa đất số 15 nêu trên phải di dời tài
sản để trả lại nguyên trạng đất cho bà H và ông T1.
Bị đơn ông Phan Văn V và bà Trịnh Thị M và người đại diện theo ủy quyền
của bị đơn trình bày:
Ông Phan n V Trịnh Thị M chủ sử dụng thửa đất số
15/113.774,1m
2
số 361/2.522,8m
2
, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, ông
bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2013, vợ chồng ông V
nhu cầu chuyển nhượng hai thửa đất trên, nên khi Nguyễn Thị Thu H đến
hỏi mua thì ông đồng ý. Ban đầu, hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng cả
hai thửa 4 tỷ đồng, cụ thể thửa 361/2.522,8m
2
giá 200.000.000 đồng, thửa
15/113.774,1m
2
giá 3.800.000.000 đồng. lúc đó giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của thửa số 15 ông đang thế chấp ngân hàng nên không thể công
chứng hợp đồng chuyển nhượng nên hai bên chỉ tiến hành công chứng đối với
thửa 361/2.522,8m
2
. Sau đó hai bên đã thực hiện xong việc chuyển nhượng đối
với thửa 361/2.522,8m
2
.
Đối với thửa 15/113.774,1m
2
,
ông thế chấp tại Ngân hàng N chi nhánh
tỉnh B để vay số tiền khoảng 800.000.000 đồng. Số tiền này ông bà đã tự trả.
già yếu nên ông không nhớ chính xác, nhưng sau đó H đến chở vợ
chồng ông bà đến phòng C một số giấy tờ, công chứng viên yêu cầu đọc
kỹ rồi ký nhưng vì già nên ông bà không đọc mà cứ vào các văn bản giấy tờ.
Sau khi hợp đồng thì H năn nỉ ông cho mượn giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất để đưa cho người khác xem, tin tưởng nên ông đồng ý giao sổ
đỏ. Lúc này, H hứa trong thời hạn 1 tháng sẽ thanh toán toàn bộ s tiền
chuyển nhượng là 3.800.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau một tháng bà H không trả
5
tiền nên ông bà đơn ngăn chặn gửi Ủy ban nhân dân thành phố B Phòng
Tài nguyên môi trường yêu cầu không cho phép sang tên H chưa trả tiền.
Sau đó, nhiều lần ông đi tìm H để đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nhưng không gặp, hiện thửa đất vẫn do ông canh tác sử dụng vào mục
đích nuôi trồng thủy sản.
Ngày 27-8-2020, ông V M đơn yêu cầu phản tố đề nghị tuyên hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-2013 đối với diện tích
113.774,1m
2
đất tại thửa đất số 15 nêu trên hiệu; yêu cầu bà H phải hoàn trả
bản chính giấy chứng nhận quyền sdụng đất số AD 826630 do Ủy ban nhân
dân thị B cấp ngày 05-01-2006, bà H chưa thanh toán cho ông bất kỳ
khoản tiền nào.
Đối với ý kiến trình bày của ông B1, ông khẳng định ông B1 không
tham gia trong việc giao dịch chuyển nhượng giữa ôngvà bà H. Ôngchưa
nhận bất kỳ khoản tiền nào của H. Ông V, bà Minh xác Đ ông trả tiền nợ
tại Ngân hàng chứ không trả tiền tại Thi hành án như ông B1 trình bày.
Đối với một số giấy tờ tay do bà H cung cấp cho Tòa gồm: Bản cam kết
ngày 28-01-2013, Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày 24-01-
2013, Bản cam kết ngày 30-8-2013 và Giấy giao tiền ngày 30-8-2013 chữ
của ông V, bà M: Ông bà xác nhận có ký tên nhưng không nhớ đã ký khi nào và
đâu H rất nhiều lần đến gặp ông yêu cầu giấy tờ. Riêng đối
với giấy tay đề ngày 30-8-2013, ông xác nhận đã nhận đủ tiền là nhận đủ
tiền chuyển nhượng thửa đất 361 chứ không phải chuyển nhượng thửa đất số 15.
Theo ông V, M trình bày thì ông V, M không nhớ vào
Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24-01-2013 hay không. Thực chất, H chưa
giao tiền nên ông V, M không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với H. Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24-01-
2013 giữa ông V, bà M H không phù hợp với quy định của pháp luật nên
không phát sinh hiệu lực. Bị đơn không đồng ý với các yêu cầu bổ sung của
nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Ông V,
M tên vào hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 24-01-2013, còn lại các
văn bản giấy tờ khác do bà H cung cấp cho Tòa án thì ông V, bà M không ký tên
và đó không phải là chữ ký của ông V, bà M.
Bị đơn đồng ý với kết quả thẩm định giá do Công ty T5 cung cấp, tổng giá
trị tài sản là 58.023.414.000 đồng.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Ông Nguyễn Văn T1 Nguyễn Thị Thu H vợ chồng hợp pháp.
Trước đây H ký hợp đồng chuyển nhượng diện tích 113.774,1m
2
đất tại
thửa 15, tbản đ28 phường K, thành phố B với ông V, M. Tuy nhiên thời
điểm đó, ông T1 không tham gia giao dịch để H đại diện thực hiện giao
dịch với ông V, bà M. Số tiền H đã giao cho ông V, M để chuyển nhượng
đất tài sản chung của vợ chồng. Do thửa đất vượt hạn mức nên không thể
6
công chứng sang tên nên ông V, M đã hợp đồng ủy quyền cho H ngày
03-9-2013. Bà H đã giao đủ số tiền chuyển nhượng nên ông V, bà M đã giao bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H, hiện H đang giữ bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 113.774,1m
2
đất tại
thửa đất số 15 nêu trên.
Mặt khác, do thửa đất là đất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản nên các con
ông V, M ông Phan Văn T2 và bà Phan Thị Hải Y cũng tên xác nhận
đồng ý việc chuyển nhượng này.
Với tư cách người quyền nghĩa vụ liên quan, ông T1 thống nhất
với các yêu cầu khởi kiện của bà H.
Ông T1 không có ý kiến gì về kết quả thẩm định giá và định giá.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn B1 trình bày:
Ông quan hệ quen biết với H do đi mua bán đất đai chung với
H, còn vợ chồng ông V thì ông B1 cũng quen biết do có làm đùng chung.
Do mối quan hệ quen biết với cả hai bên, nên khi ông B1 nghe ông V nói
rằng vợ chồng ông đang thiếu nợ ngân hàng không tiền trả nên muốn bán
thửa đất đùng diện tích 113.774,1m
2
tại thửa đất số 15, thì ông đã giới thiệu cho
Nguyễn Thị Thu H để nhận chuyển nhượng thửa đất này của ông V. Sau đó,
giữa ông V, bà M và vợ chồng bà H có thỏa thuận được với nhau về việc chuyển
nhượng, giá chuyển nhượng 4.000.000.000 đồng. Đến ngày 30-8-2013, giữa
hai bên thỏa thuận sẽ giao nhận tiền nên bà H có yêu cầu ông B1 đi cùng để làm
chứng. ông V thiếu nợ ngân hàng nên hai bên đến Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Bà Rịa để giao nhận tiền, lúc đó có cả cán bNgân hàng N cầm sổ
đỏ đến. Lúc đó, ông B1 cũng ngồi trên xe của H biết H chuẩn
bị một bao tiền trên xe, H giao tiền trực tiếp cho vợ chồng ông V, M trên
xe, sau khi M đếm tiền xong thì ông V, bà M vào giấy tay giao nhận tiền
ông B1 tên người làm chứng. Sau đó, vợ chồng ông V trả tiền cho Ngân
hàng nhận sổ đỏ rồi giao cho H. Tiếp sau đó, H làm thtục xóa thế
chấp và ký hợp đồng ủy quyền tại văn phòng công chứng.
Theo ông B1, khi ông giới thiệu cho H mua thửa đất này, thái độ của vợ
chồng ông V rất vui vẻ, tnguyện, chính ông V còn hứa cho ông 2% hoa hồng.
Mặt khác, khi H gửi đơn kiện ông V, M đến Công an tỉnh B, Công an đã
làm việc biên bản ghi nhận ý kiến của hai bên. Tại đây, khi được mời làm
việc, ông cũng đã trình bày những ông biết về việc mua bán đất giữa vợ
chồng ông V H. Sau buổi làm việc Công an thì ông V gọi điện thoại
cho ông với nội dung là:“Hiện giá thửa đất này rất cao chênh lệch nhiều so với
giá chuyển nhượng trước đây, nếu giờ bà H giao thêm 4 tỷ nữa thì sao”. Vì theo
ông biết thì giữa bà H và vợ chồng ông V có một bản thỏa thuận với nội dung bà
H để cho vợ chồng ông V đứng tên thửa đất quản đất đai giùm, khi nào
H chuyển nhượng cho người khác thì sẽ cho thêm vợ chồng ông V 3,5 tỷ đồng
nữa. Lúc y, ông B1 trả lời với ông V rằng đất đã bán cho người ta rồi thì
phải cho người ta chứ. Nên ông B1 khẳng định việc chuyển nhượng thửa đất
7
diện tích 113.774,1m
2
đất tại thửa đất số 15 nêu trên giữa ông V, M H
thật, ông người giới thiệu, đồng thời chứng kiến việc H giao tiền cho
vợ chồng ông V trên xe ô của H. Hơn nữa, sau khi công an làm việc thì
ông V cũng xác nhận đã bán đất cho H. Ông B1 cam kết lời khai của mình
đúng sự thật.
Người làm chứng bà Phan Thị Hải Y trình bày:
con ruột của ông V, M. biết năm 2013, bố mẹ thỏa thuận
chuyển nhượng thửa đất số 15/113.774,1m
2
và thửa đất số 361/2.522,8m
2
, tờ bản
đồ 28 phường K, thành phố B nhưng không cụ thể việc chuyển nhượng
như thế nào.
Đối với các giấy tay do H cung cấp cho Tòa án gồm: Bản cam kết ngày
28-01-2013; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-2013 và
Bản cam kết ngày 30-8-2013 chữ tên Phan Thị Hải Y. Y không xác
nhận chữ đó của vì không tên vào các văn bản, giấy tờ trên.
cho rằng đó là chữ ký giả nhưng không yêu cầu giám định chữ ký.
Người làm chứng ông Phan Văn T2 trình bày:
Ông Phan Văn T2 con ruột của ông V, M, ông T2 xác nhận thời điểm
đầu năm 2013 bố mẹ ông có chuyển nhượng thửa đất số 15/113.774,1m
2
và thửa
đất số 361/2.522,8m
2
, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B nhưng do thửa 15
đang thế chấp ngân hàng nên không công chứng được. vậy, H lập bản
cam kết chuyển nhượng thửa 15/113.774,1m
2
với giá 3.800.000.000 đồng
ông ký làm chứng vào bản cam kết này. Ngoài ra, ông chứng kiến việc bố
mẹ ông nhận 200.000.000 đồng của H tại phòng công chứng để chuyển
nhượng thửa đất số 361, ngoài ra ông không chứng kiến gì khác.
Ông T2 khẳng định H mới chỉ giao tiền 200.000.000 đồng đchuyển
nhượng thửa số 361, còn thửa đất số 15 thỏa thuận chuyển nhượng nhưng
H chưa giao tiền cho cha mẹ ông. Ông T2 cam kết lời khai của mình đúng sự
thật.
Tại Bản án dân sự thẩm số 25/2024/DS-ST, ngày 14 tháng 6 năm 2024
của Toà án nhân dân thành phố Rịa, tỉnh Rịa Vũng Tàu (nay Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh) đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thu H về việc tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông Phan Văn V,
Trịnh Thị M.
1.1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-
2013 giữa ông Phan Văn V, Trịnh Thị M Nguyễn Thị Thu H hiệu
lực pháp luật.
1.2. Nguyễn Thị Thu H ông Nguyễn Văn T1 được công nhận quyền
sử dụng diện tích 60.000m
2
đất nuôi trồng thủy sản trong hạn mức thuộc thửa
15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu được Ủy ban
8
nhân dân thị B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 826630 ngày
05-01-2006 đứng tên ông Phan Văn V.
Nguyễn Thị Thu Hông Nguyễn Văn T1 được quyền tiếp tục quản lý,
sử dụng diện tích 53.774,1m
2
đất nuôi trồng thủy sản ngoài hạn mức thuộc thửa
15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời ông
T1, H được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để thực hiện
việc thuê đất đối với diện tích đất ngoài hạn mức theo quy định của pháp luật về
đất đai.
Nguyễn Thị Thu H ông Nguyễn Văn T1 nghĩa vụ liên hệ với
quan nhà nước thẩm quyền để đăng quyền sdụng đất theo quy định của
pháp luật.
1.3. Buộc ông Phan Văn V. Trịnh Thị M trách nhiệm giao trả diện
tích 113.774,1m
2
đất tại thửa 15. tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, tỉnh
Rịa - Vũng Tàu cho bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T1.
1.4. Buộc ông Phan Văn V. Trịnh Thị M trách nhiệm tháo dỡ di
dời toàn bộ tài sản gắn liền với diện tích 113.774,1m
2
đất tại thửa 15, tờ bản đồ
28 phường K, thành phố B bao gồm: Nhà tạm 1 diện tích 24m
2
cấu trúc mái lợp
tôn fibro xi măng, xà gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, 02 cửa gỗ bọc tôn, vách tôn m
kẽm fibro xi măng + gỗ, nền đất; nhà tạm 2 diện tích 23,5m
2
cấu trúc mái lợp
tôn fibro xi măng, gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, vách tôn mạ kẽm fibro xi
măng + gỗ, nền đất; 02 cống xả dài 20m, thành bê tông cốt thép dày 15cm, thành
giữa tông cốt thép dày 15cm, đáy đổ tông cốt thép dày 20cm, tấm đan bê
tông cốt thép dày 8cm; 05 cái kiệt tháo tôm dài 12m, tông cốt thép rộng 1m
cao 1m.
2. Tuyên hủy Bản cam kết ngày 30-8-2013 giữa Nguyễn Thị Thu H
ông Phan Văn V, bà Trịnh Thị M về việc nhờ ông V, bà M đứng tên hộ diện tích
113.774,1m
2
đất tại thửa 15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B và hứa thưởng
số tiền 3,5 tỷ đồng.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bđơn ông Phan Văn V
Trịnh Thị M về việc tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
24-01-2013 đối với diện tích 113.774,1m
2
đất thuộc thửa 15, tờ bản đồ 28
phường K, thành phố B hiệu và yêu cầu H hoàn trả bản chính Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 826630 do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp
ngày 05-01-2006 đứng tên ông Phan Văn V.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án p quyền
kháng cáo theo luật định.
Yêu cầu kháng cáo:
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, bị đơn ông Phan Văn V Trịnh Thị M
đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận
yêu cầu phản tố của bị đơn.
9
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên
quyết định của bản án sơ thẩm.
Bị đơn ông Phan Văn V, Trịnh Thị M (do ông Phan Đức H3 đại diện)
giữ nguyên yêu cầu phản tố yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xsửa
bản án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Luật sư Trịnh Thị H1 bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ
nguyên các quyết định của bản án thẩm, do giữa bà Nguyễn Thị Thu H và vợ
chồng ông Phan Văn V, Trịnh Thị M đã hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất đối với thửa đất số 15, tờ bản đsố tờ bản đồ 28 phường K, thành
phố B một cách hoàn toàn tự nguyện. Ngày 30-8-2013, bà Nguyễn Thị Thu H đã
giao đủ số tiền chuyển nhượng thửa đất trên 3,8 tỷ đồng cho bà Trịnh Thị M
ngay trên xe ô của H, sự chứng kiến của ông Phan Văn V người làm
chứng cũng người môi giới ông Nguyễn Văn B1. Sau khi đếm đủ tiền,
M và ông V đã ký giấy tay xác nhận đã nhận đủ tiền chuyển nhượng thửa đất số
15 và giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H. Do thửa đất
số 15 diện tích đất nuôi trồng thủy sản vượt hạn điền nên hai bên không
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 03-9-2013, ông V, M đã
Hợp đồng ủy quyền cho bà H được toàn quyền sử dụng, định đoạt đối với
thửa đất số 15 trong thời hạn 05 năm. Đồng thời, để đảm bảo quyền lợi cho
H, ngày 30-8-2013, hai bên cũng lập Giấy cam kết với nội dung: H nhờ ông
V, M đứng tên giùm trông coi, quản thửa đất số 15 giùm cho H, khi
nào H bán được thửa đất này cho người khác sẽ trả công cho bà M, ông V số
tiền 3,5 tỷ đồng. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-
01-2013 thật, được hai bên thừa nhận đã hoàn thành nghĩa vụ với nhau
nên phải được pháp luật công nhận. Việc bị đơn cho rằng H chưa thanh toán
đủ tiền cho ông V, bà M là không có căn cứ không có chứng cứ chứng minh.
Đối với Giấy hẹn ngày 29-10-2013 Hợp đồng vay tiền ngày 30-8-2013 do bị
đơn cung cấp tại cấp phúc thẩm, H thừa nhận các giấy tờ, tài liệu này.
Nhưng số tiền 1,8 tỷ đồng được nêu trong hợp đồng vay tiền trong Giấy hẹn
trên thực chất là một và đây là khoản tiền bà H hứa sẽ trả cho ông V, bà M do có
công đứng tên giùm thửa đất số 15 trông coi, quản giùm thửa đất này cho
H, chứ không phải khoản tiền H còn thiếu khi nhận chuyển nhượng đất
của ông V, M. Theo Giấy cam kết ngày 30-8-2013 thì khoản tiền H cam
kết trả công cho M, ông V 3,5 tỷ đồng H nghĩ thời gian đứng tên
giùm sẽ lâu, nhưng do sau đó H tìm được người chuyển nhượng lại nên hai
bên đã thống nhất giảm số tiền công xuống 1,8 tỷ đồng hai bên đã lập Giấy
hẹn ngày 29-10-2013 nêu trên. Vì lo sợ bà H không trả khoản tiền công trên nên
ông V, M yêu cầu H phải hợp đồng vay tiền tại phòng công chứng để
làm tin chthực chất hai bên không quan hệ vay tiền. Nay M, ông V
không thực hiện đúng cam kết đứng tên giùm cho bà H mà tự ý đơn phương hủy
10
hợp đồng ủy quyền cho H khi không sự đồng ý của H, do đó H
không nghĩa vụ trả khoản tiền 1,8 tỷ đồng cho M, ông V. vậy, đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bác
yêu cầu phản tố của bị đơn.
Luật Thị Hồng H4 bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì những lý do sau:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 24-01-2013 không đủ
điều kiện đđược công nhận theo Điều 129 Bộ luật Dân năm 2015 Án lệ
số 55/2022/AL. đây hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo
quy định bắt buộc, không được đăng biến động, quyền sử dụng đất vẫn đứng
tên bị đơn trong thời gian dài; đồng thời nguyên đơn chưa chứng minh được việc
trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định toàn bộ diện tích đất tranh chấp.
- Thời điểm các bên lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
24-01-2013 thì quyền sử dụng đất trên vẫn đang được dùng để đảm bảo nghĩa v
tại Ngân hàng và chưa hoàn tất thủ tục giải chấp theo quy định của pháp luật.
- Diện tích đất chuyển nhượng vượt hạn mức nhận chuyển quyền theo quy
định của Luật Đất đai.
- Nghĩa vụ thanh toán 2/3 chưa được chứng minh ràng bằng các chứng
cứ tài chính khách quan, chdựa vào giấy tờ viết tay chưa đảm bo sở
pháp vững chắc. Tình huống pháp lý trong vụ án này cũng khác với tình
huống pháp tại Án lsố 55/2022/AL nên không áp dụng Án lệ để giải quyết
vụ án này.
- Giấy hẹn ngày 29-10-2013 phản ánh nghĩa vụ trả tiền chưa được thực
hiện dứt điểm, cụ thể vẫn còn khoản tiền 1,8 tỷ đồng chưa được thực hiện.
- Lời khai của người làm chứng Nguyễn Văn B1 nhiều điểm không
thống nhất liên quan đến việc giao nhận tiền nên không đủ độ tin cậy để thay thế
cho chứng cứ tài chính khách quan.
- Hiện tại, gia đình bị đơn vẫn đang quản lý, sử dụng thửa đất tranh chấp.
Do vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-2013 là có căn cứ để được chấp nhận. Đề
nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về
việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định. Những
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định
của pháp luật. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
11
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bị đơn, hủy toàn bbản án thẩm, giao hồ vụ án cho Tòa án cấp
thẩm để giải quyết lại do cấp thẩm chưa xem xét, đánh giá đối với các chứng
cứ, tài liệu mới phát sinh tại cấp phúc thẩm và chưa đưa ông Phan Tuấn P,
Nguyễn Thị T3 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định nên được
chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại Giấy y quyền ngày 03-9-2025, bị đơn ông Phan Văn V
Trịnh Thị M ủy quyền tham gia tố tụng cho Bùi Thị B hoặc Nguyễn Thị
Thúy H2 hoặc ông Phan Đức H3. Do vậy, chỉ cần một trong 3 người trên
mặt đại diện cho bị đơn hợp pháp không cần phải cả ba người dại
diện tham gia tố tụng. Bùi Thị B Nguyễn Thị Thúy H2 đã được Tòa
án triệu tập hợp lệ lần thứ 3 nhưng vắng mặt không do. Người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 vắng mặt nhưng người đại diện
tham gia phiên tòa. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn là luật
Trương Anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt đơn
xin hoãn phiên tòa vì bị rối loạn tiêu hóa cấp nhưng không có tài liệu, chứng cứ
chứng minh nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Mặt khác, bị đơn đã
luật Thị Hồng H4 (cùng Công ty Luật với Luật sư Trương Anh T)
mặt để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn, nên Hội đồng xét xcăn
cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, xử vắng mặt những người tham gia tố tụng
nêu trên.
[2] t yêu cu kháng cáo ca b đơn ông Phan Văn V, Trnh Th M:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1.1] Xét yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 24-01-2013 giữa nguyên đơn và bị đơn:
Quá trình giải quyết vụ án cấp thẩm tại phiên tòa phúc thẩm,
nguyên đơn bà H và bị đơn ông V, bà M đều khai thống nhất với nhau nội dung:
Ngày 24-01-2013, giữa H ông V, M Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất với nội dung: “Hôm nay, ngày 24-01-2013, chúng tôi gồm có:
Bên chuyển nhượng (bên A) ông Phan Văn V, sinh năm 1946, CMND:
********* do Công an tỉnh B cấp ngày 27-4-2005 cùng vợ là Trịnh Thị M, sinh
năm 1948, CMND ********* do Công an tỉnh B cấp ngày 27-4-2005; cùng ngụ
tại: K, K, Rịa - Vũng Tàu; bên nhận chuyển nhượng (bên B) Nguyễn Thị
Thu H, CMND *********, do Công an tỉnh B cấp ngày 21-8-2010. Nội dung:
Bên A đồng ý chuyển nhượng cho bên B quyền sdụng đất số AD 826630 diện
tích 113.774,1m
2
,
số thửa 26566.28.15 do Ủy ban nhân dân thị B cấp ngày
12
05-01-2006 và thửa đất số 361, tờ bản đồ số 21 diện tích 2.522,8m
2
. Khi nào hai
bên ra công chứng bên A nhận đủ 4 tỷ đồng còn lại. Đồng thời bên B nhận sổ
của bên A” (Bl 397).
Đến ngày 28-01-2013, H M lại Bản thoả thuận nội dung:
Hôm nay, ngày 28-01-2013, bên A (ông V, bà M) đồng ý chuyển nhượng
113.774,1m
2
đất, toạ lạc tại phường K, thị xã B nay là thành phố B, tỉnh Bà Ra -
Vũng Tàu, thuộc thửa đất số 15, tờ bản đồ số 28. Theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AD 826630 do Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
cấp ngày 05-01-2006. Khi nào hai bên ra công chứng bên A sẽ nhận đủ số tiền
còn lại 3.800.000.000 đồng, đồng thời bên B nhận sổ đỏ của bên A”. Như
vậy, nội dung Bản thoả thuận ngày 28-01-2013 thực chất là nhắc lại nội dung
của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-2013 đối với riêng
thửa đất số 15, không phải là hợp đồng mới.
Các bên thừa nhận chữ ký, chữ viết của mình tại hợp đồng trên và cùng xác
nhận: Mặc dù trong hợp đồng trên ghi Khi nào hai bên ra công chứng bên A
nhận đủ 4 tỷ còn lại”, nhưng thực tế giá chuyển nhượng cho cả hai thửa đất số
15 số 361 chỉ 4 tỷ đồng, trong đó thửa 361 200.000.000 đồng, còn thửa
15 3.800.000.000 đồng. Hiện thửa 361 đã được các bên hợp đồng công
chứng sang tên xong trả tiền đầy đủ nên không tranh chấp. Các bên chỉ
tranh chấp đối với nội dung chuyển nhượng thửa 15 còn lại. Các bên cũng thừa
nhận việc kết hợp đồng trên do hai bên hoàn toàn tnguyện thỏa thuận,
không bị ai ép buộc, đe dọa hay lừa dối.
Từ lời khai và chứng cứ trên cho thấy việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 24-01-2013 đối với thửa đất số 15 giữa H ông V,
M hoàn toàn thật, trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, không bị ai ép buộc,
đe dọa hay lừa dối. Thời điểm kết hợp đồng trên hai bên đương sự đều
năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Do vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất trên thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự về chủ thể
tham gia giao kết ý chí tnguyện của các bên tham gia giao kết theo các
điểm a, c khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Về nội dung: Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24-01-2013 đầy đủ nội
dung thông tin về họ tên, địa chỉ các bên, diện tích, số thửa, số tờ bản đồ, địa chỉ
thửa đất, giá chuyển nhượng đảm bảo các nội dung của hợp đồng theo quy
định tại Điều 698 Bộ luật Dân sự 2005. Mục đích nội dung hợp đồng trên
không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thỏa mãn điều
kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Về hình thức hợp đồng: Đây hợp đồng bằng văn bản do nguyên đơn
và bị đơn tự thỏa thuận và ký với nhau, không được công chứng, chứng thực của
quan thẩm quyền. Do vậy, hình thức của hợp đồng này đã vi phạm quy
định tại Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 thì:
Giao dịch đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về
công chứng, chứng thực một bên hoặc các bên thực hiện ít nhất hai phần ba
nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra
quyết định công nhận hiệu lực giao dịch đó. Trong trường hợp này các bên
13
không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”. Mặc điều luật này
hiệu lực sau ngày ký kết Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24-01-2013 nhưng theo
Án lệ số 55/2022/AL thì nội dung quy định trên vẫn được áp dụng cho cả các
giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 hiệu lực
pháp luật.
Vì vậy, để xác định hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng trên, cần làm rõ
bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán 2/3 khoản tiền chuyển nhượng cho bên
chuyển nhượng chưa hoặc bên chuyển nhượng đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ
trong giao dịch với bên nhận chuyển nhượng chưa.
Xét về việc thanh toán tiền: Nguyên đơn H khẳng định đã thực hiện việc
thanh toán số tiền 3.800.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng thửa đất số 15
của ông V, M. Cụ thể, H thanh toán toàn bộ bằng tiền mặt giao trong xe
hơi của H, người nhận ông V M, trong đó M người trực tiếp
kiểm đếm tiền, sự chứng kiến của người làm chứng Nguyễn Văn B1. Sau khi
nhận đủ tiền, V, ông M đã vào tgiấy xác nhận Tôi đã nhận đủ số tiền
bán đất số thửa 113.774,1m
2
”. Đồng thời, ông V, M đã nộp vào Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Rịa số tiền 882.005.417 đồng để tất toán khoản nợ
cho Ngân hàng N chi nhánh tỉnh B và nhận bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của thửa đất số 15 giao cho H. Tuy nhiên, do diện tích thửa đất quá
hạn mức nên các bên không thực hiện việc công chứng sang tên quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 15, thỏa thuận hợp đồng ủy quyền toàn bộ
cho bà H được sử dụng, định đoạt thửa đất trên. Đồng thời, do bà H chưa có nhu
cầu sử dụng đất nên H giấy đồng ý giao cho ông V, M đứng tên giùm
trên giấy chứng nhận quyền sdụng đất được tiếp tục canh tác sdụng đất
đến khi nào H chuyển nhượng cho người khác sẽ thưởng thêm cho ông V,
M số tiền 3,5 tỷ đồng. Do vậy, bà H cho rằng mặc dù bà chưa đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng giao dịch chuyển nhượng giữa và vợ
chồng ông V, bà M đã thực hiện xong.
Còn bị đơn ông V, M thì cho rằng H chưa thanh toán tiền chuyển
nhượng thửa đất 15 nên không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất trên.
Xét lời khai các chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp thì thấy: Lời
khai của nguyên đơn H về việc đã thanh toán tiền cho bị đơn phù hợp với
chứng cứ bà H cung cấp tờ giấy viết tay đề ngày 30-8-2013 (Bl 246) nội
dung: Tôi đã nhận đủ số tiền bán đất số thửa 113.774,1m
2
”. Dòng chữ này
được ghi ngay dưới dòng chữ do bà H viết nội dung: Nguyễn Thị Thu H đã
giao đủ số tiền bán đất nêu trên diện tích tổng cộng là 113.774,1m
2
(đất
NTTS)”. Phía dưới các dòng chữ trên chữ ghi họ tên của Trịnh Thị M,
ông Phan Văn V người làm chứng Nguyễn Văn B1. cấp thẩm, ban đầu
ông V, bà M thừa nhận có ký vào Tờ giấy trên nhưng không nhớ ký khi nào và ở
đâu (Bl 43), sau đó ông thay đổi lời khai không thừa nhận chữ trong tờ
giấy trên nhưng cũng không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết (Bl 284). Tại
cấp phúc thẩm, ông V, M vẫn không thừa nhận chữ ký, chữ viết tại Giấy viết
tay ngày 30-8-2013 và có yêu cầu giám định. Tại Kết luận giám định số
3218/25/KL-KTHS ngày 22-8-2025 của Phòng K - ng an Thành phố H đã kết
luận chữ ký, chữ viết ghi tên Phan Văn V, Trịnh Thị M tại Tờ giấy giao nhận
14
tiền nêu trên với chữ ký, chữ viết do ông V, M tại các mẫu so sánh do
cùng một người ký ra; chữ viết nội dung Tôi đã nhận đủ số tiền bán đất số thửa
113.774,1m
2
trên mẫu cần giám định hiệu A2 so với chữ viết Chúng tôi đã
đọc kỹ đồng ýtại mục “Bên A” trên mẫu so sánh hiệu M3, M4 do cùng
một người viết ra (Bl 411-412). Bị đơn mặc không đồng ý với kết luận giám
định trên yêu cầu giám định lại nhưng sau đó không nộp tiền tạm ứng chi
phí giám định lại nên Tòa án không có căn cứ trưng cầu giám định lại.
Như vậy, sở để xác định ông V, M đã vào tờ giấy đề ngày 30-
8-2013 xác nhận đã nhận đủ số tiền bán đất diện tích 113.774,1m
2
của thửa đất
số 15. Việc bị đơn cho rằng nội dung xác nhận tại tờ giấy trên xác nhận đã
nhận đủ tiền bán thửa đất 361 200.000.000 đồng chứ không phải nhận tiền
bán đất của thửa đất số 15 là hoàn toàn không có căn cứ, vì trong tờ giấy trên đã
ghi nhận đủ tiền bán đất 113.774,1m
2
, trong khi thửa 361 chỉ diện tích
2.522,8m
2
.
Lời khai chứng cứ trên cũng được người làm chứng ông Nguyễn Văn
B1 xác nhận ngày 30-8-2013, ông đến Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Rịa ông người môi giới chuyển nhượng đất giữa ông V, M với
H. Trên xe H đậu trước cổng quan Thi hành án, ông chứng kiến H
giao một bao tải tiền cho ông V, Minh Đ1, sau khi nhận tiền xong, ông V,
M xác nhận đã nhận đtiền nhờ ông làm chứng nên ông vào tờ
giấy giao nhận tiền (Bl 46, 285, 288 tại phiên toà phúc thẩm ngày 22-5-
2026). Lời khai trên cũng phù hợp sự thật khách quan là H đang là người giữ
bản chính Giấy chứng nhận quyền sdụng đất của thửa đất số 15, theo thỏa
thuận tại Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24-01-2013 Bản thoả thuận ngày
28-01-2013 thì sau khi bên bà H trả đủ tiền thì bên ông V, M cũng phải giao
bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H. Việc ông V, M tự
nguyện giao bản chính giấy chứng nhận quyền sdụng đất của thửa đất số 15
cho H chứng tỏ họ đã nhận đủ tiền chuyển nhượng đất tbà H. Bị đơn mặc
thừa nhận đã giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 15
cho H nhưng lại cho rằng chỉ cho H mượn để đi tách thửa, H không
thừa nhận bị đơn không chứng cứ chứng minh nên lời khai này không
được chấp nhận.
Mặt khác, trong cùng ngày 30-8-2013 ông V, bà M viết Bản cam kết với
nội dung: “Bà H có nhờ ông V và bà M đứng tên hộ thửa đất số 15, tờ bản đồ số
28, toạ lạc tại phường K, thị xã B, diện tích là 113.774,1m
2
. Ông V và bà M cam
kết không được tự ý chuyển nhượng, cho tặng, cầm cố, thế chấp nếu chưa s
đồng ý của H. công trông coi mảnh đất nêu trên nên khi chuyển
nhượng, bà H sẽ thưởng cho ông V và bà M số tiền không quá 4 tỷ đồng. Sau khi
ông V và bà M nhận đủ số tiền 3.500.000.000 đồng của H, ông V và bà M hết
trách nhiệm mảnh đất nêu trên” (Bl 244). Mặc dù ông V, bà M cũng không thừa
nhận chữ của mình tại Giấy cam kết này và cho rằng không biết Tờ giấy cam
kết này được lập khi nào, nhưng kết quả giám định chký, chviết của Phòng
K Công an tỉnh B đã khẳng định chữ ký, chữ viết trong Bản cam kết ngày 30-8-
2019 nêu trên của ông V, M (Bl 411-412). vậy, đủ căn cứ kết luận bị
đơn đã ký vào Giấy cam kết nêu trên thể hiện ông bà chỉ là người đứng tên giùm
thửa đất số 15 cho H không được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp cho
15
người khác. Điều này cũng thể hiện bị đơn sau khi nhận đủ tiền chuyển nhượng
đã thừa nhận quyền sdụng đất thửa 15 cho nguyên đơn đồng ý đứng tên
giùm, trông coi giùm thửa đất này cho nguyên đơn. Sau đó, đến ngày 03-9-2013
ông V, M hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C1, tỉnh Rịa Vũng Tàu
ủy quyền cho H được toàn quyền xóa thế chấp, quản lý, sử dụng và định đoạt
thửa đất nêu trên (Bl 136-137).
Xét lời khai chứng cứ của bị đơn về việc nguyên đơn chưa thanh toán
khoản tiền chuyển nhượng thửa đất số 15 thì thấy:
Tại cấp thẩm, bị đơn cho rằng chưa nhận bất cứ khoản tiền nào từ H,
số tiền nNgân hàng do vợ chồng ông V tự thanh toán bằng tiền của bị đơn
tại Ngân hàng chứ không phải thanh toán tại quan thi hành án. Ngày 27-4-
2020, tại Công an tỉnh B, ông V lại khai nhận số tiền nợ ngân hàng do bà H
thanh toán. Tại phiên tòa thẩm, người đại diện của ông V M lại cho rằng
số tiền thanh toán tại cơ quan thi hành án là ông V thanh toán chứ không phải bà
H. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông V, bà M thừa nhận nhận số tiền hơn
800.000.000 đồng của H để trả nNgân hàng tại Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Bà Rịa. Lời khai trên của M, ông V bất nhất, lời khai trước mâu
thuẫn với lời khai sau và không phù hợp với diễn biến thực tế của sự việc.
Tại cấp phúc thẩm, bị đơn cung cấp thêm 02 chứng cứ mới là Hợp đồng
vay tiền ngày 30-8-2013 (Bl 348-349) Giấy hẹn ngày 29-10-2013 (Bl 350).
Đây những chứng cứ bị đơn hoàn toàn không để cập đến trong quá trình giải
quyết cấp sơ thẩm. Quá trình hỏi và đối chất tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên
đơn bà H thừa nhận vào Giấy hẹn và Hợp đồng vay tiền nêu trên. Theo
nguyên đơn, khoản tiền 1.800.000.000 đồng được nêu trong hợp đồng vay tiền
và trong Giấy hẹn trên thực chất là một và đây là khoản tiền H hứa sẽ trả cho
ông V, M do công đứng tên giùm thửa đất số 15 trông coi, quản
giùm thửa đất cho H, chứ không phải khoản tiền H còn thiếu khi nhận
chuyển nhượng đất của ông V, M. Theo Giấy cam kết ngày 30-8-2013 thì
khoản tiền H hứa sẽ trả công cho M, ông V 3,5 t đồng H nghĩ
thời gian đứng tên giùm sẽ lâu, nhưng do sau đó bà H đã tìm được người chuyển
nhượng lại thửa đất trên nên hai bên đã thống nhất giảm số tiền công xuống 1,8
tỷ đồng hai bên đã lập Hợp đồng vay tiền ngày 30-8-2013 tại phòng công
chứng để đảm bảo cho việc thanh toán khoản tiền này, vì bị đơn sợ H sẽ thất
hứa nên yêu cầu phải hợp đồng vay tiền công chứng mới đảm bảo. Tuy
nhiên, sau khi hết thời hạn 30 ngày theo Hợp đồng vay tiền, do H chưa trả
được khoản tiền này nên V, ông M mới yêu cầu phải viết Giấy hẹn ngày
29-10-2013 nêu trên.
Xét lời khai trên của nguyên đơn bà H về 02 chứng cứ bị đơn mới cung cấp
ở cấp phúc thẩm là có căn cứ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được
phân tích trên như Giấy giao nhận tiền bản cam kết ngày 30-8-2013, phù
hợp diễn biến sự việc gích về thời gian của các sự kiện pháp nên căn
cứ để chấp nhận lời khai này.
Còn bị đơn cho rằng khoản tiền 1,8 tỷ đồng trên tiền chuyển nhượng
thửa đất s15 bà H n thiếu bị đơn nên phải viết Hợp đồng vay tiền ngày
30-8-2013 sau đó Giấy hẹn ngày 29-10-2013. Xét lời khai này của bđơn
16
là không căn cứ mâu thuẫn với các tài liệu, chứng cứ khác do chính bị đơn
cung cấp, cụ thể: Ngày 30-8-2013 bị đơn đã giấy xác nhận đã nhận đủ tiền
chuyển nhượng thửa đất số 15 (Bl 246), thì không do cùng ngày hôm
đó, hai bên lại hợp đồng vay tiền để ghi nhận H còn thiếu tiền nhận
chuyển nhượng đất 1,8 tỷ đồng sau đó đến ngày 29-10-2013 lại giấy
hẹn trả nợ đối với khoản tiền này. Mặt khác, nếu V, ông M chỉ mới nhận hơn
800.000.000 đồng từ H để trả nợ Ngân hàng thì số tiền bà H còn thiếu phải là
khoảng hơn 2,9 tđồng chứ không thể 1,8 tỷ đồng như trong hợp đồng vay
tiền ngày 30-8-2013 Giấy hẹn ngày 29-10-2013. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị
đơn khai hai bên thỏa thuận giảm giá chuyển nhượng thửa đất số 15 từ 3,8 tỷ
đồng xuống còn 2,8 tỷ đồng nhưng nguyên đơn không thừa nhận, bị đơn không
chứng cứ chứng minh. Do vậy, lời khai của bị đơn cho rằng khoản tiền 1,8 tỷ
đồng ghi trong Hợp đồng vay tiền ngày 30-8-2013 trong Giấy hẹn ngày 29-
10-2013 tiền H còn thiếu khi nhận chuyển nhượng thửa đất số 15 hoàn
toàn không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Đối với những người làm chứng là ông Phan Văn T2 và bà Phan Thị Hải Y
con ruột của ông V, M chữ tại Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24-
01-2013, Bản thỏa thuận ngày 28-01-2013, bản cam kết ngày 30-8-2013, quá
trình tham gia tố tụng cấp thẩm phúc thẩm, bà Y không thừa nhận chữ
của mình tại các văn bản trên, nhưng kết luận giám định cho thấy ch
trong các văn bản trên là của Y. Do vậy, càng cho thấy tính khách quan của
các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp.
Từ những phân ch căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy lời khai
của nguyên đơn và các chứng cứ kèm theo là phù hợp với nhau. Do vậy, đủ
sđể khẳng định ngày 03-9-2013 khi hai bên hợp đồng ủy quyền tại Văn
phòng công chứng thời điểm H đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng
thửa đất số 15 cho ông V, M. Tuy nhiên, tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AD 826630 cấp ngày 05-01-2006 diện tích 53.774,1m
2
đất ngoài hạn
mức, theo quy định của pháp luật không thể ký hợp đồng chuyển nhượng đối với
toàn bộ diện tích 113.774,1m
2
đất hai bên đã thỏa thuận chuyển nhượng.
thế, hai bên phải thực hiện hợp đồng ủy quyền để hợp thức hóa quan hệ
chuyển nhượng quyền sdụng đất. Do vậy, Hợp đồng ủy quyền lập ngày 03-9-
2013 giao dịch dân sự được các bên xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu
cho giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Căn cứ Điều 129 Bộ luật Dân
sự năm 2005 thì giao dịch giả tạo Hợp đồng ủy quyền ngày 03-9-2013 bị
hiệu, còn giao dịch bị che giấu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông V, bà M và bà H vẫn hiệu lực pháp luật. Đồng thời, Hợp đồng ủy
quyền ngày 03-9-2013 cũng đã hết hiệu lực nên không xem xét.
Như vậy, sở để khẳng định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất lập ngày 24-01-2013 (được nhắc lại tại Bản thoả thuận ngày 28-01-2013) đối
với diện tích 113.774,1m
2
đất tại thửa số 15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố
B giữa vợ chồng ông V H hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng. Bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện
xong nghĩa vụ thanh toán tiền theo thỏa thuận; bên chuyển nhượng phải tiếp tục
thực hiện nghĩa vụ bàn giao đất cho bên nhận chuyển nhượng quản lý, sử dụng.
Nên nguyên đơn yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng trên là hoàn toàn
17
căn cứ, cấp thẩm chấp nhận yêu cầu này đúng quy định pháp luật nên
cần giữ nguyên. Kháng cáo của bị đơn vviệc không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[2.1.2] Xét yêu cầu phản tố của bđơn về việc tuyên hiệu Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-2013 giữa nguyên đơn và bị đơn:
Ntrên đã phân tích, do Hội đồng xét xử căn cứ chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn nên không căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của
bị đơn. Bị đơn cho rằng thời điểm hợp đồng ngày 24-01-2013 thửa đất chưa
được giải chấp, tuy nhiên sau đó các bên đã giải chấp thực hiện thủ tục ủy
quyền theo đúng quy định của pháp luật, nên đây không phải căn cứ để tuyên
vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-2013.
[2.1.3] Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 826630 cấp ngày
05-01-2006 ghi nhận diện tích đất của thửa 15 113.774,1m
2
, trong đó
60.000m
2
đất trong hạn mức và 53.774,1m
2
đất ngoài hạn mức. Căn cứ quy định
tại khoản 3 Điều 71 Luật Đất đai năm 2003, Điều 210 Luật Đất đai năm 2013 và
Điều 2 Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 21-6-2007 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp là
không quá 6 ha (60.000m
2
), đối với diện tích vượt hạn mức trên thì nhân, hộ
gia đình được tiếp tục sử dụng phải liên hệ với quan nhà nước thẩm
quyền để thực hiện việc thuê đất. Do vậy, xét thấy cần công nhận quyền sử dụng
diện tích 60.000m
2
thuộc thửa đất số 15 cho vợ chồng H, ông T1; đồng thời,
bà H và ông T1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực
hiện việc thuê đất đối với diện tích đất vượt hạn mức theo quy định.
[2.1.4] Về tài sản gắn liền trên phần đất tranh chấp: Căn cứ Chứng thư
thẩm định giá ngày 21-02-2022 của Công ty Cổ phần T5 thì trên thửa đất số 15
những tài sản sau: Nhà tạm 1 diện tích 24m
2
cấu trúc mái lợp tôn fibro xi
măng, gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, 02 cửa gỗ bọc tôn, vách tôn mạ kẽm fibro
xi măng + gỗ, nền đất; nhà tạm 2 diện tích 23,5m
2
cấu trúc mái lợp tôn fibro xi
măng, gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, vách tôn mạ kẽm fibro xi măng + gỗ, nền
đất; 02 cống xả dài 20m, thành tông cốt thép dày 15cm, thành giữa tông
cốt thép dày 15cm, đáy đổ tông cốt thép dày 20cm, tấm đan tông cốt tp
dày 8cm; 05 cái kiệt tháo tôm dài 12m, tông cốt thép rộng 1m cao 1m. Tổng
giá trị tài sản 233.442.500 đồng. Nguyên đơn bị đơn đều xác nhận toán bộ
tài sản trên do ông V, bà M xây dựng. Xét đây các tài sản gắn liền trên đất,
nếu buộc ông V, M di dời toàn bộ số tài sản trên ra khỏi thửa đất số 15 s
không đảm bảo giá trị sử dụng của tài sản, gây thiệt hại cho bị đơn. Tại phiên tòa
phúc thẩm, H ông T1 cũng đồng ý nhận những tài sản trên thanh toán
giá trị cho bị đơn. vậy, Hội đồng xét xử thống nhất công nhận quyền sở hữu
các tài sản này cho H, ông T1 buộc H, ông T1 thanh toán giá trị cho bị
đơn theo giá đã được thẩm định giá.
[3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy Bản cam kết ngày 30-8-
2013:
Nguyên đơn bà H yêu cầu hủy bản cam kết ngày 30-8-2013 về việc nhờ
ông V, M đứng tên hộ diện tích 113.774,1m
2
đất tại thửa đất số 15 hứa
thưởng số tiền 3,5 tỷ đồng. Tại cấp thẩm, bị đơn cũng đồng ý hủy bản cam
18
kết nêu trên. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn vẫn khẳng định giấy cam kết này không
thật, đồng ý hủy Giấy cam kết này và không yêu cầu khác. Do vậy, cấp
sơ thẩm tuyên hủy Giấy cam kết trên là phù hợp quy định của pháp luật. Đối với
số tiền 1,8 tđồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 30-8-2013 Giấy hẹn ngày
29-10-2013, bị đơn xác nhận không yêu cầu Toà án giải quyết khoản tiền nếu
trên trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu các đương sự
tranh chấp thì có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[4] Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy không căn cứ để
chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc sửa bản án thẩm
theo hướng bác các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn. Hội đồng xét xử thống nhất chỉ sửa một phần bản án về việc thanh
toán giá trị tài sản gắn liền trên đất như đã phân tích trên, giữ nguyên các quyết
định còn lại của bản án sơ thẩm.
[5] Đối với đề nghị hủy toàn bộ bản án thẩm, giao hồ vụ án cho cấp
sơ thẩm để giải quyết lại của đại diện Viện kiểm sát:
Đối với các tài liệu, chứng cứ do bị đơn mới cung cấp tại cấp phúc thẩm:
Đây là các chứng cứ bị đơn không xuất trình cấp thẩm nên cấp thẩm
không xem xét, đánh giá. Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn mới cung cấp các
chứng cứ này. Hội đồng xét xử đã hỏi, đối chất làm các chứng cứ này các
tài liệu, chứng cứ khác trong hồ vụ án không phát sinh yêu cầu mới liên
quan đến các chứng cứ này.
Đối với việc không đưa ông Phan Tuấn P, Nguyễn Thị T3 tham gia tố
tụng: Tại cấp phúc thẩm, ông P, bà T3 có văn bản yêu cầu được tham gia tố tụng
có đầu tư, sửa chữa nhà cửa và tài sản trên đất tranh chấp. Tuy nhiên, ông T4,
T3 chỉ lời khai, không chứng cứ chứng minh việc đầu tư, đóng
góp vào tài sản trên đất tranh chấp. Đồng thời, luật sư của bị đơn cũng cung cấp
cho Toà án Biên bản làm việc ngày 23-5-2026 ghi nhận ý kiến của ông P, T3
xác nhận ông chỉ trông coi, hỗ trợ cha mẹ ông V, M trong việc sử dụng
thửa đất số 15, không có đóng góp hay đầu tư gì trên đất và không có bất cứ yêu
cầu trong vụ án này, nên ông rút toàn bộ yêu cầu liên quan đến việc tham
gia tố tụng trong vụ án này (Bl 561). Ông P, bà T3 xác nhận lời khai tại biên bản
làm việc trên đúng của ông bà. thế, không cần thiết đưa ông P, T3 vào
làm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
vậy, không căn cứ để hủy bản án thẩm nđề nghị của đại diện
Viện kiểm sát.
[6] Về chi phí sao lục hồ sơ, đo đạc, định giá tài sản: Tổng chi phí định giá,
đo đạc sao lục tài liệu chứng cứ 10.000.000 đồng, nguyên đơn H tự
nguyện nộp toàn bộ và đã np xong.
Tổng chi phí thẩm định giá 100.000.000 đồng, bị đơn ông V M
phải chịu và đã nộp xong.
Chi phí giám định tại cấp phúc thẩm là 3.750.000 đồng, bị đơn phải chịu và
đã nộp xong.
[7] V án phí:
19
[7.1] Án phí sơ thẩm: Bị đơn ông Phan Văn V và bà Trịnh Thị M phải chịu
án phí dân sự thẩm không giá ngạch do yêu cầu của nguyên đơn được
chấp nhận; phải chịu án phí không giá ngạch do yêu cầu phản tố không được
chấp nhận. Tuy nhiên, do các bị đơn người cao tuổi nên được miễn án phí
theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Nguyễn Thị Thu H, ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí trên số tiền
phải thanh toán cho bị đơn, được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng tạm ứng phí
đã nộp, theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000730 ngày 23-
6-2020 số 0005147 ngày 02-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
[7.2] Án phí phúc thẩm: Bị đơn ông V, M được miễn do người cao
tuổi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn V,
Trịnh Thị M, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều
39, Điều 235, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 71,
Điều 106 Luật Đất đai năm 2003; Điều 210 Luật Đất đai năm 2013; Điều 122,
Điều 129, Điều 697, Điều 698, Điều 699, Điều 702 Bộ luật Dân sự 2005; Điều
129 B luật Dân sự 2015; Án lệ số 55/2022/AL; Điều 2 Nghị quyết số
1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 21-6-2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thu H về việc tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông Phan Văn V,
Trịnh Thị M.
1.1. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-
2013 giữa ông Phan Văn V, Trịnh Thị M Nguyễn Thị Thu H hiệu
lực pháp luật.
1.2. Nguyễn Thị Thu H ông Nguyễn Văn T1 được quyền sử dụng
diện tích 60.000m
2
đất nuôi trồng thủy sản trong hạn mức thuộc thửa đất số 15,
tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh), được Ủy ban nhân dân thị xã B cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AD 826630 ngày 05-01-2006 đứng tên ông Phan Văn V.
Nguyễn Thị Thu Hông Nguyễn Văn T1 được quyền tiếp tục quản lý,
sử dụng diện tích 53.774,1m
2
đất nuôi trồng thủy sản ngoài hạn mức thuộc thửa
đất số 15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay là
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), đồng thời ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn
20
Thị Thu H được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện
việc thuê đất đối với diện tích đất ngoài hạn mức này theo quy định của pháp
luật đất đai.
(Vị trí diện tích đất nêu trên được xác định theo Trích lục bản đồ địa
chính ngày 27-01-2021, kèm theo bản án).
Nguyễn Thị Thu H ông Nguyễn Văn T1 quyền, nghĩa vụ liên hệ
với quan nhà nước thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật.
1.3. Buộc ông Phan Văn V, bà Trịnh Thị M trách nhiệm thu hoạch thủy,
hải sản hiện trên đất để giao trả diện tích đất 113.774,1m
2
tại thửa đất số 15,
tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh) cho bà Nguyễn Thị Thu Hông Nguyễn Văn T1.
1.4. Nguyễn Thị Thu H ông Nguyễn Văn T1 được quyền sở hữu các
tài sản gắn liền trên thửa đất số 15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B (nay
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) bao gồm: Nhà tạm 1 diện tích 24m
2
cấu
trúc mái lợp tôn fibro xi măng, xà gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, 02 cửa gỗ bọc tôn,
vách tôn mạ kẽm fibro xi măng + gỗ, nền đất; nhà tạm 2 diện tích 23,5m
2
cấu
trúc mái lợp tôn fibro xi măng, gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, vách tôn mạ kẽm
fibro xi măng + gỗ, nền đất; 02 cống xả dài 20m, thành tông cốt thép dày
15cm, thành giữa bê tông cốt thép dày 15cm, đáy đổ bê tông cốt thép dày 20cm,
tấm đan tông cốt thép dày 8cm; 05 cái kiệt tháo tôm dài 12m, tông cốt
thép rộng 1m, cao 1m.
1.5. Nguyễn Thị Thu H ông Nguyễn Văn T1 nghĩa vụ thanh toán
cho ông Phan Văn V, Trịnh Thị M giá trị các tài sản gắn liền trên thửa đất số
15, tờ bản đồ số 28 phường K, thành phố B (nay phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh) nêu trên với tổng số tiền 233.442.500 (hai trăm ba mươi ba triệu,
bốn trăm bốn ơi hai ngàn, năm trăm) đồng (theo Chứng thu thẩm định giá số
12/2022/TĐG-CT ngày 21-02-2022 của Công ty cổ phần T5.
K t ngày đơn yêu cu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phi thi hành án còn phi chu khon tin lãi ca s
tin còn phi thi hành án theo mc lãi suất quy định ti Điều 357, Điều 468 ca
B lut Dân s năm 2015.
2. Hủy Bản cam kết ngày 30-8-2013 giữa Nguyễn Thị Thu H ông
Phan Văn V, bà Trịnh Thị M về việc nhờ ông V, bà M đứng tên hộ diện tích
113.774,1m
2
đất tại thửa đất số 15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B (nay
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) và hứa thưởng số tiền 3,5 tỷ đồng.
3. Dành quyền khởi kiện vụ án dân skhác khi yêu cầu cho ông Phan
Văn V, Trịnh Thị M để yêu cầu Tòa án giải quyết đối với khoản tiền
1.800.000.000 (một tỷ, tám trăm triệu( đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 30-8-
2013 và Giấy hẹn ngày 29-10-2013.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bđơn ông Phan Văn V
Trịnh Thị M vviệc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
24-01-2013 đối với diện tích 113.774,1m
2
đất thuộc thửa đất số 15, tờ bản đồ 28
21
phường K, thành phố B hiệu và yêu cầu H hoàn trả bản chính Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 826630 do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp
ngày 05-01-2006 đứng tên ông Phan Văn V.
5. Về chi phí tố tụng:
Tổng chi phí đo đạc, định giá, sao lục tài liệu chứng cứ 10.000.000
(mười triệu) đồng, nguyên đơn bà H tự nguyện nộp toàn bộ và đã nộp xong.
Tổng chi phí thẩm định giá 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Bị đơn
ông V, bà M phải nộp toàn bộ và đã nộp xong.
Chi phí giám định tại cấp phúc thẩm là 3.750.000 (ba triệu, bảy trăm m
mươi ngàn) đồng, bị đơn ông V và bà M phải chịu và đã nộp xong.
6. Về án phí:
6.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Thị Thu H ông Nguyễn Văn T1 phải nộp 11.672.125 đồng
án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền 600.000 (sáu trăm
ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0000730 ngày
23-6-2020 và số 0005147 ngày 02-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Rịa (nay Thi hành án dân sự Thành phố H). Nguyễn Thị Thu H
ông Nguyễn Văn T1 còn phải nộp 11.072.125 đồng án phí dân sự sơ thẩm, trong
đó bà H và ông T1 mỗi người phải nộp 5.536.062 (năm triệu, năm trăm ba mươi
sáu ngàn, không trăm sáu mươi hai) đồng.
Ông Phan Văn V Trịnh Thị M được miễn toàn bộ án phí dân sự
thẩm do là người cao tuổi.
6.2. Án phí phúc thẩm: Ông Phan Văn V Trịnh Thị M được miễn án
phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
7. Bản án dân sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26-
5-2026).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X
Trương Văn Tâm Bùi Thị Thương
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Cao Minh V
22
Nơi nhận:
- VKSND Tp Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 12 - Tp. HCM;
- VKSND khu vực 12 - Tp. HCM;
- THADS Tp. HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Tòa Dân sự, Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Minh Vỹ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1065/2026/DS-PT Bản án số 1065/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1065/2026/DS-PT Bản án số 1065/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất